Linh Tinh Phố Rùm Bài Viết Gia Chánh Lời Tình K Truyện Chọn Lọc Thơ Tình
Trở lại trang đầu
Đi Vào Phố Hồ Sơ Cá Nhân Thư Riêng (Private Message) Các Bài Đăng Từ Lần Cuối Bạn Vào Các Bài Đăng Ngày Hôm Nay Lịch Sinh Hoạt Ghi Danh Trở Thành Thành Viên của Phố Rùm Những Câu Hỏi Thường Gặp Danh Sách Các Thành Viên
Phố này chỉ để xem lại bài cũ, không còn đăng bài mới lên được. Xin mời các bạn qua thăm Phố Rùm mới .
Phòng ẢNH

Nguyễn viết Chung và tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ

 
Xem những đề mục liên hệ: (trong diễn đàn này | trong mọi diễn đàn)

Tham gia dưới tên: Guest
  In Ra
Các Diễn Đàn >> [Đời Sống - Xã Hội] >> Tâm Tình >> Nguyễn viết Chung và tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ Trang: <<   < phần trước  70 71 72 73 [74]
Tên login:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
Nguyễn viết Chung và tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ - 10/10/2009 3:11:23 PM   
coLaido


Bài: 945

NGUYỄN VIẾT CHUNG  VÀ TIẾNG GỌI CỦA CHÂN THIỆN MỸ


TRẦN DUY NHIÊN
 
Một con người lặng lẽ.
 
Tháng 04 năm 2002, linh mục Nguyễn Ngọc Sơn phối hợp với Viện Y Học Dân Tộc Thành Phố **** tổ chức một khóa huấn luyện cho những người thiện chí xung phong chăm sóc người nghiện ma túy. Tôi để ý đến một người trung niên khắc khổ, lặng lẽ theo dõi chăm chú và cặm cụi ghi chép những bài học về lý thuyết và chữa trị theo phương pháp cổ truyền do các bác sĩ đông y của Viện Y Học giảng dạy. Tôi hỏi một nữ tu trong ban tổ chức xem người ấy là ai. Câu trả lời làm tôi ngỡ ngàng: Đó là bác sĩ tây y Nguyễn Viết Chung, một chuyên viên về ký sinh trùng và da liễu.
 
Hai tháng sau, cũng tại Viện Y Học Dân Tộc, cha Sơn tổ chức một khóa cai nghiện mang tên là Khóa Phục Sinh. Các bác sĩ của Viện phụ trách phần chữa trị thể lý. Các linh mục, tu sĩ và một vài giáo dân đến giúp phần củng cố tâm linh. Một hôm, tôi đến dự giờ cầu nguyện buổi tối do một nữ giáo dân hướng dẫn. Sau phần trình bày lý thuyết, vị ấy yêu cầu những ai thấy cần được đặt tay cầu nguyện thì hãy bước lên. Bác sĩ Chung cũng là một người theo giúp khóa ấy. Ông bước đến đầu tiên, quì xuống trước mặt người giáo dân kia, xin đặt tay cầu nguyện cho mình. Cử chỉ khiêm nhường này làm cho nữ tu phụ trách nhóm cai nghiện cảm động nói với tôi: Thầy Chung là phó tế sắp được thụ phong trong một ngày gần đây.
 
Cuối năm 2002, tôi được dòng Vinh Sơn mời đến dạy tiếng Pháp cho một số thầy chuẩn bị đi học thần học ở nước ngoài. Tại đây tôi gặp lại thầy phó tế bác sĩ Chung. Thế rồi qua những chia sẻ khiêm tốn nhưng đầy chân tình, tôi biết được chiều kích cao vời của một con người mờ nhạt, thậm chí điên rồ, nếu ta nhìn với cặp mắt của xã hội ngày nay. Sau đây là hành trình của một tâm hồn qua những chặng đường hiếm thấy.
 
Hoàn cảnh và ước mơ.
 
Khi nói về cuộc di cư năm 1954, người ta nghĩ đến gần một triệu tín hữu công giáo đành rời quê cha đất tổ để đi vào Nam với hai bàn tay trắng hầu tìm một nơi có thể tự do biểu lộ đức tin của mình. Thanh niên Nguyễn Viết Chương vào Nam không vì lý do ấy. Anh không phải là Kitô hữu, và tôn giáo không bao giờ là một vấn đề đối với anh. Như mọi người thuộc giai cấp nông dân thất học và nghèo xơ nghèo xác trong làng mình, anh Chương chỉ có một cái đạo duy nhất, ấy là ‘đạo làm người’ theo truyền thống Việt Nam. Nếu ai hỏi anh theo đạo nào, anh bảo rằng anh theo đạo ông bà, mà không thắc mắc xem ‘đạo ông bà’ có nghĩa là gì một cách cụ thể: đấy có thể là đạo mà ông bà đã theo và truyền lại, hoặc đấy cũng có thể là đạo thờ cúng ông bà tổ tiên. Năm 26 tuổi, nhân biến cố 1954, anh Chương rời thôn Ngô Xá, huyện Ý Yên, Tỉnh Nam Định, dẫn vợ con đi theo bà cô vào Nam với hy vọng tìm một con đường thoát ra cảnh nghèo túng, cái túng thiếu cơ cực khiến cho chị Chương phải mất đi đứa con thứ hai và thứ ba khi chúng mới chào đời. Anh cảm thấy hài lòng khi được nhận làm một bình nhì trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, dù bị chuyển lên vùng cao nguyên để đóng quân tại Trạm Hành, nơi vòng đai Dalat, cách trung tâm thị trấn 12 cây số. Năm 1955, người con thứ tư ra đời tại đây. Anh đặt cho con một cái tên gần giống như tên mình: Nguyễn Viết Chung.
 
Chung không còn nhớ gì về miền núi nơi mình sinh ra, vì năm 1960 cha cậu đã chuyển về Saigon để phục vụ trong một đơn vị không tác chiến. Khi vừa có trí khôn, cậu bé Chung phải đối diện ngay với thảm cảnh của một gia đình nghèo. Đồng lương của một quân nhân cấp hạ sĩ chỉ vừa đủ cho hai vợ chồng và bốn đứa con sống lây lất qua ngày chứ không thể nào có một cuộc sống cho ra sống. Bà Chương là một người phụ nữ bình dân mù chữ, hằng ngày chỉ biết thắp nhang lên bàn thờ van vái ơn trên phù hộ cho chồng cho con. Ông Chương là một người sống rất đúng với đạo đức truyền thống và tôn trọng các phẩm chất trung nghĩa lễ trí tín. Tuy nhiên cái nghèo đã khiến ông trở nên một người cộc cằn, vì thế không ít lần ông đã trút những trận lôi đình xuống vợ con mình. Hình ảnh về ‘mái ấm gia đình’ còn lưu lại trong ký ức tuổi thơ của Chung là nỗi sợ đến khiếp đảm khi phải đứng trong xó nhà chứng kiến cảnh mẹ mình trở thành nạn nhân cho các cơn thịnh nộ của cha. Từ thuở còn là học sinh tiểu học, Chung mơ hồ nghĩ rằng mình sẽ không lập gia đình, vì gia đình đối với cậu là một cái gì khủng khiếp. Cậu sợ gia đình, sợ phải tạo thêm một gia đình bất hạnh.
 
Sống trong hoàn cảnh này, trí óc non nớt của cậu nảy sinh một ước mơ kèm theo một quyết tâm: phải  học cho thật giỏi để cứu gia đình thoát khỏi cảnh nghèo. Thế là cậu cắm cúi học tập trong những trường công lập hạng 2 ở Saigon. Niên khóa 1970-1971, cậu là một học sinh xuất sắc lớp đệ tứ trường Trung Học Cộng Đồng Quận 6. Sau khi thi đậu trung học đệ nhất cấp, cậu quyết định học ngay lớp đệ nhị mà không theo học đệ tam. Cậu phải làm học bạ giả và ra trường tư mà học. Tuy nhảy lớp nhưng Chung vẫn học giỏi ở lớp đệ nhị và đệ nhất. Cậu đậu tú tài toàn phần năm 1973.
 
Khi nhìn lại quá khứ, tôi thấy chương trình của Chúa thật huyền diệu. Nhờ học nhảy lớp đệ tam mà tôi không bị nhập ngũ theo lệnh tổng động viên 1973, sau ‘Mùa Hè Đỏ Lửa’. Nhờ những cơn thịnh nộ của cha mà đến năm 39 tuổi tôi vẫn còn độc thân để tự do đáp lại tiếng gọi triệt để của Thiên Chúa”.
 
Tiếng gọi của cái Mỹ.

Với bằng tú tài trong tay, con đường tương lai bắt đầu hé mở cho cậu thanh niên 18 tuổi Nguyễn Viết Chung. Một ngày mùa hè năm 1973, cậu tình cờ đọc bản tin trên tờ Chính Luận: một giám mục người Pháp vừa qua đời tại trại cùi Di Linh. Vị giám mục ấy là Jean Cassaigne, mà người công giáo gọi với cái tên quen thuộc là Đức Cha Sanh. Ở trang trong, tờ Chính Luận thuật lại vắn gọn cuộc đời của vị giám mục tuyệt vời ấy. Từ thập niên 40, khi được gửi sang Việt Nam, linh mục trẻ Cassaigne chọn một vùng truyền giáo miền núi của dân tộc ít người, khu Djiring hẻo lánh (hiện nay là thị trấn Di Linh) cách xa trung tâm Dalat 80 cây số. Qua những lần viếng thăm mục vụ, cha nhận thấy rằng những ‘người cùi’ thường bị loại ra khỏi làng để sống dở chết dở trong những cánh rừng lân cận, vì thế cha đã thành lập một ngôi làng cho họ và mời các Nữ Tử Bác Ái lên chăm sóc. Làng phung Kala ở Djiring suốt đời sẽ ở trong trái tim cha. Khi giáo phận Việt Nam tách khỏi Cao Miên, cha Cassaigne được tấn phong giám mục tiên khởi địa phận Sàigòn. Năm 1960, khi Hàng Giáo Phẩm Việt Nam được thành lập, ngài trao tòa giám mục Sàigòn lại cho Đức Cha Simon Hòa Hiền rồi trở về sống với anh em của mình là những người phung hủi ở làng Kala. Ngài yêu thương người phung đến độ chia sẻ mọi sự với họ, và để yêu thương đến cùng, ngài chia sẻ cả bệnh tật của họ để chết dần chết mòn trong thân thể đớn đau của một người đã nhiễm bệnh phung.

 
Đọc tiểu sử cố giám mục Cassaigne, Chung không để ý đến chức vị của ngài, mà chỉ thấy tấm lòng mênh mông của một mẫu người tuyệt đẹp. Tuổi 18 là tuổi say mê các thần tượng và gửi gắm vào đấy những ước mơ thầm kín chực chấp cánh bay cao. Cái Đẹp trong cuộc sống đức cha Sanh đã biến ngài thành thần tượng của anh. Những thanh niên khác mơ đến tiền tài danh vọng để tìm ra hạnh phúc, còn Chung thì mong tìm hạnh phúc bằng cách sống một cuộc sống có ý nghĩa và chết đi cho những người bất hạnh theo gương của thần tượng mình. Anh quyết định thi vào y khoa: đấy là một nghề có thu nhập cao giúp anh có thể đưa gia đình ra khỏi cảnh túng thiếu, nhưng đồng thời cũng là phương tiện để anh chăm sóc người cùi noi bước đức cha Sanh.
 
Tiếng gọi của cái Thiện.
 
Sau một năm SPCN (Sciences Physiques, Chimiques et Naturelles = Lý Hóa Vạn Vật), Chung thấy ước mơ của mình trở thành viển vông. Việc thi vào y khoa nằm ngoài tầm tay của những người thuộc giai cấp cùng đinh như anh. Anh thấy rõ điều này khi nạp đơn thi tuyển. Hầu hết các sinh viên thi vào y khoa đều là con cháu của các bậc có chức có quyền hay của các doanh nhân giàu sụ. Đa số đã tốt nghiệp từ một trường trung học Pháp hay một trường công lập nổi danh. Xuất thân từ một gia đình mà người cha là trung sĩ nhất, với kiến thức học được từ một trường tư thục vô danh, Chung thấy mình toan làm chuyện đội đá vá trời. Gia đình anh nghĩ rằng anh chạy theo một mục tiêu vượt quá sức mình nên khuyên anh bỏ ý định thi vào y khoa. Thế nhưng anh vẫn kiên trì học ngày học đêm mà trong lòng cứ lo sợ miên man. Nhìn thấy mẹ ngày ngày cầu khẩn những người đã khuất phù hộ cho gia đình, anh bỗng tin vào những điều huyền diệu. Anh lên Lăng Ông Bà Chiểu, thắp nhang khấn vái với cụ Lê Văn Duyệt. Anh thầm mặc cả với cụ: “Xin giúp con đậu vào y khoa. Để đáp lại, con hứa, sau khi trở thành bác sĩ, sẽ phục vụ cho người cùi”. Thế rồi anh đậu vào y khoa ngay lần đầu tiên đi thi, năm 1974. Đối với nhiều người khác, thứ hạng 181/213 hẳn không có gì đáng nói, nhưng đối với bản thân anh và đối với gia đình, đấy là một ảo tưởng đã biến thành sự thật một cách thần kỳ.
 
Ngày 04-11-1974, Chung nhập học tại Đại Học Y Khoa, lúc bấy giờ còn mang tên là Trung Tâm Giáo Dục Y khoa Sàigon. Trong những ngày đầu ngỡ ngàng, anh bị thu hút ngay bởi một người Bỉ, giáo sư Marcel Lichtenberger, dạy môn Mô Phôi Học (histologie et embryologie). Ngoài kiến thức uyên bác, giáo sư Lichtenberger còn tỏa ra tư cách của một người thầy khiêm tốn và tận tụy, cứ như thể ông muốn dạy cho học trò mình một cái gì đó vượt lên hẳn những kiến thức y khoa. Chung tìm được lời giải đáp cho những thắc mắc của mình khi tất cả sinh viên năm thứ nhất, dù công giáo hay không, đều được mời dự một thánh lễ gọi là Maccabée tại nhà thờ Jeanne d’Arc, để cầu nguyện hay tỏ lòng nhớ ơn những người hiến xác cho sinh viên thực tập giải phẫu. Chung hiểu được vì sao giáo sư Lichtenberger luôn toát ra một cái gì thanh thoát: linh mục cử hành thánh lễ ngày hôm ấy chính là vị giáo sư khả kính của mình. Mãi sau này Chung mới biết rằng vị giáo sư ấy là một linh mục từng phục vụ ở Trung Hoa rất nhiều năm và gần gũi với những người bệnh mà không ai cứu chữa. Mang con tim nhạy cảm trước các nỗi bất hạnh, linh mục Lichtenberger, với kiến thức y khoa của một y công, đã phải mổ hàng trăm ca mà không có một bằng cấp nào; để rồi năm 44 tuổi, ngài mới về Bỉ học cho hết chương trình bác sĩ trong vòng 4 năm, thay vì 8 năm như mọi sinh viên y khoa khác. Tấm lòng của vị linh mục đã buộc ngài trở thành một bác sĩ thực thụ năm 48 tuổi. Chung chưa hề biết đến điều đó khi ngồi trên ghế đại học y khoa, nhưng nhìn thấy cha Lichtenberger trong áo lễ màu tím xuất thần cầu nguyện trên bàn thờ, Chung cảm nhận rằng thần tượng thứ hai của mình cũng đã đặt nền móng cho cuộc đời ông trên cùng một cội nguồn như thần tượng thứ nhất. Từ cái Mỹ mà anh đọc qua cuộc đời Đức Cha Cassaigne, chàng sinh viên Chung đã nghe được tiếng gọi của cái Thiện xuất phát từ tâm hồn của vị thầy tốt lành này.
 
Cái Thiện ấy rất gần mà cũng rất xa đối với anh. Có lần giáo sư Lichtenberger yêu cầu sinh viên điền vào tờ khai báo lý lịch trong đó có một ô ghi: nguyện vọng tương lai của anh (chị). Chung điền vào mọi ô khác một cách nhanh chóng rồi ngồi mãi trước ô ‘nguyện vọng tương lai’ mà không biết phải viết làm sao. Đối với các bạn khác thì không có gì phải suy nghĩ. Khi bước vào y khoa, họ đã có những hoài bão rõ ràng cho ngày mai rồi: trở thành một bác sĩ giỏi, theo học cao hơn ở nước ngoài, có một nơi làm việc xứng đáng, tìm cơ hội để thăng tiến trong nghiệp vụ và trong xã hội con người… Khi hết giờ, Chung nộp tờ khai mà ô nguyện vọng vẫn còn để trống. “Tôi xấu hổ không dám thổ lộ cho giáo sư Lichtenberger biết rằng nguyện vọng tương lai của mình là làm sao trở nên giống như giáo sư”.
 
Những tháng ngày ray rứt.
 
Con đường học vấn tưởng chừng đã êm ả thì biến cố 1975 đến đảo lộn mọi sự. Trường Y Khoa là một trong những trường mở cửa lại sớm nhất sau ngày 30 tháng 04, tuy nhiên đối với Chung, điều kiện tài chính ít ỏi để học tập đã biến mất. Cha anh là một trung sĩ nhất trong chế độ cũ nên không phải đi học tập, nhưng người anh cả từng là trung úy thì đang ở trong trại tập trung cải tạo. Chung không thể nào đang tâm nhìn cha hằng ngày đạp chiếc xích lô vắng khách để nuôi nấng năm đứa con đang lớn như thổi ở nhà. Anh thấy mình vừa có bổn phận phải chia sẻ gánh nặng với cha vừa phải tiếp tục đi học. Hàng đêm, anh thay cha đạp xích lô từ 7 giờ đến 11 giờ khuya. Sau một thời gian, anh không còn sức lực để vừa đi học ban ngày vừa đạp xích lô ban đêm, nên đành phải chấp nhận để cha và em trai mình tìm kế sinh nhai cho cả nhà, còn anh thì theo học để mong tìm một lối ra cho gia đình vào những năm về sau. Ý thức sự thiếu hụt của mọi người, Chung không đòi hỏi một điều gì cả. Đêm đêm, anh xin vào trực bệnh viện mong có cơ hội thực tập qua các trường hợp cấp cứu. Có những đêm phải thức trắng rồi sáng hôm sau không có một đồng dính túi để điểm tâm, anh vào lớp học mà mắt cứ hoa lên vì buồn ngủ và vì đói.
 
Phải trung thành với ý nguyện ban đầu, bằng bất cứ giá nào”… Với quyết tâm ấy, chàng thanh niên Chung mỗi năm lên một lớp cho đến 1978. Bước vào năm thứ năm, mọi sinh viên phải theo một chuyên khoa. Các sinh viên trình lên một bản gồm 3 nguyện vọng. Nhớ ơn người mẹ đã cơ cực qua 9 lần sinh con, mà mỗi lần là một biến cố thập tử nhất sinh, Chung chọn ngành ‘sản khoa’ ở nguyện vọng 1. Trong niên khóa ấy, giáo sư Đạt, một bác sĩ chuyên về nội thần kinh, đã làm cho anh thích thú môn học này, vì thế anh ghi ‘nội thần kinh’ ở nguyện vọng 2. Còn nguyện vọng 3, anh đành ghi ‘da liễu’ để có thể trả lời  với cụ Lê Văn Duyệt rằng mình không thất hứa. Ngày nghe tuyên bố về chuyên khoa của mình, Chung hụt hẫng. Anh bị phân vào chuyên khoa ‘ký sinh trùng sốt rét’. Anh chẳng vào được khoa nào trong ba nguyện vọng anh ghi. Suốt hai năm còn lại tại trường Y Khoa, anh sống với tâm trạng đằn vặt của một người thất tín thất trung. Anh tự trách: “Vì mình không trung thành với lời hứa phục vụ người cùi, nên đấng bề trên chuyển mình sang khoa ký sinh trùng để xử phạt về tội bội tín!
 
 
 
 
Trả món nợ lương tâm...
 
Anh ra trường năm 1980 và được phân công đến Phân Viện Sốt Rét ****. Quá chán nản với công tác này, anh bỏ nhiệm sở mà về gia đình hành nghề chui, với tư cách là một bác sĩ đến từng gia đình bệnh nhân để chữa trị. Ít ra, anh cũng thực hiện được một trong hai điều mình tự hứa trước kia. Tuy không có phòng mạch như bao nhiêu bác sĩ khác, nhưng được cái là anh dễ mến, mát tay và nhận thù lao tương đối hạ, nên thu nhập cũng tạm đủ để giúp gia đình thoát khỏi cảnh túng thiếu trường kỳ. Cha anh ngưng đạp xích lô. Các em anh có phương tiện học hành hay thực hiện những mong ước của mình. Thế nhưng tự đáy lòng, tiếng trách móc của lương tâm không ngừng dày xéo anh: “Mày là một tên thất trung thất tín!” Năm 1984, sau khi cưới vợ gả chồng cho các em, cũng như giúp họ ổn định cuộc sống, Chung quyết định trả cho xong món nợ lương tâm bằng cách bỏ lại mọi sự mà đi chăm sóc cho bệnh nhân cùi. Ý nghĩ đầu tiên là phải phục vụ tại Di Linh, nơi mà thần tượng thứ nhất của anh đã thành lập, đã sống, đã chết và hiện nay mộ phần ngài vẫn còn nằm tại đấy, trơ gan cùng tuế nguyệt như một chứng tích tình yêu. Anh lên trại phong Di Linh xin nữ tu phụ trách cho phép anh làm việc ở đấy. Các nữ tu rất trân trọng ý định của anh nhưng không thể đáp ứng yêu cầu, vì Trại Phong lúc bấy giờ đã trở thành một cơ sở của Nhà Nước mà các nữ tu không có quyền tuyển dụng nhân viên. Anh trở về Trường Y Khoa xin chuyển lên Di Linh. Về mặt hành chánh, nhà trường không thể bổ nhiệm anh vào trại phong mà chỉ có thể chuyển anh lên Sở Y Tế Lâm Đồng. Cầm giấy tờ trong tay, anh trình diện với vị trưởng phòng tổ chức Sở Y Tế và nói lên nguyện vọng được về Trại Phong Di Linh. Bà trưởng phòng ngạc nhiên hỏi:
 
Anh có điên không? Hay là anh bị cùi?
Nếu tôi cùi thì bà đã thấy rồi. Còn có điên hay không thì tôi không biết, nhưng điều tôi biết là tôi mong muốn phục vụ những người cùi.
 
Anh sẽ nhận việc tại trạm sốt rét, vì chuyên khoa của anh là ‘ký sinh trùng sốt rét’ chứ không phải là ‘da liễu’.
 
Tôi lên đây vì muốn phục vụ tại trại phong Di Linh. Nếu bà không cho phép thì tôi về lại TP **** chứ không làm việc ở bất cứ nơi nào khác.
 
 Về lại Saigon, anh tìm cách thực hiện lời hứa cho bằng được. Không thể nào phục vụ người phong nếu thiếu chuyên khoa da liễu, nên anh xin làm một nơi gần Saigon để có cơ hội bổ túc về chuyên khoa. Ngày 01-07-1986, anh bắt đầu nhận việc tại Trạm Sốt Rét Đồng Nai, trong khi chờ đợi cơ hội. Sau 3 năm làm việc tại đấy, cơ hội đã đưa anh đến Bệnh Viện Da Liễu TP ****. Tại đấy, anh vừa phục vụ vừa học chuyên khoa với điều kiện sau này phải chăm sóc người phong của Thành Phố, nghĩa là làm việc tại trại phong Bến Sắn.
 
Tiếng gọi của cái Chân.
 
Năm 1992, anh xuống Bến Sắn để nhận nhiệm sở mới. Thế là mãn nguyện. Ước mơ tuổi thanh niên đã trở thành hiện thực. Từ sáng thứ hai đến trưa thứ sáu, anh làm việc tại trại phong Bến Sắn để bước cùng nhịp với các thần tượng hầu trung thành với lời hứa của mình. Từ tối thứ sáu đến chiều chủ nhật, anh về Saigon làm bác sĩ tại gia để tìm một ít thu nhập cho cha mẹ sống qua tuần. Cuộc đời anh dường như đã tới đích, anh không còn ước mơ gì nữa.
Thế nhưng anh lại phải đối diện với những vấn đề mới của cuộc sống. Tại trại phong, anh thấy mình sống ở giữa hai nhóm người hoàn toàn trái ngược trong thái độ hành xử. Nhóm thứ nhất gồm những người thiện chí, mà đa số là các Nữ Tử Bác Ái, chỉ sống tất cả cho bệnh nhân; nhóm thứ hai gồm một số người nghĩ đến tư lợi của mình nhiều hơn là lợi ích người bệnh. Với tư cách là trưởng phòng y vụ, bác sĩ Chung được nhóm thứ hai săn đón để lôi kéo về phe mình, nhưng anh lại bị cuốn hút bởi nhóm thứ nhất, vì qua họ anh hầu như chạm được cái Chân tiềm tàng nơi những người mà anh từng đặt làm khuôn mẫu cho cuộc đời mình: Giám mục Cassaigne và linh mục Lichtenberger. Chính các nữ tu này đã khiến cuộc đời anh dứt khoát rẽ qua một bước ngoặt triệt để.
 
 “Tôi còn nhớ sự kiện sau đây. Có lần hai anh em người Pháp đều là linh mục đưa một bác sĩ cũng quốc tịch Pháp đến cưa chân cho một số bệnh nhân tại trại phong Bến Sắn. Vết thương của một  người bị nhiễm trùng, nên anh đã lớn tiếng với tôi: “Ông dùng tôi làm con vật thí nghiệm!”. Tôi quá tức giận nên đã nặng lời với anh. Một xơ cao niên chứng kiến cảnh này mà không nói một lời nào. Vài ngày sau, khi mọi chuyện đã êm, xơ nhẹ nhàng bảo tôi:
 
Bác sĩ Chung à, bệnh nhân đau chứ bác sĩ có đau đâu! Anh ấy bị cưa chân chứ bác sĩ có bị cưa chân đâu! Những gì bác sĩ làm cho bệnh nhân, bác sĩ đừng cho là nhiều rồi. Những điều bác sĩ làm cho họ không đền bù được nỗi đau cả đời của họ đâu!
 
Tôi bỗng thấy nơi xơ cao niên ấy một sức mạnh tinh thần họa hiếm. Ai đã giúp cho xơ có được lòng quảng đại thanh thản như thế? Chắc là Chúa của xơ. Nếu Chúa của xơ có thể ban cho xơ một sức mạnh như thế, thì Ngài cũng phải là Chúa của tôi!
 
Ý nghĩ rằng Chúa của các Nữ Tử Bác Ái cũng có thể là Chúa của mình vừa làm cho anh vui, vừa làm anh e ngại. Lời dặn dò của mẹ, từ thuở anh còn là một cậu bé tiểu học cư ngụ trong xóm đạo, cứ văng vẳng bên tai: “Chung không được đi đạo nhé. Người công giáo kỳ cục lắm, cứ dụ người ta theo đạo. Đạo ai nấy giữ chứ!”.
 
Quả là những người công giáo ở đây thật kỳ cục. Nhất là nữ tu công giáo. Nhưng kỳ cục không phải vì họ dụ dỗ anh theo đạo, mà vì họ sống trên đời nhưng không bao giờ nghĩ đến bản thân mình. Một trong các nữ tu mà anh có cơ may cộng tác một thời gian ngắn là xơ Maria Phạm Thị Ngọc Loan, được mọi người trong trại gọi với cái tên thân thương là Dì Hai. Khi bác sĩ Chung về trại phong, Dì Hai đang ở đấy với hai tư cách: Phó Giám Đốc trại phong và Xơ Phục Vụ (soeur servante = dì bề trên) cộng đoàn Nữ Tử Bác Ái Bến Sắn. Anh nghe kể lại rằng Dì Hai về đây năm 1976, lúc mà chế độ chăm sóc các bệnh nhân phong hầu như không có gì, trong khi những nhân viên mới đổi tới lấy hết cái này đến cái nọ trong trại về làm của riêng. Dì đã phải đứng ra bảo vệ cho bệnh nhân và cỡi chiếc gắn máy tồi tàn chạy bằng xăng pha dầu lửa về thành phố **** mỗi tuần nhiều lần hầu tìm nguồn lương thực cho họ, đồng thời kêu gọi và đưa về Bến Sắn những bệnh nhân bỏ trại lên sống vất va vất vưởng trên vỉa hè Sàigòn. Tim của Dì đập theo từng nhịp của con tim bệnh nhân trong vòng 17 năm trường, để rồi ngưng lại khi người ta phát hiện quá muộn bệnh ung thư trong hình hài của Dì. Dì sợ rằng cho biết sớm thì nhà dòng sẽ cấm dì tiếp tục phục vụ bệnh nhân phong: Dì đã hy sinh mạng sống mình cho họ, theo nghĩa đen.
 
Hôm ấy chúng tôi sắp đi công tác từ TP ****. Biết rằng Dì Hai đang ở vào những giờ phút cuối đời, tôi ghé lại 36 Tú Xương để chào từ biệt. Tôi nói:
 
Dì Hai à, chút xíu nữa đây, con với bác sĩ Quang và chị Bích Vân sẽ lên trại phong Di Linh mổ mắt cho bệnh nhân trên ấy.
 
Nghe tôi nói, đôi môi héo hắt của Dì Hai thoáng nở một nụ cười. Tôi bước ra ngoài chờ xe. Xe chậm đến. Nghĩ rằng đây có lẽ là lần cuối cùng còn gặp mặt Dì Hai, nên tôi luyến tiếc trở lại một vài phút cạnh Dì. Nghe tiếng chân tôi vào, Dì Hai hé mở mắt, nhìn thấy tôi, mấp máy đôi môi để nói lên một điều gì. Xơ chăm sóc ghé tai vào miệng Dì lắng nghe, rồi lặp lại cho tôi: “Chung - Dì Hai hỏi - tại sao chưa đi?” Thế đấy! Đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, Dì Hai vẫn không nghĩ gì đến mình, mà chỉ nghĩ đến bệnh nhân. Không chỉ là bệnh nhân tại Bến Sắn mà còn cả bệnh nhân tại Di Linh nữa!
 
Một bước ngoặt triệt để.
 
Chung! Tại sao chưa đi? Vâng, đã đến lúc bác sĩ Chung quyết định đi đạo, đi theo con đường mà Dì Hai Loan đã từng đi. Sau đám tang của Dì Hai, anh đến gặp Dì Camille Hạnh, giám tỉnh dòng Nữ Tử Bác Ái, và trình lên ý nguyện đi tu để sống trọn vẹn cho bệnh nhân giống như các dì. Dì Hạnh thông cảm từ thâm sâu mong ước của anh, vì dì cũng từng là một người chịu phép rửa vào tuổi trưởng thành trước khi dâng hiến trọn đời mình cho Chúa với tư cách nữ tu. Trong thời gian này, cha bề trên tổng quyền Tu Hội Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn đang có mặt tại Saigon (Thánh Vinh Sơn Phaolô cũng là vị sáng lập dòng Nữ Tử Bác Ái), nên Dì Hạnh đã đứng ra bảo lãnh và xin ngài nhận anh vào dòng Truyền Giáo. Cha tổng quyền chấp thuận nhưng bảo rằng chỉ nhận vào dòng sau khi anh học đạo và chịu bí tích thánh tẩy. Lúc bấy giờ anh chưa có khái niệm gì rõ ràng về Thiên Chúa. Điều duy nhất anh biết: Ngài phải là cội nguổn của Chân Thiện Mỹ, bởi vì Ngài là Thiên Chúa của những con người sống cuộc đời chân thật, tốt lành và tuyệt đẹp. Vì thế, anh không do dự mảy may: Chúa của Đức Cha Cassaigne, của Cha Lichtenberger, của Dì Hai Loan, sẽ là Chúa của anh. Chỉ còn một vướng mắc nhỏ: cha mẹ anh nghĩ sao? Anh trình với song thân và hai vị bảo: “Con đã lớn nên toàn quyền chọn con đường có ý nghĩa nhất cho đời mình; các em con cũng đã lớn, chúng có thể chăm sóc cha mẹ, con đừng lo.”
 
Ngày 28-08-1993, hai mươi năm sau bài báo của Chính Luận, bác sĩ Chung đến dòng Tên tại Bình Dương gặp cha Hoàng Văn Đạt xin học giáo lý tân tòng. Cha vui mừng báo anh hay rằng ngày hôm ấy Giáo Hội mừng lễ thánh Âu Tinh, một người đã chịu phép rửa khi đang là một giáo sư lỗi lạc tại Rôma, để rồi trở thành một linh mục và một giám mục thánh thiện và uyên bác tại Hippone, một thành phố Châu Phi. Để đánh dấu cho bước ngoặt đáng ghi nhớ này, anh chọn thánh Âu Tinh làm quan thầy mình. Âu Tinh Nguyễn Viết Chung lãnh nhận bí tích thanh tẩy từ tay cha chính xứ Bến Sắn, linh mục Trần Thế Thuận, ngày 15-05-1994, tại nhà nguyện Trại Phong Bến Sắn.
 
Ngày 15-09-1994, anh trở lên Đalat, nhưng lần này không phải đến Sở Y Tế xin phục vụ người phong, mà đến 40 Trần Phú, trụ sở dòng Truyền Giáo Vinh Sơn, để khởi sự tập luyện cuộc sống quên mình trọn vẹn. Muốn thời gian tìm hiểu không gây trở ngại cho tương lai của bác sĩ Chung, nếu ơn gọi linh mục không phải là con đường Chúa dành cho anh, bề trên Tu Hội Truyền Giáo tại Việt Nam đề nghị anh làm quen với nếp sống tu trì tại Túc Trưng. Suốt một năm ròng, mỗi tháng bác sĩ Chung làm việc 3 tuần liên tục ở Bến Sắn, và dành trọn tuần thứ tư để sống tại nhà dòng Túc Trưng. Trong thời gian thử thách này, anh đã chu toàn đúng mức hai vai trò trái ngược của mình: Bác sĩ trưởng tại Trại Phong và em út trong cộng đoàn Vinh Sơn. Sau một năm, bề trên thấy rằng đã đến lúc anh bỏ vai trưởng để chỉ còn sống trong vai út. Anh xin nghỉ việc tại Trại Phong Bến Sắn và chính thức gia nhập Tu Hội Truyền Giáo ngày 01-06-1995.
 
Thời gian nhà tập hẳn không dễ dàng gì cho một người đã công thành danh toại rồi một sớm một chiều trở nên ‘lính mới’ phải vâng phục mọi người, trong số đó có những thầy bằng nửa số tuổi của anh. Thế nhưng bác sĩ Chung biểu hiện tư cách của một con người đã thực sự tự hủy theo gương Chúa Kitô. Các thầy cùng thời với anh chân thành thổ lộ: “Anh Chung luôn là một mẫu gương khiêm nhường cho tất cả chúng em.”
 
Nhà dòng cho phép tu sĩ Chung học dồn chương trình triết học trong vòng một năm, để rồi khởi sự 4 năm thần học kể từ năm 1997. Ngày 25-03-2003, Giáo Hội trao thừa tác vụ linh mục cho thầy Âu Tinh Nguyễn Viết Chung, qua lễ đặt tay của Đức Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống, tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp TP ****.
 
Hành trình của một cuộc đời.
 
Hành trình của một cậu bé sợ hãi trong xó nhà đã kết thúc nơi bàn thánh. Một người khởi hành trong cái nghèo khó bị áp đặt, đi cả một vòng đời, rồi đến đích trong sự khó nghèo tự nguyện. Một người đi từ nỗi bất hạnh vì phải nghèo đến niềm hạnh phúc được sống nghèo. Một người suốt đời mang trong mình tiếng gọi: Phải trung thành! Và nhờ lòng trung thành ấy mà linh mục Nguyễn Viết Chung nhận được Tin Mừng Cứu Độ, không phải qua những lời rao giảng, mà qua hành động cụ thể của những con người, để rồi từng buớc nghe được cái Mỹ, thấy được cái Thiện, chạm được cái Chân xuất phát từ Chúa Kitô, Đấng Tình Yêu muôn đời tận hiến.
 
Nếu tôi có một lời để nhắn nhủ với người trẻ hôm nay, thì tôi chỉ nói với họ điều này: Khi bạn phải sống trong hoàn cảnh của một người nghèo, bạn cần nỗ lực ban đầu để vượt qua, nhưng hãy nhớ rằng mình luôn có những vấp váp. Rồi một ngày nào đó bạn sẽ thấy rằng tiền không phải là trên hết. Điều làm cho cuộc đời mình có ý nghĩa, ấy là phải trung thành. Tôi đã từng bất trung. Và đã phải thông qua những kinh nghiệm chua chát.”
 
“...Tôi còn nhớ hôm cha tổng quyền chấp thuận cho tôi nhập dòng Vinh Sơn là ngày thứ bảy. Qua hôm sau, ngày chúa nhật, các cha Dòng Camillo mở diễn đàn kêu gọi các thanh niên dâng hiến đời mình với tư cách là bác sĩ linh mục. Đây là đặc sủng của dòng ấy, và lời kêu gọi này rất phù hợp với tôi. Thế nhưng tôi đã trốn không tham dự, vì muốn trung thành với Tu Hội Vinh Sơn. Tôi đã biết thế nào là giá phải trả cho sự bất trung rồi.”
 
Con đường của bác sĩ Chung tưởng chừng như kết thúc tại cung thánh khi lãnh nhận chức linh mục. Tuy nhiên, từ nơi ấy lại khởi đầu cho một hành trình mới. Bác sĩ Chung trở lại với những bệnh nhân Aids ở Mai Hòa, với những người nghiện ma túy ở nhiều tổ chức và trung tâm khác nhau... Nhưng lần này, qua việc chữa trị thân xác, linh mục Chung còn đem lại cho họ bình an tâm hồn, một niềm bình an xuất phát từ Thiên Chúa của những người mình ngưỡng mộ và cảm phục, mà giờ đây đã trở thành Thiên Chúa của chính mình. Với chức linh mục, bác sĩ Chung làm chứng cho Tình Yêu Thiên Chúa không chỉ bằng nghiệp vụ và tác vụ, mà còn bằng cả đời sống của bản thân mình.
 
Nhìn lại con đường đã qua, bác sĩ Chung thường xuyên lặp lại phương châm mình đã chọn cho ngày thụ phong:
 
Tạ ơn Chúa, Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
 
Và nhìn vào ngày mai, linh mục Chung không ngừng trung thành cam kết:
 
Điều khấn hứa cùng Ngài, con xin giữ trọn.”
 
Con đường Chúa đã dẫn đi...
 
Thiên Chúa đã đến trong cuộc đời Nguyễn Viết Chung bằng những bước đi nhè nhẹ. Nhưng mỗi lần Ngài đến là Ngài để lại dấu ấn sâu sắc trong một tâm hồn biết lắng nghe. Giữa bao nhiêu thần tượng trên thế gian, Nguyễn Viết Chung biết chắt lọc một vài khuôn mẫu định hướng cho cuộc đời mình: Đức Cha Cassaigne, Cha Lichtenberger, Dì Hai Loan... đấy là chưa kể đến nhiều người khác, trong đó có thân mẫu của mình, một người mẹ đã suốt đời âm thầm chịu đựng cho đến khi mù lòa. Giữa các gương mặt ấy, có một nhân vật gần giống như Nguyễn Viết Chung: Linh Mục Bác Sĩ Marcel Lichtenberger. Thế nhưng con đường Chúa dẫn hai vị đi thì hoàn toàn trái ngược nhau. Năm 25 tuổi, cha Lichtenberger bị tình yêu Thiên Chúa thúc bách phải đến với những con người bất hạnh tại Trung Hoa; và trước những thương tích của Chúa Kitô thể hiện trên hình hài các bệnh nhân, cha đã trở về ngồi lại trên ghế nhà trường để rồi trở thành một bác sĩ năm 48 tuổi. Ngược lại, Nguyễn Viết Chung tốt nghiệp bác sĩ năm 25 tuổi, thế rồi vì muốn chia sẻ trọn vẹn sự khốn cùng của bệnh nhân nên rốt cục đã gặp Chúa Kitô chịu đóng đinh trong những con người bất hạnh, và điều này khiến cho vị bác sĩ tận tâm kia từ bỏ mọi sự để trở thành linh mục của Chúa vào tuổi 48. Một linh mục trở thành bác sĩ đã là đèn soi cho một bác sĩ trở thành linh mục. Hành trình trái ngược của hai linh mục bác sĩ này bộc lộ cho chúng ta một chân lý. Ai đến với Thiên Chúa một cách chân thật và trung thành thì rồi sẽ liên đới với những con người bất hạnh. Và ai liên đới với người cùng khổ một cách chân thật và trung thành thì rồi sẽ gặp được Thiên Chúa từ nơi thâm sâu của lòng mình.
 
GS Trần Duy Nhiên


****




Cảm ơn Lua9 đã  mang thông tin về  đây  .

Chúc An -vui  , nhé  .cld



***MT ơi  , tình cờ đọc thấy bài này chị nhớ đến em  ,nhiều lắm  !
và cũng còn 1 lý do khiến chị mang về đây - như lời "tâm tình"  -
vì dường như chị có thoáng gặp  linh mục bs NVC  này  ở 36 TX  , vào những giờ sau hết của sr Loan  .Tang lễ của "dì Hai Loan " đựoc cử hành ở 42 TX nhưng sau đó di quan về trại phong Bến sắn ,nơi tất cả bịnh nhân nơi ấy để tang và chờ đón "dì Hai" về nằm lại giữa họ   ...
Mấy năm sau chị cũng lại "tình cờ" về , có mặt trong tang lễ của sr Camille Hạnh giám tỉnh dòng  ( tg  có nhắc đến trong bài trên )  -  như trước đó đã có mặt bên sr P.René  và được hôn kính bàn tay đã lạnh của sr ...
thương nhớ lắm ... những con người tuyệt vời ...

và biết đâu ngày nào đó ,chị được chứng kiến em trở thành một phần tử của dòng Nữ tử bác ái  thân thương này  ...
biết đâu ... em lại có duyên với dòng
Cha Chung chịu chức khi đã 48 t 
Chị mong em sớm đạt được ước nguyện  ...
ở đâu cũng được  , nhưng mong là  ở đây 
thương mến .





< Sửa đổi: coLaido -- 10/10/2009 3:14:15 PM >

(trả lời: lua9)
Bài số: 731
RE: Nguyễn viết Chung và tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ - 11/14/2009 8:30:52 PM   
NhanAi

 

Bài: 1148
Hello chị CoLaiDo,


biết chị đang vắng nhà, nên NA vào quét dọn căn chòi chờ chị về kể cho nghe những chuyện mắt thấy tay sờ chạm được .....!!!


Anh Cả vừa mới mở cửa Phố Mới ở bên kia, NA đã có vào dạo và "xí" một chỗ cho chị  (í ẹ quá) và cho NA .  Đầu tháng 12 thì anh Cả đóng bên này . Thôi thì những phim ảnh Mới chị chở về bên đó hết đi nhé . Phố mới, chuyện mới, hình ảnh mới, con người mới, tâm hồn mới ......... tất cả mới ........ nha chị !!!


Còn riêng " việc ấy "  thì em vẫn chưa có can đảm "bước" đi theo thánh ý CHÚA .  Nên vẫn chưa liên lạc . Tuy nhiên, chắc chắn sang năm sẽ đi Medujgorje sau đó sẽ đi Ấn. Nhưng chưa biết làm sao để đến được được nơi LM NTT đã đến . Nơi Mẹ Teresa Calcutta từng làm việc trước đây .  Vài bửa nữa sẽ lên ẠC xin việc làm coi sao .... sợ rằng khi thấy mình nhỏ nhắn họ không nhận ....!!!  Những việc bây giờ là phải học biết Phó Dâng và Xin Vâng.


TT vẫn luôn hỏi thăm đến chị CLD .


Chúc chị bình an .



(trả lời: coLaido)
Bài số: 732
Người Khách và Con Tàu - 11/24/2009 10:22:53 AM   
coLaido


Bài: 945
Người Khách và Con Tàu


Chiều đã xuống bên kia rừng. Màu tím loang dần ở chân trời. Thấp thoáng trên những lớp lá già bụi mốc một vài tia nắng cuối. Người khách đứng nhìn lãng đãng, tâm tư dáo dức. Dáng điệu của hắn có nỗi buồn riêng giống như ngọn đồi chiều nay im lìm trong hoàng hôn trước mặt hắn.

Con đường sắt trầm mặc dài hút mù, bò qua chân đồi, rẽ vào khu rừng thưa rồi đi mãi xa thẳm.

Trên bến ga nhỏ, người thanh niên không hành lý đứng dựa vào gốc si già. Ðôi mắt dõi nhìn phía xa, tha thiết. Chàng lẩm bẩm:

-Bao giờ thì tàu sẽ tới?

Ðêm nay hay đêm mai?

Hôm nay hay còn lâu?

Những sợi nắng cuối đang tan. Sân ga cô độc. Chàng chờ đợi một mình. Bụi lau lưa thưa ngả nghiêng mệt mỏi. Một vài làn gió xuống theo triền đồi đưa những chiếc lá úa lìa cành, như những cuộc đời lẻ loi đang lặng lẽ giã từ cuộc sống. Trên khu đồi lam xám, những cánh chim đêm bay về phía bắc.

Bên bờ đá, chàng ngồi chống khuỷu tay lên đầu gối. Gương mặt lúc nào cũng nghĩ ngợi. Vài bóng chuồn chuồn bay lượn lờ, rồi cũng bỏ lại sân ga, buông cánh vào một không gian xạm tối.

Ðôi mắt băng khoăn nhìn về phía cuối rừng, nơi tuyến đường đi qua, chỗ mà con tầu sẽ tới. Ðôi lúc hắn lững thững trên bến ga nhỏ, nhưng rồi lại trở về bờ đá, ngồi đợi chờ.

Hắn từ đâu đến? Chẳng ai biết. Người ta chỉ đoán được rằng, chắc hắn đã về từ phía thành phố. Hắn có vẻ thư sinh, ngoài phía cuối rừng hắn hay trầm ngâm nhìn về phía tây, nơi ánh điện tỏa sáng. Hắn nhìn nhiều lần, lần nào cũng kết thúc bằng một cái quay mặt, như nuối tiếc nơi vừa bỏ đi mà vẫn cương quyết chối từ không trở lại. Có lúc hắn đang nhìn tha thiết về hướng thành phố, bỗng nhiên hắn giật mình ngó vội theo con đường như chợt nghe tiếng hú còi tàu. Dường như hắn đang chờ đợi con tàu tha thiết lắm.

Nét mặt hiện những nét tài ba đặc thù. Gió đưa vài sợi tóc lòa xòa xuống vùng trán làm khuôn mặt chàng pha điểm chút mềm mại.
Lúc lững thững trên bến ga, lúc đứng bất động nhìn lên khu đồi, hắn có hồn của một nghệ sĩ.
Lúc ngồi thầm lặng, người ta lại thấy hắn như một tù nhân rũ bã. Nhưng vùng trán tự tin, dáng hao hao gầy, hắn có nét đẹp của một gã thanh niên tuấn tú. Tuy nhiên, đôi tiếng thở dài cho người ta thấy sự yếu đuối của một trái tim đa cảm.

-Bao giờ tàu mới tới?

Ðêm nay hay đêm mai?

Hôm nay hay còn lâu?

Bên kia chuyến tàu là gì?

Vực-Sâu-Phiền-Trược hay Núi-Cao-Bình-Minh?

Trên bến ga, hắn vẫn một mình, lẩm bẩm. Ðêm càng đêm thì ánh sáng của thành phố càng hồng. Tiếng hát đường xưa và chiều mây lá ngủ. Bạn bè và niềm vui. Giấc mơ và ý nguyện. Hắn đang nghĩ ngợi. Hắn nhớ một vùng quen thân vừa bỏ lại.

Sân ga có mình hắn. Nhưng có lẽ không phải hiu quạnh của bến ga làm hắn buồn phiền, mà với những lúc ngồi thừ, bàn tay xoa mặt, cái nhìn xa xôi, người ta có cảm tưởng rằng hắn đang bị dày vò từ những ý nghĩ kín đáo gợn sóng mà trùng trùng, sẽ sàng mà mãnh liệt, có an ủi nhưng cũng đau thương.
Dáng háo hức đợi con tàu của hắn là một háo hức dường như có đe dọa sợ hãi hơn là mong chờ. Khẳng khái bỏ lại phố thị tìm về đây là dũng cảm nhưng dường như vẫn là dũng cảm ngại ngùng. Cuộc chiến nội tâm dằng co giữa tiếng gọi của con tàu định mệnh mà chàng xác quyết là sẽ có và tiếng gọi của thành phố bảo chàng về là cuộc chiến không biên giới. Trong chiến trận mà kẻ chiến đấu là chính mình thì lưỡi gươm chinh phạtl không giám thẳng tay chém xuống.
Trong cuộc cam go mà những tiếng gọi giằng co xảy ra trong một con tim thì bất hạnh của người nghe thấy tiếng gọi là muốn nghe đó, đồng thời lại mong nghe đừng rõ.
Bởi, nếu nghe càng rõ thì lựa chọn càng phải dứt khoát.

Không gian yên tịnh trên vùng trời vắng. Bờ đá im lìm. Con tàu chưa trở lại. Rừng cây vô tư. Hắn ngồi im, dường như hắn bắt đầu quay quắt trong những dòng lệ khô. Bóng đêm làm cho hắn có vẻ gầy hơn dáng người thật của hắn. Bờ cỏ dại nhẫn nại bình thản. Nhưng chúng nghe như có lời than:

-Thượng Ðế của tôi,

Tôi xin trung thành và tha thiết.

Nhưng đâu là giờ tôi đến. Xin chỉ bước tôi đi.

-Hãy vào sa mạc, ở đấy Ta sẽ nói cho ngươi phải làm gì. Trong thinh lặng và tin tưởng ngươi sẽ tìm được sức mạnh cho tâm hồn.

Hắn thưa lại:

-Thượng Ðế của lòng tôi,

Nhưng sự im vắng chiều nay làm tôi sợ hãi.

Bạn bè còn tha thiết. Giấc mơ vẫn miết xanh.

Bỗng dưng cơ hồ như vang tiếng gọi.

Tôi đã về đây: Ôi bến tàu vắng.

Khi nào thì tàu sẽ tới: Ðêm nay hay đêm mai? Hôm nay hay còn lâu?

Hắn vừa im thì từ rất xa, có tiếng vang. Hắn lắng nghe, sẽ sàng.

-Cuộc đời là những lựa chọn tiếp nối.

Lựa chọn nào cũng bao hàm sự từ bỏ.

Từ bỏ đưa đến tiếc nuối. Tiếc nuối thì ray rứt.

Nhưng lại là định luật : Sống là lựa chọn.

Con yêu,

Có những lựa chọn tương đối. Nhưng đời con còn một lựa chọn tuyệt đối: Gian Nan hay Hạnh Phúc.

Lựa chọn hệ trọng:

Thiên Ðường hay Hỏa Ngục.

Bên kia cuộc đời:

Vực-Sâu-Phiền-Trược hay Núi-Cao-Bình-Minh.

-Vâng!

Hắn thưa như vậy rồi lặng thinh. Hắn muốn nói thêm một điều gì ngay nhưng lại thôi. Sẽ lắc đầu, hắn lấy tay che mặt.
Trong tâm tưởng, hắn nhìn thấy biên giới sống và chết thật mong manh. Tuổi trẻ như sóng đang mùa nước lớn. Tung bọt trắng xóa ngày đêm xô đổ thách đố những bờ đá cứng. Dường như cuộc chiến sẽ trường cửu. Lòng kiên nhẫn của sóng là vô cùng. Niềm kiêu hãnh của bờ đá cũng vô biên.
Thế rồi, từ xa xa, tiếng hú của còi tàu. Rồi sóng cũng yên, bờ đá cứng như nghìn thu từ từ sụp xuống. Hắn thấy rõ cái không thể giải thích được đến và đi của sự sống.
Cứ đến mùa là cây cối chồi sinh lộc non. Người ta có thể đếm những tờ lịch mà gieo mạ, cấy lúa. Nhưng Chuyến-Tầu-Ðịnh-Mệnh không nằm trong thời khóa biểu. Chàng không thể giải thích được, nhưng lại quá rõ ràng, chàng phải đối diện với chuyến tầu này. Và cơ hồ như đâu đây, có dáng dấp của con tầu.

Ðêm mênh mông. Khu rừng thầm lặng vẫn thầm lặng. Tiếng quốc kêu rất thương vang vọng từ xa, lẻ bóng bên bìa đồi. Con đường sắt vẫn nằm yên đấy.

-Vâng!

Hắn lập lại tiếng ấy một lần nữa. Không nhìn lên, khuôn mặt trong lòng tay, hắn thưa:

-Thượng Ðế của lòng tôi,

Tôi hằng chập chùng lo lắng...

những chiếc áo quan khép lại...

Một chiều thu xám lá rơi.... một canh bạc tàn...

Ôi, tôi vẫn tự hỏi. Bên kia cuộc đời là gì:

Vực-Sâu-Phiền-Trược hay Núi-Cao-Bình-Minh.

Tôi vẫn giật mình sợ hãi khi đêm khuya đổ về.

Nhưng Người ơi, bao giờ thì tầu sẽ tới, chuyến tàu của riêng tôi.

-Tình yêu tha thiết sẽ bao ngợp thời gian.

Niềm tin thành thực sẽ sẵn sàng chờ đợi miên trường.

Nghe xong hắn lắng đọng đợi chờ. Nhưng tiếng ấy không nói nữa. Khẩn khoản như một lời kinh, hắn ngậm ngùi thưa:

-Thượng Ðế của lòng tôi.

Tôi xin trung thành và tha thiết.

Tôi muốn đợi chờ tiếng còi tầu để mở cửa căn nhà.

Nhưng kìa, Người có hay sự Lãng-Quên của tôi thì lớn hơn Trí-Nhớ và sư Yếu-Ðuối của tôi thì cao hơn tầm với.

Hắn chưa dứt lời thì đã vang vọng một tiếng đáp trả:

-Yếu đuối là ánh sáng để ngươi biết mình.

Biết mình yếu đuối là tiếng gọi bảo ngươi đến với Tình Yêu.

Thật đấy, với Tình-Yêu chỉ một tư tưởng phản bội cũng đủ để Tình-Yêu bỏ đi. Nhưng cũng với Tình-Yêu, chỉ cần một giọt nước mắt ăn năn cũng đủ để Tinh-Yêu tha thứ gọi về.

Sau lời ấy chàng thanh niên đưa tay gạt lệ. Trong tiếng nghẹn ngào, hắn thưa:

-Thượng Ðế của lòng tôi,

Khiếu từ cuộc vui, trả lại lời ca cho phố chợ, tôi đã đến đây chiều nay. Nhưng nếu Người chẳng tới. Nhưng nếu tầu chẳng đến.
Và bên kia cuộc đời không có Vực-Sâu- chẳng có Núi-Cao chỉ là miên viễn chiêm bao thì Gió và Mây sẽ bảo tôi rằng: Buổi chiều dại dột. Một hy sinh thừa.

Vô hình mà rạo rực cả núi đồi rừng sâu, tiếng mầu nhiệm đó đáp trả:

-Không có niềm tin, kiên nhẫn là thừa. Niềm tin không kiên nhẫn là địa chỉ sai đường.

Nghe xong, tựa đầu lên bờ đá. Không gian cô đọng. Trăng bắt đầu ló bên đồi. Lá ngàn nằm mơ màng dưới ánh vàng của màu trăng Giệtsimani. Sương không nhiều, nhưng sương khuya nên làm thấm lạnh người viễn khách. Khu rừng sâu đen thẩm.
Bên đồi, ánh trăng mềm bàng bạc bắt đầu nhẹ nhàn thấm xuống ngàn cây. Thỉnh thoảng tiếng quốc kêu thương. Tiếng kêu độc nhất của một con quốc lẻ loi đang tìm đường. Tiếng kêu mỗi lúc một xa, nhỏ dần, như đang lên cao trên phía đỉnh đồi.

Chàng trai viễn khách quỳ tựa mặt vào bờ đá lạnh. Thời gian bình thản trôi xuôi. Im vắng. Hắn ray rứt suy tư. Hắn chưa bao giờ thẩm định kỹ niềm tin và kiên nhẫn là một hay là hai đối thủ đối chọi nhau. Kiên nhẫn là dấu chỉ của lòng tin đã có hay chỉ là mệt mỏi gắng gượng của một chờ đợi không xác định. Khi tin rồi thì kiên nhẫn sẽ đến hay phải vất vả kiên nhẫn để niềm tin lớn.

Cây si già in bóng lên vùng cỏ thưa. Ánh trăng mới nở chỉ làm cho bóng si thành một đám mây mờ. Nhưng cũng đủ để bờ đá sáng lên, in rõ hình người thanh niên.

Bất giác, hắn chống tay ngẩng mặt dậy làm bóng trăng chao động, đổ dài lên nền cỏ. Phía sườn đồi những bụi lau đang rung rinh, lao xao.

Vừa lắc đầu, hắn vừa gọi thì thầm:

-Cuộc đời ơi, hãy đợi chờ. Ta sẽ trở lại....

Tâm tư hắn tràn về như dòng sông vừa mở cửa đập. Chàng ngó lại tháng ngày xây đắp công danh mà tiếc xót.
Trong dòng nước mở đập trôi chảy về tâm trí chàng ào ào, có ánh sáng của thành phố thôi thúc gọi chàng trở lại. Có bóng người đi trong rừng cờ giữa tiếng kèn hoan hô.
Tại sao không phải là chàng? Nhớ lại những ly thủy tinh chạm vàng với rượu nồng và nhạc quý, chàng hối hận đã đến sân ga chiều nay. Bao nhiêu pho sách chàng đã góp nhặt trong đời. Tại sao lại một chiều bỏ ra đi? Người viễn khách trẻ nhìn về phía tây đang rực đèn. Linh hồn chàng lại réo gọi trở về.

Xô qua mấy lùm cây nhỏ, hắn tìm lối tắt băng ra khỏi sân ga. Bỏ lại ý nghĩ chờ đợi con tầu.
Chàng không thể buông tay cho rơi xuống công danh đang dang dở. Chàng muốn bỏ cuộc. Nhưng chỉ chạy được môt quãng ngắn, hắn ngã. Cố gượng dậy trong thế quỳ để giữ bước chân thăng bằng, ngoái cổ lại nhìn về phía rừng rồi hắn lập bập đứt quãng:

-Chuyến -Tầu-Duy-Nhất? Chuyến-Tầu-Ðịnh-Mệnh?

Hình ảnh con tầu đang lao vút làm chàng rùng mình. Hắn nhìn thấy con tầu tàn bạo, vô cùng dã man đâm thẳng vào tương lai. Bên bờ rừng một gã đàn ông giơ tay gào thét vì trễ tầu.
Con tầu không dừng lại. Gã đàn ông đập mình cúi lạy nhưng con tầu không cần biết. Tiếng gã đàn ông khan cổ gào thét nhưng con tầu phóng ga không một chút xót thương.
Bến bờ định mệnh hun hút xa thẳm. Và khi con tầu đã lao đi thì tất cả chung quanh từ từ loãng ra như một đám khói mỏng.
Ðền đài, thành quách, những con đường ngàn dặm từ từ rút nhỏ rồi chảy tan như thỏi nước đá dưới mặt trời. Chàng nhìn rõ cuộc đời mình và tất cả ước mơ vô cùng bền bỉ thế mà chúng tụ lại chỉ bằng một hạt bắp, rồi một tiếng nổ nhẹ, hạt bắp vỡ tung.
Trong cùng giây lát không phải chỉ có bóng hình người đàn ông lỡ tầu gục đầu gào thét mà vất vưởng đó đây, khi chàng nhìn kỹ, có từng lũ người cũng đang vất vưởng vô vọng. Họ như những hồn ma khốn khổ, không chỗ cư trú.

Hình ảnh hãi hùng làm chàng lảo đảo, gượng dậy, chạy trở lại bờ đá cũ. Vừa tới nơi, hắn quỳ xuống, giang tay ôm miết lấy tảng đá gồ ghề. Bóng con tầu lao vun vút như sắp bỏ rơi hắn làm hắn càng bấu chặt vào vách núi. Gục đầu trên bờ đá khô cứng. Hắn sợ hãi thưa:

-Thượng Ðế của lòng con ơi,

Không!không thể như thế được.... Con không thể bỏ lỡ con tầu...

Trong lúc thổn thức, hắn còn nói thêm một điều gì nữa, rất khẽ, dường như lời ấy làm hắn sợ hãi.

Ðất trời bình thản. Trên sân ga vẫn im lặng. Ở phía tây, thành phố vẫn lên đèn dặt dìu tiếng nhạc. Trong im vắng của một chờ đợi, chàng thấy tất cả chỉ xẩy ra trong thế giới thiêng liêng của linh hồn. Gió đến dạt dào rung rừng cây lao xao. Gió đến như sứ giả đem theo lời hắn, xuyên qua núi đồi làm nên những âm vọng uy nghiêm vang dội từng tiếng một.
Chàng lại nghe rõ, cũng trong thế giới linh hồn. Lời hắn nói với lòng mình vang lên trùm cả khu đồi, âm vọng chảy suốt theo đường tầu:

CHUYẾN-TẦU-DUY-NHẤT.

CHUYẾN-TẦU-ÐỊNH-MỆNH .....

Thời gian trôi. Ánh trăng mỗi lúc mỗi lên. Bầu trời mênh mông. Rừng cây vời vợi không tiếng còi. Trên cao, xa thẳm, ngàn sao đang lấp lánh, và càng vào khuya sao trời càng thêm sáng láng.


* * *


( Lời nguyện của người chờ con tầu )

· Lạy Thượng Ðế của lòng con. Bao giờ chuyến tầu mới tới? Lúc nào là giờ con từ giã cuộc đời? Khi mà núi rừng vẫn bốn mùa đổi lá. Phố thị vẫn thản nhiên vô tư thì khó mà nhận ra sự tàn phá khi con tầu tới. Con tầu là chuyến đi định mệnh của riêng con mà thôi, nên con phải suy tư về sự tàn phá ấy trong thế giới thiêng liêng của riêng linh hồn mình.
Chính những hình ảnh bền bỉ của thế giới chung quanh, của núi rừng vẫn cứ xanh , của ánh sáng thành phố cứ hồng làm con lãng quên tiếng còi tầu. Ði cùng chuyến tầu trên cuộc đời với nhau, nhưng Chuyến-Tầu-Ðịnh-Mệnh sự chết là của riêng mỗi người.
Vì thế, con cần những giây phút riêng tư, để dù trên cuộc đời chung nhau, con vẫn chờ đợi một thế giới của riêng mình
.


( Lời trong Phúc Âm )

“Coi chừng! Hãy tỉnh thức! Vì các ngươi không biết bao giờ đến lúc đó. Các ngươi hãy canh phòng vì các ngươi không biết chủ nhà đến chiều hôm nay hay nửa đêm, gà gáy hay tảng sáng, kẻo thình lình Ngài đến lại gặp các ngươi đang ngủ.” (Mc. 13:33, 35-36)


Nguyễn Tầm Thường


-------------------------------------------------------------------------------------------

NA thương mến  ,
Đi vắng lâu ngày trở về chòi lá ven sông  , thấp thoáng bóng em  ... thật ấm lòng  !
nghe nhắn nhủ về chỗ  đã xí hộ chị ở nơi mới  , cảm động nên chị đã vội sang bên ấy nhận rồi .Cảm ơn NA nhiều nha 
Ờ , lâu không vào phố  ... về  thấy những chữ dọn nhà  và những xôn xao ,đây đó  ...
thấy mình sao lạc lõng  !
và có chút tâm trạng như người khách :
Ðôi mắt băng khoăn nhìn về phía cuối rừng, nơi tuyến đường đi qua, chỗ mà con tầu sẽ tới. Ðôi lúc hắn lững thững trên bến ga nhỏ, nhưng rồi lại trở về bờ đá, ngồi đợi chờ.




muốn mang về một chút để chia sẻ  , nhưng có thể nhận được những cái lắc đầu thương hại 
dù sao hy vọng cũng không làm phí nhiều đất của phố
vào những ngày cuối  , trước khi nơi đây trở thành kỷ niệm
êm đềm hay không thì tuy thuộc ở mình  .



Xin cầu chúc cả nhà bình an , vui khoẻ .cld


_____________________________

. http://www.memaria.org
. http://www.thanhlinh.net

(trả lời: NhanAi)
Bài số: 733
... bến sông xưa - 11/29/2009 1:08:21 PM   
coLaido


Bài: 945

mai kia  ...  khi nói về ,
ta sẽ gọi  :
bến sông xưa  ...
xin cảm ơn những thân tình một thuở
xin cảm ơn
những ngày tháng có bạn có ta
những vui buồn , những bao dung
chịu đựng và tha thứ


xin cảm ơn anh CN  và các anh chị ban điều hành đã tạo một diễn đàn
...  là bến bình an cho con đò nhỏ bấy lâu na
y














< Sửa đổi: coLaido -- 11/29/2009 1:33:00 PM >



_____________________________

. http://www.memaria.org
. http://www.thanhlinh.net

(trả lời: coLaido)
Bài số: 734
Trang:   <<   < phần trước  70 71 72 73 [74]
Các Diễn Đàn >> [Đời Sống - Xã Hội] >> Tâm Tình >> Nguyễn viết Chung và tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ Trang: <<   < phần trước  70 71 72 73 [74]
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết


Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 6-10/2009:
Mai Dang, Bao Cuong, vann, Tương Kính

Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh

Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.

Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode