Linh Tinh Phố Rùm Bài Viết Gia Chánh Lời Tình K Truyện Chọn Lọc Thơ Tình
Trở lại trang đầu
Đi Vào Phố Hồ Sơ Cá Nhân Thư Riêng (Private Message) Các Bài Đăng Từ Lần Cuối Bạn Vào Các Bài Đăng Ngày Hôm Nay Lịch Sinh Hoạt Ghi Danh Trở Thành Thành Viên của Phố Rùm Những Câu Hỏi Thường Gặp Danh Sách Các Thành Viên
Phố này chỉ để xem lại bài cũ, không còn đăng bài mới lên được. Xin mời các bạn qua thăm Phố Rùm mới .
Phòng ẢNH

Sự sống trong căn nhà chờ chết

 
Xem những đề mục liên hệ: (trong diễn đàn này | trong mọi diễn đàn)

Tham gia dưới tên: Guest
  In Ra
Các Diễn Đàn >> [Đời Sống - Xã Hội] >> Tâm Tình >> Sự sống trong căn nhà chờ chết Trang: <<   < phần trước  70 71 72 [73] 74   phần sau >   >>
Tên login:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
Sự sống trong căn nhà chờ chết - 8/13/2009 1:01:09 PM   
coLaido


Bài: 945

  Sự sống trong căn nhà chờ chết

Ai muốn làm thiện nguyện chỉ việc gặp sơ phụ trách, sơ viết mấy chữ chứng nhận vào miếng giấy. Không có văn phòng, không thủ tục rườm rà gì cả. Rồi, đi làm. Đã hỏi đường, nhưng tôi cũng hồi hộp, xe buýt trong thành phố lèn đầy người. Chạy nửa tiếng mới tới chỗ tôi xuống, phải chú ý lắm theo dõi nơi ngã ba nào có cái chợ như thế, cây xăng như vậy mà định chỗ xuống xe. Đây là ngày thứ nhất tôi đi làm. Mọi người đều phải tự do lấy phương tiện di chuyển.



Từ cuối xe, tôi thấy một cô người Nhật đứng phía trên, cầm chiếc túi ni lon thấy rõ bên trong mấy hộp thuốc. Trong xe không có người ngoại quốc nào. Tôi đoán chừng phải là một trong các cô thiện nguyện của nhà Mẹ Têrêsa. Qủa thế, lúc cô xuống xe cũng là nơi tôi thấy ngã ba, có khu chợ như đã được dặn trước. Vội theo chân cô để khỏi phải tìm nhà. Cô rất vui kho biết tôi cũng là thiện nguyện viên đi làm. Cô không nói được tiếng Anh nhiều, chỉ lõm bõm, thế mà dám đi.

Trong những ngày tháng gần đây, tôi hay suy niệm về sự chết. Có khi bất chợt trong lúc đi đường, có khi trong giờ cầu nguyện, có khi kéo dài trong những dịp tĩnh tâm. Tư tưởng sống chết, ý niệm đời sau của thế giới bên kia cứ như chờn vờn. Tôi không bỏ qua được. Nó như một hố sâu nhìn thấy đáy. Tìm đâu câu trả lời? Không ai có kinh nghiệm sự chết. Không ai chết rồi hiện về nói cho biết sự chết. Người nào chết rồi cũng mất tích trong thế giới siêu hình. Giáo Hội dạy về sự chết nhưng không có kinh nghiệm sự chết. Tất cả là niềm tin vô hình thôi. Tôi xin Chúa cho tôi cảm nghiệm chứ không phải cứ dục lòng tin những điều không thể chứng minh. Tôi tìm đến nơi đây cũng là vậy.



Trong thành phố Calcutta có nhiều nhà của các sơ. Nhà cho người già bệnh, nhà cho các em bị tâm thần, nghễng ngãng, nhà cho trẻ mồ côi. Tôi chọn nơi “khủng khiếp” nhất. Nhà cho những người chờ chết. Tôi đã nghe nói về căn nhà này, ai không thân nhân sắp chết ngoài đường, các sơ đem về săn sóc cho chết bình an, chết xứng đáng phẩm giá con người. Tôi cứ tưởng tượng nơi ấy đầy bi thương thống khổ. Máu me, dơ dáy.

Qua chiếc cổng có bảng đề không chấp nhận khách tham quan, chụp hình, tôi vào trong nhà. Hai dẫy giường dài trước mặt tôi. Điều trái ý nghĩ của tôi là không máu me, không tiếng kêu la, không dơ dáy, không “khủng khiếp” như tôi nghĩ. Êm đềm, các bệnh nhân nằm im. Sạch chưa từng thấy. Sau này tôi được biết, chính phủ Ấn phải thừa nhận các nhà săn sóc người bệnh của Mẹ Têrêsa sạch hơn tất cả các bệnh viện ở Ấn. Lý do đơn giản là có biết bao thiện nguyện đến làm, họ làm việc với con tim, làm hết mình chứ không vì đồng lương nền nhà cửa gìn giữ rất sạch sẽ.
- Đây là công việc anh sẽ làm.
Một người làm thiện nguyện ở đó lâu rồi phân công các việc cần làm. Anh gọi và phân công cho tôi. Chưa rõ tôi hỏi lại anh:
- Tôi sẽ làm gì?
- Anh lựa những chiếc quần áo, khăn giường “dơ” để riêng ra.
Tôi nghĩ bụng, cái nào mà không dơ. Hỏi lại:
- Tôi phải làm gì?
Bằng một ngôn ngữ hơi ngại, nhưng anh ta phải nói rõ:
- Những quần áo, khăn giường nào dính phân người!

Bấy giờ tôi hiểu. Ghê quá. Nhiều người nằm liệt giường, họ đi tiêu bừa bãi ra quần áo. Công việc của tôi là lựa riêng ra những thứ ấy. Tôi thấy lợn giọng vì chưa bao giờ làm công việc này. Họ là những người đủ thứ bệnh, biết đâu có cả HIV, Sida. Nghĩ tới đó tôi thấy hỏng rồi, sao mình lại chui đầu vào đây.

Trong đám thiện nguyện đang giặt quần áo, anh người Nhật là toát mồ hôi. Tôi thấy anh ta làm hùng hục. Anh ở đấy tám tháng rồi. Tôi hỏi thăm mấy người chung quanh nên biết vậy. Anh ta ít nói. Mới gặp nhau rất khó nói chuyện riêng tư, như vì sao anh tới đây làm công việc này? Cảm nghiệm anh ra sao trước những cái chết đơn côi không người thân? Những tâm tư ấy không biết được. Chỉ vui với nhau và làm việc thôi. Tất cả đều giặt bằng tay. Không máy móc. Đồ giặt to thì bỏ vào bể ximăng, lấy chân đạp như ta đạp nhồi đất sét làm gạch. Sau một ngày tay ngâm nước lâu, vắt quá nhiều vải thô cứng, da tay tôi mềm ra và đau.

Thánh Inhaxiô ngày xưa cùng với nhóm mới thành lập dòng của ngài đều đi bộ hành hương. Họ xin ăn dọc đường để cảm nghiệm sự cơ cực của con người. Họ chỉ tín thác vào Chúa. Có lần săn sóc chân máu mủ một bịnh nhân, ngài rất ngại lây bệnh. Để chiến thắng, ngài đút bàn tay dính máu sau khi săn sóc bệnh nhân của ngài vào miệng. Hôm nay không ai làm thế, nhưng thế nào là tin tưởng vào Chúa, thế nào là có khi nguỵ biện cho sự lười biếng của mình?



Trong nhà, bên này bức tường chúng tôi giặt đồ. Bên kia là giường bệnh. Anh thanh niên người Đức đang săn sóc một người đàn ông không thể đoán được tuổi. Có lẽ là ông già. Người đàn ông nằm lồi hai mắt. Người chỉ còn da bọc xương. Lồi lên hai hàm răng. Gò má như cánh gà xương xẩu. Tôi hình dung có thể ông bị nhiễm HIV, bệnh Aids chăng. Ông sắp chết. Đầu gối, cánh tay chỉ còn xương. Hai tròng mắt lồi cao như hai quả cau. Tôi biết chắc ông sẽ chết nay mai.



Các thiện nguyện chia nhau, một bên sắc sóc nữ, một bên nam. Lây đồ ăn rồi cho bệnh nhân ăn. Tắm cho họ. Cho họ uống thuốc. Lau nhà. Giờ nghỉ trưa ngồi uống trà lại cười giỡn. Tay thanh niên Canada lúc nào cũng thích hát. Lâu lắm tôi mới lại nghe những bài ca tiếng Pháp. Lõm bõm mấy câu: L’amour. L’amour. Tình yêu. Ôi! Tình Yêu. À thì ra anh ta đang hát một bài chuyện tình.



Cô bé người Nhật thấy tôi mới đến ngày đầu, tới gợi chuyện:
- Ông là người Việt Nam hả?
- Đúng vậy, tôi người Việt Nam.
- Ở đây cũng có một cô Việt Nam.
- Vậy à? Cô ta đâu?
Nghe vậy, tôi rất ngạc nhiên, không ngờ cũng có người trẻ Việt Nam lần mò đến đây. Sau này tôi gặp hai cô bé, Tuyết Anh và Lan. Cả hai cùng đạo, đang học trường thuốc, mới hai mươi hai tuổi. Tuyết Anh và Lan sống ở Na Uy.



Ý định ban đầu của tôi đến đây là để suy niệm về sự chết. Tôi muốn nhìn khi người ta chết sẽ ra sao. Tôi đang trăn trở về sự chết và mầu nhiệm thế giới bên kia. Chết là đề tài bận tâm trí tôi. Mục đích thứ hai là quan sát, như người đi tìm tài liệu viết bài. Mới sau một ngày, tôi thấy mình thay đổi. Tôi không thể là người quan sát được.



Làm việc với các bạn trẻ, bên những tâm hồn giàu quảng đại tươi vui. Tôi thấy họ tràn đầy sức sống. Nhìn anh thanh niên người Đức săn sóc ông già, tôi thấy mình phải viết về sự sống chứ không thể tập trung về sự chết. Sự sống quá đẹp. Hãy nói về những người đang sống, những người đang săn sóc sự sống. Tôi thấy những người nằm chết không là đề tài gợi sự đau khổ cho tôi viết, mà là sự sống của những trái tim quảng đại kia.



Điều thứ hai tôi thấy mình thay đổi là không thể chỉ đứng ngoài làm người quan sát. Tôi không thể xem họ chết rồi viết bài. Như vậy tôi sẽ lạc lỏng ở đây. Chỉ khi nào tôi hoà vào cuộc sống nơi này, với kẻ chết, với niềm vui của các thiện nguyện kia tôi mới thực sự hiểu điều tôi “quan sát”.

Ngày thứ nhất trong ngôi nhà cho người chờ chết đã làm thay đổi hai thái độ của tôi, một là nhìn vào sự sống thay vì sự chết, hai là tôi phải sống thật chứ không thể chỉ quan sát. Với hai thái độ trên, tôi lưu lại Calcutta một tuần.



Lạy chúa, sống chết là thân phận con người. Trong cái mỏng dòn của thân phận ấy, nhiều lần tâm trí con hoang mang khắc khoải. Con dùng trí tuệ con tìm biết về Chúa và con đã khắc khoải vô cùng. Chỉ khi nào con xin lòng thương xót Chúa con mới được an bình thôi.

Trước cái chết, con không thể dùng trí tuệ phân tách được. Con đi về đâu trong cõi vô hình kia? Chắc chắn rồi con sẽ chết. Sự hiểu biết nào đỡ nâng con? Ai là người cho con can đảm, bình an, niềm vui? Chỉ có Chúa mà thôi. Con cần Chúa hôm nay để con hiểu mầu nhiệm chết là tập sống trọn vẹn. Xin giúp con sống và sống fully alive, sống từng biến cố buồn vui, khó khăn, sống trọn vẹn trong Chúa để thấy đời luôn luôn đẹp. Amen.

Nguyễn Tầm Thường  SJ

trích trong : Những trang Nhật ký của một Linh mục




< Sửa đổi: coLaido -- 8/13/2009 1:03:30 PM >



_____________________________

. http://www.memaria.org
. http://www.thanhlinh.net

(trả lời: coLaido)
Bài số: 721
Thầy Bà la môn và Mẹ Têrêsa - 8/20/2009 12:18:14 PM   
coLaido


Bài: 945
 THẦY BÀ LA MÔN VÀ MẸ TÊRÊSA

 Trước khi giã từ Ấn Độ. Tôi đến nhà những người chờ chết thăm lần cuối cùng. Ông già không còn giao tiếp gì được nữa. Ông không cử động. Anh thanh niên người Đức ngồi bên cạnh, xoa trên cánh tay ông. Họ chỉ giao tiếp với nhau bằng mắt. Tôi đứng bên cạnh nhìn xuống. Anh thanh niên người Đức cứ nói với ông như nói với một người thường. Tôi biết, anh ta nói chỉ là để trấn an cho người sắp chết, ông hãy yên tâm. Ông như bộ xương trên giường. Người ta đặt tay ông về phía nào, tay ngả phía ấy. Trên cặp mắt lồi to, tôi thấy nước mắt ông ứa ra.

Từ chỗ xe buýt đậu ngoài lộ chính, phải đi một quãng đường, qua khu chợ mới tới nhà dành cho những người đang hấp hối này. Mỗi sáng đến đây, từ phía chợ nhìn vào, tôi cứ thắc mắc ngôi nhà xây sao kì cục vậy. Trên nóc nhà là hai tháp cao xây theo hình một đền Hindu của Ấn Giáo. Vô tình một ngày tôi nói chuyện với cha Robert Drugman:


- Cha có biết Mẹ Têrêsa bắt đầu công việc thế nào không?
Cha kể:
- Ngày xưa, sau khi được phép bề trên ra ngoài phục vụ người nghèo, Mẹ đi ngoài đường, săn sóc người sắp chết. Ở gần nhà bây giờ săn sóc cho người sắp chết, chỗ cha vẫn tới đó, có một con hẻm. Tối đến người nghèo thường kéo nhau về đấy ngủ. Dần dần thành nơi tập trung của họ. Mẹ Têrêsa đến săn sóc cho những người hấp hối này. Dần dần họ kéo nhau về đấy đông hơn. Con hẻm quá gần đền thờ. Người theo đạo Hindu không chịu để xác người chết gần đền thờ như thế. Họ kiện thầy Bà La Môn trụ trì đền thờ. Vì ông này đồng ý cho Mẹ Têrêsa đến, nên bà mới hoạt động được.

Kể tới đó cha đưa cánh tay trần quẹt mồ hôi trán. Hôm ngài kể chuyện này chúng tôi ngồi ở hành lang nhà dòng ở Calcuta. Trưa hè rất nóng, nhưng hè ở Ấn Độ cũng đầy hoa phượng và hoa bằng lăng tím. Cây bằng lăng ngoài cổng nhà nở kín trời một màu tím. Cha kể tiếp:
- Người ta kiện thầy tư tế Bà La Môn tại sao cho bà Têrêsa đến hẻm đền thờ như thế. Toàn xác người chết gần đền thờ.
Cha ngừng lại hỏi tôi:

- Rồi cha biết ông thầy Bà La Môn trả lời họ ra sao không? Ông ta ủng hộ bà Têrêsa. Ông nói với những người phản đối thế này: “Khi nào mẹ và con gái các người đến đây săn sóc những người hấp hối này thay thế cho bà Têrêsa thì tôi đuổi bà đi!” Dĩ nhiên không ai đến. Gốc tích là vậy, vì thế sau này chùa đó trở thành nơi Mẹ Têrêsa săn sóc người hấp hối.
Tôi hỏi cha:
- Đấy quả thật là địa điểm lịch sử. Chỗ ấy còn không?
- Còn chứ! Chính là Kalighat, ngôi nhà cha vẫn đến làm việc đó.
Không ngờ chính ngôi nhà tôi vẫn đến cả tuần nay lại là di tích lịch sử ấy. Chuyện gì cũng có nguồn gốc, nhờ thế tôi mới biết tại sao nhà cho người hấp hối mà lại xây có tháp giống y hệt ngôi đền thờ Hindu Ấn Giáo. Ngày Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến Ấn Độ, từ phi trường Ngài đã tới thẳng nơi đây trước khi bắt đầu chuyến viếng thăm đất Ấn. Rất tiếc nhiều người đến ngôi nhà đó mà không biết lịch sử của nó.



Biết thêm về lịch sử ngôi nhà, mỗi sáng tới đó tôi thấy ý nghĩa hơn. Từ phía xa ngoài chợ đã thấy hai tháp đền thờ. Những con người như Mẹ Têrêsa và nhà tu Bà La Môn kia, họ không lấy tôn giáo làm cứu cánh. Tôn giáo chỉ là phương tiện đi về Tình người. Tình thương mới là cứu cánh. Tôn giáo là cứu cánh sẽ đưa đến chiến tranh tôn giáo. Tôn giáo phải đưa con người đến lòng độ lượng bao dung. Như Thiên Chúa trong Kitô Giáo đã đồng hoá Ngài với chính con người. Trong cuộc phán xét cuối cùng, Phúc Âm tường thuật Thiên Chúa ấy nói: “Đi đi cho khuất mắt ta mà vào lửa đời đời, nơi dành cho tên Ác Quỷ và các thần của nó. Vì xưa Ta đói các người không cho ăn, khát các người đã không cho Ta uống”. Nghe vậy, họ chối là có bao giờ xảy ra như thế đâu. Thiên Chúa có đáp lại: “Mỗi khi các ngươi không làm như thế cho những người bé mọn này là không làm cho chính Ta” (Mt. 25:35-45).
Đức Kitô, Ngài kéo con người đến một kết hiệp cao nhất với Ngài là Ngài đồng hoá họ với Ngài. Con Người không tự mình trở nên giống Ngài thì Ngài tự hạ mình xuống mặc thân xác con người để đến với con người. Rồi trong bí tích Thánh Thể, Ngài tìm cách hoà tan thần tính Ngài trong con người chúng ta. Dựa trên lời Ngài nói ai không cho những người trong cơn đói này một bát nước là không cho chính Ngài, ta thấy bí tích Thánh Thể càng có ý nghĩa. Bí tích ấy không thể là biểu tượng được mà bánh, rượu kia phải là hịên diện thật sự của Ngài. Ngài không thể nuôi con người bằng một hình thức tượng trưng, bánh thánh ấy phải là của ăn thật. Lãnh nhận bí tích ấy không phải chỉ là đến với Chúa mà cũng phải là đến với con người đồng loại.


Tôn giáo đối với Mẹ Têrêsa và thầy Bà La Môn là Thiên Chúa trong con người. Họ không lấy con người làm đá xây dựng mái nhà tôn giáo, mà lấy tôn giáo phục vụ con người. Cả hai cùng dùng tôn giáo đi tìm tình thương. Họ hiểu thế nào là tôn giáo thực sự.


Tác giả Nguyễn Tầm Thường, sj.
trích trong : Những trang Nhật ký của một Linh mục



< Sửa đổi: coLaido -- 8/20/2009 12:26:05 PM >

(trả lời: coLaido)
Bài số: 722
Bên mộ Mẹ Têrêsa - 8/28/2009 12:15:49 PM   
coLaido


Bài: 945
BÊN MỘ MẸ TÊRÊSA

Tôi thích nhìn những người lính gác mộ. Họ đứng như tượng gỗ. Thú vị nhất là khi đổi phiên gác , họ múa gươm, tung súng, quay lưng nhịp nhàng. Ngay ở Đài Loan, tôi có dịp tham quan ngôi mộ Tưởng Giới Thạch, vào đến sân vườn đã thấy bầu khí uy nghiêm, du khách phải thinh lặng. Lúc nào cũng có khói hương.


Mộ Mẹ Têrêsa hoàn toàn khác. Trước cửa phòng nhà dòng chỉ có cái sân nhỏ, nơi thanh niên nam nữ thiện nguyện ngồi nói chuyện, nơi họ ăn sáng trước khi đến các nhà săn sóc người bệnh làm việc. Mộ Mẹ an nghỉ ngay trong phòng đó. Một ngôi mộ trắng. Ngôi mộ giữa phòng khách, người ra vào, đi lại tự nhiên. Mộ Mẹ giống như chiếc bàn trong gia đình. Trên mộ có tượng Đức Mẹ và một bình hoa. Thình thoảng có sơ nào đó thương nhớ Mẹ chăng, rải thêm những cánh hoa nhỏ trên mặt ngôi mộ. Chung quanh căn phòng là hình ảnh ngày Mẹ còn sống và sinh hoạt của chị em trong dòng. Tôi đến đây ngày đầu tiên 13.5.2001.


Trước cửa phòng ngôi mộ Mẹ là cái sân nhỏ làm chỗ tiếp khách, các thanh niên nam nữ thiện nguyện đang ăn sáng. Tình nguyện làm việc ở đây hầu hết là các bạn trẻ. Họ đến từ khắp thế giới. Tôi đến dâng lễ và ăn sáng với những người bạn trẻ này trước khi họ đi làm. Một số lớn từ nhà trọ đi làm luôn không tới đây, họ là những người đã ở đây lâu. Còn các bạn đến đây, phần lớn là những người mới, họ muốn gặp gỡ, đi chung với nhau vì chưa sành đường. Ban sáng các sơ cho bánh mì, cà phê, chuối. Theo tỉ lệ, bạn trẻ Nhật Bản đông nhất. Nơi đây không còn ranh giới quốc gia, không còn màu sắc tôn giáo, họ thân thiện với nhau ngay từ phút gặp gỡ, giúp nhau lấy xe buýt đi đến các nhà trong thành phố làm việc. Họ chỉ cho nhau chỗ nào thuê nhà rẻ, chỗ nào ăn ngon, ít tốn tiền mà an toàn. Có người đã ở vài tháng, có người vài tuần, có người mới tới.


Tôi gặp một nhóm bẩy người tên trẻ người Úc, tuổi chừng mười tám, ngoài hai mươi, đi nghỉ hè chung với nhau. Chúng nghịch như giặc, nhưng rất dễ thương. Họ trẻ nên đầy năng lực, lúc nào cũng ca hát đùa giỡn. Trên đường đi hè, chúng ghé Calcuta, ở lại vài ngày đến giúp các sơ làm việc phục vụ người nghèo. Sau mấy ngày lại lên đường đi chơi tiếp. Những người trẻ là vậy. Có bạn đến vài tháng. Đủ mọi trường hợp. Cho dù chỉ tình nguyện làm việc vài ngày, các sơ cũng nhận.


Các sơ có thánh lễ vào lúc 6:30 sáng. Sau đó túa ra đi làm. Có bảng đề cấm chụp hình, tôi xin sơ chụp vài tấm kỷ niệm. Trong phòng thánh, trước bàn mặc áo lễ, Mẹ Têrêsa viết lời nhắc nhủ các linh mục:
                      HỠI LINH MỤC CỦA THIÊN CHÚA.
             XIN CHA DÂNG LỄ NÀY NHƯ LỄ MỞ TAY.
                           NHƯ THÁNH LỄ SAU CÙNG.
VÀ NHƯ THÁNH LỄ DUY NHẤT CHỈ CÓ MỘT LẦN TRONG ĐỜI.


Mẹ Têrêsa rất yêu quý bí tích Thánh Thể. Đọc trong hiến pháp và đường tu đức của dòng, tôi thấy họ đề cập đặc biệt đến lòng tôn sùng Thánh Thể v à câỵ nhờ công việc qua Mẹ Maria.
Cũng có nhiều người đến viếng mộ và cầu nguyện. Ngôi mộ thân tình như một phòng khách gia đình. Cha Robert Drugman, S.J. đã làm việc với Mẹ Têrêsa từ lâu. Tôi nghĩ thế nào mà ngài không có những kỷ niệm. Bên hành lang, cạnh ngôi mộ, tôi gợi chuyện:
- Thưa cha, Mẹ Têrêsa bắt đầu công việc như thế nào, cha biết không?
- Tôi sống và làm việc cạnh Mẹ mấy chục năm nay. Theo những gì tôi biết, một trong những hình ảnh đánh động nhiều, ảnh hưởng ơn gọi của Mẹ là ngày kia, Mẹ đang ở gần nhà ga, thấy một người đàn ông sắp chết. Mẹ đi tìm nhà thương cho ông ta. Không ai nhận ông ta cả. Như cha biết, đường xá xứ Ấn này, động mưa một tý là cống rãnh ngập lụt. Trong khi Mẹ đi tìm nhà thương, trời đổ mưa. Đợi sau cơn mưa, trở lại chỗ ông ta nằm thì người đàn ông chết ngập nước. Nước cống rãnh nổi lên, ngập mặt ông ta khoảng gang tay. Đó là câu chuyện của mấy mươi năm về trước. Một kỷ niệm đau đớn về thân phận con người với Mẹ Têrêsa.


Chúng tôi ngồi nói chuyện ngay cửa ra vào. Bên cạnh bức tượng đồng, tạc chân dung Mẹ Têrêsa. Chuyện riêng đời cha Robert cũng dài lắm. Hôm trước khi rời Calcuta cha mời tôi lên phòng để tặng cuốn sách ngài viết. Cuốn sách có lời tựa của Mẹ Têrêsa. Cuốn sách nói về sự sống con người. Ngài quyết liệt chống lại phong trào đòi quyền phá thai. Ngài lao sức làm tất cả những gì có được để chống phong trào này. Viết sách, thuyết trình, tìm cách cổ võ sự sống con người. Cha Robert sinh trưởng ở Canada, qua Ấn từ thời sinh viên. Tôi khó hình dung một giáp sư đại học sống đơn giản thế này. Tò mò, như bị thu hút bởi lối sống truyền giáo đó, tôi muốn biết xem ngài dạy gì, có bằng cấp ra sao, tôi gợi chuyện:
- Cha qua Ấn thời còn trẻ, chắc cha tốt nghiệp ở Ấn?
- Không, sau khi thụ phong linh mục, tôi đi Mỹ. Tỉnh dòng nghèo, không đài thọ được tiền học. Tôi xin được tỉnh dòng bên Mỹ giúp.
- Cha dạy môn gì?
- Religion and physic. Tôn giáo và vật lý.
Cổ áo cha cáu ghét đen. Đường xá Ấn rất bụi bặm, khói xe, đất cát, chỉ cần một ngày ra đường nhiều là ống tay, cổ áo cáu ghét ngay. Mồ hôi ướt lưng, chiếc quạt phành phạch lúc lắc trên trần. Tôi nhìn con người này đã bao năm sống trong chiếc phòng đơn sơ. Chưa mãn nguyện với tò mò, tôi gợi ý xa xa:
- Cha dạy vật lý, chắc cha có bằng cấp ở bên Mỹ?
- Ph.D.
Trong câu chuyện “Tiếng Chuông” tôi viết cách đây mấy năm về trước đăng trong tập truyện ngắn Tiếng Gọi Phía Bên Trong, căn phòng cha già trong truyện cũng không khó nghèo như cha Robert. Đợi cha lấy sách tặng, tôi nhìn ngài lúi húi tìm cuốn sách trong thùng giấy. Không thể nghĩ một ông tiến sĩ vật lý, giáo sư đại học mà không cần tủ sách. Ngoài bàn làm việccó một ghế bố, có lẽ ngài không bao giờ dùng vì rất nhiều bụi. Trên bàn viết, một chiếc đồng hồ báo thức đã bị tháo tung. Giây cót, các bánh xe răng cưa bằng đồng, đinh ốc nằm đầy trên góc tờ báo. Ngài bảo tôi ngài còn có nghề sửa đồng hồ.


Nối kết những ý tưởng lúc ngài nói chuyện. Tôi bắt được ý một phần về thái độ sống của ngài. Tôi hiểu tại sao ngài làm việc gắn bó với Mẹ Têrêsa. Vì cả hai đều chủ trương nghèo khó tinh thần phải thể hiện bằng khó nghèo trong cả vật chất. Dòng Mẹ Têrêsa chủ trương sống cái nghèo vật chất này. Có lần ngài nói với tôi:
- Đi bộ thì muốn đạp xe, đi xe đạp muốn có xe gắn máy, có xe gắn máy muốn xe hơi. Cứ cái này đòi cái kia.


Những linh mục truyền giáo tôi gặp đều có tinh thần sống đơn giản như thế. Trước khi rời Calcuta tôi cũng gặp cha lần cuối. Nhìn căn phòng của cha, tôi lại nhớ dáng đi của ngài hôm đầu tiên dẫn tôi tới nhà dòng Mẹ Têrêsa. Người đi cứ cúi mặt lao về phía trước, đi rất lẹ. Mồ hôi chảy ướt bả vai chiếc sơ mi cụt tay. Thỉnh thoảng lại lấy cánh tay quệt mồ hôi trên trán. Theo “tướng số”, người ta bảo dáng đi như thế là người suốt đời vất vả. Ngày đầu tiên đến Calcuta, cha là người đã dẫn tôi giới thiệu với các sơ để làm việc. Nhờ cha kể chuyện, tôi biết thêm về cuộc đời của Mẹ Têrêsa, người đang an nghỉ trong ngôi mộ kia.


Tác giả Nguyễn Tầm Thường, sj.

trích trong : Những trang Nhật ký của một Linh mục












(trả lời: coLaido)
Bài số: 723
Người mẹ của biên giới sống và chết - 9/2/2009 9:00:48 AM   
coLaido


Bài: 945

NGƯỜI MẸ CỦA BIÊN GIỚI SỐNG VÀ CHẾT

 Năm 2000 tôi giúp tĩnh tâm cho cộng đoàn Công Giáo Việt Nam ở Oakland, miền bắc California. Hôm ấy, cuối nhà thờ có người gọi tôi. Quay lại nhìn ngờ ngợ, ai ngờ đâu tôi gặp lại người đàn ông tôi đang muốn tìm từ lâu.



Sáu năm làm việc tại trại tị nạn Palawan, Philippines 1989-1995, tôi gặp ông ở đấy. Một người đàn ông im lặng, ít nói. Ông lúc nào cũng như có chuyện khổ tâm. Ngày ngày ngồi tráng bánh ở một góc đường trong khu trại tỵ nạn. Ngâm gạo đêm trước, dậy bánh tráng từ hai giờ sáng, bên vỉa đường. Mỗi ngày vài chục pesos. Ngày ấy, 1 US dollar được 25 pesos tiền Philippines. Hoàn cảnh tỵ nạn bấy giờ nhiều người túng cực. Ông phải đùm bọc hai người gốc Chàm không người quen với bốn em bé không thân nhân. Mấy người sống chung với nhau trong căn nhà tỵ nạn. kẻ sách nước, người kiếm củi, ông tráng bánh. Lhoảng ba tháng ông góp được hai chục đôla, lại nhờ Cha Crawford, một cha già người Mỹ trước ở Việt Nam, sau qua trại tỵ nạn giúp đồng bào, gởi qua trại tỵ nạn Hongkong cho vợ.



Ông rời cửa biển Cam Ranh ngày 2.9.1988 vào đất Philippines. Một năm sau, tháng 9 năm 1989 ghe của vợ ông rời Vạn Ninh, Nha Trang được hai ngày bị bể máy. Ghe lênh đênh trên biển đông, rồi lâm nạn. Vợ ông đem theo ba con nhỏ. Hết lương thực, nhờ mưa gió có nước uống mới sống sót. Sau nhiều ngày bão táp, một chủ ghe đánh cá người Tàu ở đảo Hải Nam bắt gặp chiếc ghe lâm nạn này. Ông ta chỉ đồng ý tiếp tế gạo, cho nước và kéo ghe ra khỏi vùng lâm nạn san hô với điều kiện cho ông ta bé cháu trai trên ghe. Cháu bé chính là con của người đàn ông này.



Kể từ ngày rời bờ biển Vạn Ninh đến khi gặp chiếc ghe Người Tàu rồi cập được vào đất liền là 25 ngày. Nước Tàu hạn chế sinh sản. Ông chủ ghe người Tàu mong một cháu trai mà không được. Cuộc mặt cả là xé ruột gan người mẹ. Trước biên giới sống và chết, họ phải chọn sống. Vấn đề ở đây là sự sống của toàn thể 44 người trên chiếc ghe. Nếu không mất đứa bé, toàn ghe có thể chết. Chiếc ghe đánh cá người Tàu mang theo cháu bé rồ máy chạy vội vã biến mất hút về phía Trung Quốc. Rồi tin ấy đưa đến cho người đàn ông này ở Palawan. Mỗi ngày ông ứ lặng lẽ tráng bánh, kiếm ăn gởi qua cho vợ ở trại tỵ nạn Hongkong. Đau thương vì mất con. Con tôi trôi dạt nơi đâu? Vợ chồng mỗi người một ngã. Đứa con mất tích sẽ ra sao. Dáng ông buồn lắm. Cháu bé lúc đó mới hơn ba tuổi.



Cha Crawford kể cho tôi câu chuyện này. Không biết người đàn ông đã nhờ cha già gởi tiền cho vợ như thế bao lâu rồi. Theo ông kể lại, vì không là người Công giáo, ông đâu có tới nhà thờ. Một hôm có mấy người vào cha xin tiền mua tem gởi thư. Ông cũng đi theo Rồi một linh cảm nào đó sai khiến ông gặp cha. Ông kể cho cha già nghe chuyện ông mất con.



Một trong những ý định qua trại tỵ nạn làm việc của tôi là thu lượm những mẫu đời thương đau của người tỵ nạn. Tôi tìm gặp ông ta để hỏi chuyện.
Câu chuyện bắt đầu…
Sau khi chiếc ghe được kéo vào đảo Trung Quốc, một nửa số người quá sợ hãi, đi đường bộ trở về Việt Nam. Số còn lại kết hợp với ít người đã trôi dạt vào đảo trước đó, sửa ghe tìm đường qua Hongkong. Người đàn ông tưởng chừng vợ đã chết trên biển vì hơn ba tháng sau mới nhận được mấy lời nhắn tin viết vội bằng bút chì từ trại tỵ nạn Hongkong. Ông đưa miếng giấy nhàu vớt nét bút chì mờ cho tôi. Sau khi ông rời trại tỵ nạn, mất liên lạc, tôi chỉ còn giữ tấm giấy như một kỷ niệm quý hơn chục năm nay.
Đó là lá thư thứ nhất ông nhận được. Những lần giảng trong thánh lễ về tình nghĩa vợ chồng, tôi lại nghĩ đến ông. Một người đàn ông cặm cụi tráng bánh để rồi ba tháng trời dành được 20 đôla gởi tiếp tế cho vợ.



Ông tâm sự với tôi là ông dự tính một ngáy náo đó được đi định cư, dành dụm tiền rồi đi Trung Quốc dò hỏi tin con. Nghe ông nói vậy, tôi thấy ngao ngán cho ông. Bao giờ ông mới được định cư? Rồi định cư xong, biết bao giờ ông mới thực hiện được mơ ước? Tình trạng tỵ nạn lúc này quá bi đát. Mười người vào phỏng vấn may ra đậu được ba. Đất Trung Quốc rộng mênh mông như thế biết tìm đâu? Bao nhiêu khó khăn như tuyệt vọng hiện ra trước mặt. Tôi thấy ý nghĩ mơ ước đi tìm con của ông như cây kim lặng lờ nhìn xuống lòng đại dương.
- Tại sao không nhờ Cao Uỷ Tỵ Nạn, nhờ Hội Chữ Thập Đỏ Hongkong?
Người đàn ông này sợ lên tiếng như thế gia đình Tàu kia biết tin sẽ trốn mất. Chi bằng cứ âm thầm tìm kiếm. Tôi thấy dự tính của ông khó khăn quá. Những năm làm việc bên cha già, tôi biết một đặc tính của ngài là thương kẻ nghèo. Ngài thương họ vô cùng, ngài sẽ làm bất cứ gì có thể. Tôi đề nghị cha già cứ viết thư khắp nơi, kêu cầu tứ chiếng.



Các thư được viết đi. Ngài cầu cứu Cao Uỷ Tỵ Nạn, Hội Hồng Thập Tự, cơ quan từ thiện dịch vụ tỵ nạn Công Giáo, từ Manila đến Bangkok, Thailand. Đợi chờ mãi mà năm tháng cứ bặt tin. Tôi vẫn thấy người đàn ông cứ dáng điệu buồn bã ngồi bên đường ytáng bánh. Trời nhiệt đới nắng và nóng, mỗi khi xe chạy qua, bụi đường bay mờ người. Hàng ngày lên nhà thờ, tôi lại hình dung bóng hình ông. Chỗ ông ngồi không xa tháp chuông nhà thờ  bạc vôi sơn và tiếng chuông mỗi chiều là bao.



Mỗi chiều dâng lễ, tôi lại nhìn thấy cây thánh giá trên nóc nhà thờ đã nghiêng vì gỗ bị mục. Cây thánh giá trải qua nhiều mùa mưa nắng quá rồi. Bức hình Mẹ Maria bế Chúa Hài Nhi trên tấm ván ép dưới cây thánh giá cũng bạc nước sơn. Những người ỵ nạn đã bỏ một vùng đất rất xa. Quê hương của họ bên kia bờ biển mặn. Nhiều người cứ chiều chiêề ra biển ngồi. Đêm về sóng vỗ ì ầm. Biết bao người đã không tới bến. Họ đến đây tìm an ủi trong câu kinh.


Giữa tháng ngày cằn cỗi ấy, rồi một chiều bất ngờ tin vui đến. Hội Hồng Thập Tự Hồng Kông báo tin về Manila. Manila điện xuống báo cho cha Crawford biết người ta đã tìm được cháu bé.
Lúc bắt cháu bé, người Tầu trên ghe đánh cá kia đã lanh trí che tất cả số ghe. Không ngờ trời xui khiến, trong lúc thương lượng bắt cháu, trên chuyến ghe tỵ nạn Việt Nam có kẻ lại ghi được mấy chữ Tàu ở đầu ghe bên kia Vào một chiếc áo. Không ngờ chiếc áo này lại là chính chiếc áo của cháu bé bỏ lại. Quả thật là chiếc áo định mệnh. Nguồn gốc nhờ mấy số ghe đó mà sau này người ta mới phanh phui ra được gốc tích chiếc ghe. Đó là một thuyền đánh cá ở đảo Hải Nam.



Tìm được cháu rồi, bây giờ lại đến phần gia đình người  Tầu đau khổ. Cháu không còn nói được tiếng Việt, vì hơn một năm liền mọi sinh hoạt trong gia đình kia là của cháu. Hồi bị bắt cháu còn quá bé, mới hơn ba tuổi. Bà mẹ người Tàu cũng khóc, biết mình sẽ mất đứa con mà họ đã nuôi. Họ nhất định không trả. Cao Ủy phải can thiệp nhiều lắm. Gia đình ở đảo Hải Nam kia dựa lý do là cháu đang được nuôi nấng tử tế, còn ở trại tỵ nạn cháu thiếu thốn đủ thứ, họ không chịu mất con. Nhưng Cao Ủy bắt phải trả cháu về cho bố mẹ ruột. Để thỏa mãn điều kiện kia, sở di trú Mỹ liền cho bà mẹ bị bắt con quyền định cư tại Mỹ, dù đã đến trai sau ngày thanh lọc. Trong lúc đó người đàn ông này đã bị Mỹ từ chối tại Philippines. Ông buồn lắm. Cha Crawford bảo tôi rằng vợ người đàn ông đã được vào Mỹ, nên cơ quan Cao Ủy tỵ nạn tại Philippines yêu cầu cho ông cùng được vào Mỹ theo. Vì nhân đạo sở di trú Hoa Kỳ đồng ý. Tin vui như vậy mà ông cứ đứng như trời trồng không tin chuyện có thể xảy ra như thế.



Ngày trao trả cháu bé, báo chí Hongkong đăng hình cháu khóc thảm thiết. Cháu đẩy mẹ ruột ra, đòi về với mẹ nuôi. Người mẹ muôi khóc vì thương nhớ cháu. Mẹ ruột cũng khóc vì thấy lại con mà con không biết mình. Tất cả ai cũng khóc. Cao Ủy tỵ nạn bồi thường lại phí tổn nuôi nấng cháu bé cho gia đình người Tầu kia. Chuyến bay rời Hongkong mang theo bao tình cảm nhân loại của con người với con người.



Thời điểm bấy giờ không biết bao chuyện thương tâm xảy ra. Hàng trăm ngàn người chết trên biển, ăn thịt nhau vì chết đói. Hải tặc Thailand tung hoành bắt người nhốt ngoài đảo, hăm hiếp, chặt răng vàng, giết. Đối với thế giới chuyện cháu bị bắt cóc chỉ là chuyện nhỏ. Vậy vì đâu họ ra sức đi tìm?



Đây là lý do:
Câu chuyện thương tâm của người mẹ mất con đến tai Mẹ Têrêsa Calcuta. Ấn Độ là thuộc địa cũ của người Anh. Mẹ Têrêsa viết cho chính phủ Anh xin can thiệp chuyện này. Từ London, chính phủ Anh xin bộ ngoại giao Bắc Kinh điều tra tìm chiếc ghe mang số như thế.


Bên ngôi mộ Mẹ Têrêsa ở Calcutta, ngày 14.5.2001 tôi kể chuyện này cho Sơ bề trên dòng. Sơ yêu cầu tôi viết lại cho sơ làm tài liệu. Trong những ngày này, nhân viên Toà Thánh đang ở Calcutta điều tra để xúc tiến hồ sơ phong thánh. Một linh mục ngồi nghe chuyện tôi kể, ngài nói:
- Tâm hồn Mẹ Têrêsa rất bao dung. Mẹ thương người nghèo. Mẹ là người của biên giới giữa sống và chết.
Nghe câu nói đó của cha. Tôi hiểu ý là Mẹ luôn đứng bên lề sự sống kéo kẻ chết về phía mình. Chính vì thế tôi đặt tên cho bài viết này là: Người Mẹ của biên giới sống và chết.



Nghe tiếng người đàn ông gọi. Quay lại nhìn, không ngờ chính người đàn ông mất con, ngồi tráng bánh ở trại Palawan ngày xưa, tôi mừng lắm. Sau lễ chiều, tôi tới nhà ông dùng cơm. Ông rời trại tỵ nạn Palawan tháng 6, lên Bataan rồi vào Mỹ tháng 12 năm 1990. Không ngờ mười năm sau tôi gặp lại.



Cháu bé bây giờ lớn rồi. Chuyện đã hơn cả chục năm qua. Cháu chẳng nhớ gì. Riêng cha mẹ thì nhớ lắm, nhất là những gì đau thương vì con cái thì trong trái tim cha mẹ không bao giờ quên. Còn tôi, đấy là một kỷ niệm đẹp trong những ngày làm việc bên trại tỵ  nạn. Không ngờ có ngày tôi gặp lại người đàn ông này. Không ngờ có ngày tôi ngồi bên mộ Mẹ Têrêsa trên đất Ấn. Một vùng đất rất xa với chỗ ngồi tráng bánh của người đàn ông mất con. Không ngờ tôi lại là kẻ chứng kiến những chuyện tình này, để rồi nối kết khung trời này với khung trời kia. Không ngờ vào ngày lễ Phục Sinh năm 1999 ông đã nhận lãnh bí tích Rửa Tội, nếu ông không đi lễ ở nhà thờ Oakland hôm đó, làm sao tôi gặp lại?



Tại vùng đất Vạn Ninh, chỉ có một ngôi nhà thờ nhỏ miền quê độc nhất. Đêm Noel 1985 sau khi đến nhà thờ về, em bé chào đời đúng ngày 25 tháng 12 năm 1985. Người đàn ông kể cho tôi ngày sinh nhật của em thật đặc biệt. Còn tôi, tôi thấy ngày em mới hơn ba tuổi phải hy sinh để cứu chuyến ghe là hình ảnh thế mạng sống chuộc thay cho người khác.



Trong câu chuyện này cả ba người đàn bà đều có những tấm lòng rất đỗi đáng yêu. Người mẹ sinh cháu bé, bao yêu thương và xót xa. Mẹ Têrêsa với tấm lòng hiểu nỗi thương đau của những người mẹ. Bà mẹ nuôi người Tầu đã săn sóc em khi ông chồng đánh cá đem cháu về. Tất cả là tấm lòng bao dung của những bà mẹ.
Tôi viết dòng này, cha già Crawford đã chết rồi. Mẹ Têrêsa cũng chết rồi. Ngày mai, giữa biên giới của sự sống và chết còn những chuyện không ngờ nào sẽ xảy đến nhỉ?




Tác giả Nguyễn Tầm Thường, sj.

trích trong : Những trang Nhật ký của một Linh mục




_____________________________

. http://www.memaria.org
. http://www.thanhlinh.net

(trả lời: coLaido)
Bài số: 724
Ngả đường ít người đi ... - 9/15/2009 2:33:53 AM   
coLaido


Bài: 945
Ngả Đường Ít Người Đi, ảnh của Cao Tường








(Bản dịch của HP-TNT)


Trong cánh rừng con đường chia hai ngả
Tôi tiếc mình không thể bước cả hai
Đi một mình, đứng ngắm một ngả hoài
Ngút tận xa nó khuất lùm cây rậm

Rồi
tôi đi ngả kia cho công bằng thận trọng
Hy vọng sẽ khá hơn
Đường nhiều cỏ và có vẻ mòn hơn
Mặc dầu,
Hai lối đi đều đã mòn tương tự

Sáng hôm đó
Hai ngả đường đều phủ đầy lá
Chẳng vết chân nào đã dẫm lên.
Ồ!  Tôi đánh dấu
ngả đầu ưu tiên cho ngày khác!
Nhưng làm sao tôi biết chắc được
lối đi nào dẫn lại ngả đường
có thể chẳng bao giờ trở lại bước.

Ngày kia khi tuổi đời chồng chất
Tôi cất tiếng thở dài kể lại:
Con đường
chia hai ngả tại khu rừng khuất
Tôi đã chọn ngả đường ít người đi nhất
Nó tạo nên tất cả thật rất khác.


THE ROAD NOT TAKEN (Robert Frost)
 
Two roads diverged in a yellow wood,
And sorry I could not travel both
And be one traveler, long I stood
And looked down one as far as I could
To where it bent in the undergrowth;

Then took the other, as just as fair,
And having perhaps the better claim
Because it was grassy and wanted wear;
Though as for that, the passing there
Had worn them really about the same,

And both that morning equally lay
In leaves no step had trodden black.
Oh! I marked the first for another day!
Yet knowing how way leads on to way
I doubted if I should ever come back.

I shall be telling this with a sigh
Somewhere ages and ages hence:
Two roads diverged in a wood, and I,
I took the one less traveled by,
And that has made all the difference.



Tác giả Trần Cao Tường, Lm.


---------------------------------------------------------------------------------------------
***

tạm cất vào đây ít bữa  ... chờ làm trang riêng 

Phi trường Köln -Bonn là sân bay lớn thứ 6 ở Đức,  là một trong số các sân bay hoạt động 24/24 h tại Đức. Về khối lượng hàng hoá, đây là sân bay xếp thứ nhì.

  Phi trường  Ben Gurion  -Tel Aviv
Từ năm 1975 PT được mang tên  Thủ tướng đầu tiên của Israel ( David Ben Gurion ) , được xem là một trong những sân bay đảm bảo an ninh nhất thế giới, với một lực lượng an ninh bao gồm các sỹ quan cảnh sát và những người lính thuộc IDF  ( các lực lượng Quốc phòng Israel ). Các lực lượng an ninh sân bay mặc đồng phục hoặc hoạt động bí mật  để duy trì mức mức cảnh giác và khả năng phát hiện cao các đe dọa có thể xảy ra. Sân bay này đã là mục tiêu của nhiều cuộc tấn công  khủng bố nhưng chưa có sự cố tạo không tặc nào từ sân bay này thành công.

Thành phố Eilat 
là thành phố cực nam của Israel  , gần làng Taba của Ai cập và TP cảng Aquaba của Jordan .
và là nhánh phía đông của Biển đỏ
rộng 80 km2  dân số khoảng  55 000 (2006)
khí hậu nóng và nửa khô do vị trí của nó ở sa mạc Negev  và ở gần các sa mạc Sinai và Arabia  hiệt độ mùa Hè thường vượt mức 40 °C và mùa Đông là 22 °C. Do nước của Hồng Hải  (   biển Đỏ) khá mát (22 °C-28 °C) , sạch sẽ và có nhiều loài sinh vật biển, cộng với cảnh quan sa mạc xung quanh đẹp đã khiến Eilat là một điểm đến du lịch được ưa thích đối với khách nội địa và quốc tế.
Đoàn hh  nghỉ đêm tại   Americana Hotel

Ngày thứ hai  09.11.09

đi dọc Biển đỏ ,đến Taba  gạp HDV du lịch người Ai Cập
Qua biên giới Do thái - Ai cập   : cả một chặng đường đau khổ vì chờ đợi và lo lắng   ... những ngườcii có Pass  VN hay Pass tị nạn  phải đứng lại để xét hỏi và ... ( T không hỏi rõ chi tiết )   mất rất nhiều thời gian khi đi qua biên giới này  !
cũng có cái may nhỏ là nhờ đó t  chụp được mấy tấm hình biên giới có lá cờ 2 nước  và sau đó khi xong các thủ tục thì cả đoàn cũng có hình chụp chung ở cổng chào  Wellcome Egypt



lên đường đến ốc đảo Nuweiba  , nghỉ đêm tại ks gần tu viện thánh nữ Katharina 
( Tu viện này ngày nay thuộc giáo hội Chính thống  Hy lạp , được xây dựng 548-565  ,, rộng khoảng 100 hecta  , toa lạc lưng chừng  ngọn núi Sinai (hay còn gọi là núi Moisen - núi này cao2285m  )  - Tu viện ở độ cao khoảng 1500m so với mục nước biển  - từ năm 2002  được UNESCO công nhận là di sản VH của Thế giới .






   hình tu viện Katharina nhìn từ núi Sinai


Trong Tu viện có 1 bụi gai mà theo truyền thuyết  Chúa đã hiện ra với ông Moisen qua hình lưỡi lửa  , đoàn HH đã cùng nhau dâng Thánh lễ dã chiến  ở gần bụi gai này  , trước đó mọi người cũng đã đặt tay trên bức tường xây dựng dưới bụi gai để âm thầm cầu nguyện , cho mình và những gởi gắm của người thân  ...
Tuy bị thúc hối phải ra khỏi tv  vì đã quá giờ đóng cửa nghỉ trưa  , nhưng Hùng -em cũng kịp thời  phóng lên  bẻ  cho T một cái gai  mang về  ( may quá  cái gai bé bỏng không bị thất lạc dọc đường  )




Khi chúng tôi đến , nghe nói đã đến giờ đóng cửa TV  , nên chỉ được sắp hàng một đi qua 1 khúc , từ của này qua cửa kia rồi ra ngoài trong sự thúc hối của nv ở đó , thật sự T chẳng còn nhớ 1 chi tiết nào trong đó , ngoài việc ..."cấm chụp hình" , trong đó cũng chẳng lấy gì làm sáng sủa ,và đoạn chúng tôi đi qua có phải là phần chính của nhà thờ không , cũng không biết !

*** tài liệu sưu tầm về Tu viện Catharina

Catherine - Tu viện cổ xưa nhất thế giới
Tọa lạc tại chân núi Moses hay còn gọi là núi Sinai - Ai Cập, tu viện Thánh Catherine được xây dựng dưới lệnh Hoàng đế Justinian vào khoảng từ năm 527 đến 565 sau CN. Tu viện này được cho là xây dựng trên vị trí mà tiên tri Moses đã nhìn thấy Chúa Trời qua một bụi cây bốc cháy.


Tu viện Thánh Catherine được xây dựng lên để làm nơi tưởng niệm nữ thánh tử đạo Catherine. Tương truyền, một thầy tu đã tìm thấy thân thể của Catherine tại đỉnh cao nhất của núi Sinai, nơi mà sau này được đặt tên là đỉnh Catherine.

Tu viện Catherine là một trong những tu viện nổi tiếng nhất thế giới, được biết đến như là một nơi mà theo Chính thống giáo, chính trên mảnh đất này tiên tri Moses đã đưa người Do Thái rời bỏ Ai Cập đi về miền Đất hứa.



Tu viện Catherine, thật sự là nơi để trình diễn một cách tự nhiên những công trình vô giá của nghệ thuật từ thế kỷ thứ 6, những đồ khảm Ả Rập, những biểu tượng của Hy Lạp Nga cũng đã được đưa về đây. Về phía Tây của tu viện là những bức tranh dầu được vẽ trên sáp. Tu viện này còn được trang trí bằng đá cẩm thạch, những bức vẽ trên men, ly đựng thánh tích được tặng bởi Nga hoàng Alexander II trong thế kỷ 19 còn bởi Hoàng hậu Catherine của Nga trong thế kỷ 17.


Nhưng có lẽ, ý nghĩa to lớn thật sự của tu viện này chính là việc sở hữu một bộ sưu tập những bản thảo Thánh Kinh (bản chép tay) chỉ sau Vatican. Bộ sưu tập này bao gồm 3500 quyển sách được viết bằng tiếng [Hy Lạp
, Ai Cập, tiếng Armeni, tiếng Do Thái, Slavic, tiếng Xy-ri cổ, tiếng Georgi những ngôn ngữ khác. Người ta cho rằng, năm 1844, một nghiên cứu sinh người Đức đến thăm thư viện, đã phát hiện đánh cắp một bản chép tay Kinh Thánh vô cùng quan trọng từ thế kỷ thứ 4, phiên bản mà giờ đây đang được trưng bày tại một bảo tàng Anh ở Luân Đôn.

Thậm chí, tu viện này còn có một nhà thờ Hồi giáo tên là Fatimid, được xây dựng cách đây ít nhất là 10 hoặc 11 thế kỷ. Nhà thờ này được xây dựng lên để tỏ sự nhượng bộ đối với người Hồi giáo lúc bấy giờ. Tại đây cũng có cả một nhà nguyện nhỏ khác (nhà nguyện Thánh Triphone, được biết đến dưới cái tên Skull House), nơi chứa đầu lâu của những thầy tu đã từng sống qua đời tại đây.

Tu viện Thánh Catherine
có một bề dày lịch sử vô cùng vĩ đại. Đó là một viên ngọc quý, một nơi đáng viếng thăm. Nó được gọi là tu viện cũ nhất của tín đồ Cơ đốc mặc dù tu viện Anthony được xem là tu viện có mặt sớm hơn là một giáo khu nhỏ nhất thế giới.


Tu viện thánh Cartherine còn được củng cố chắc chắn bằng một bức tường đá hoa cương cao từ khoảng 12m đến 61m, bao quanh bởi những khu vườn cây bách. Trước đó cho đến thế kỷ 20, lối duy nhất o tu viện là một cái cửa nhỏ cao 9m, đây cũng chính là lối mang thực phẩm dự trữ cho tu viện lối đi cho những người sống tại đây. Lối đi này được trang bị một hệ thống ròng rọc để đưa thức ăn xuống dưới cho những người du cư.


Tu viện này đã chống lại sự phá hoại trong suốt 14 thế kỷ để tồn tại và
để bảo vệ một kho báu vô cùng quý giá của nghệ thuật, ngày nay, nó là một tu viện cổ nhất thế giới, một nơi được giữ gìn ở trạng thái nguyên vẹn mà không một tu viện nào trên thế giới sánh kịp. Tu viện Thánh Catherine xứng đáng là một di sản văn hóa thế giới.


Sau đó  khi ra ngoài ông HDV  thuyết minh về khu vực này


trời hôm nay trong xanh , nắng vàng và màu vàng cam của núi của bức tường thành  , đó đây là những chú Lạc đà chờ du khách

Lần đầu tiên mới biết thế nào là nắng sa mạc   , khắp nơi một màu vàng cam  .Đẹp thật  !
Cả đoàn kéo nhau sang phía triền núi để cùng chụp chung vài tấm hình , cách nhau 1 khoảng tường thành khá xa nên hình thiếu 2 vị  ( aThanh + a Thuỷ  : chụp hình và quay phim)

Trên đường trở ra xe  bus  , thấy có con Lạc đà vừa cho khách xuống ngay trước mặt   , T  mới có ý định leo lên  cưỡi thử  1 đoạn , sẵn có Cha Đường gần đó nhờ chụp hộ 1 tấm hình  ...  Oh ! thê là cũng  ... như ai  !   tội nghiệp tụi nó phải quỳ xuống đứng lên ,cũng như tội nghiệp cái thân ròm của mình  mỗi khi lên và xuống  ! thót cả tim   ... đi bình thường thì cũng không sao , nhưng trời nắng quá  , rát quá   ( có lẽ trên cao hơn thì nắng hơn chăng ? )  - lại sợ  có nhiều người thấy mình ..." cưỡi Lạc đà"  , thế là xin ... xuống !  ( dù ông nài L Đ nói có thể đưa mình đến tận xe bus    )
coi như mình là một trong mấy người cưỡi ld đầu tiên của đoàn  hihi   ... bon chen thế đấy  !

Xe chạy về  nhà hàng  ăn trưa  , xong mới nhận chìa khoá phòng  , chả biết nên gọi KS loại này là gì  , vì cứ có từng 2 căn nhà một nằm cạnh nhau , bằng đá   ( T bèn  gọi là vô nhà đá  luôn cho tiện )

Nhìn ngoài thấy trơ trọi những đá , nhưng vào bêntrong rộng rai thoáng mát dễ chịu hơn phòng KS Americana ở  Eilat nhiều  . Có được hơn 1 giờ để tắm rửa nghỉ ngơi  , rồi lại tập trung  ra xe , nhưng chỗ xe đậu  có gian hàng bán đồ lưu niệm  , thế là có được 30 phút  ,người thì mua giày để mai leo núi , kẻ mua Gậy  rồi cả đám mua khăn rằn  ...T nhờ ông Chủ ngồi két trùm hộ cái khăn  , hì  cả đám kéo nhau nhăn nhở chụp hình ...  nhố nhăng  thiệt  hahahah !

lên xe  đi  một khoảng ngắn lại gặp khu bán hàng , có vài quầy bán đồ lưu niệm  và trái cây  , lần đầu tiên thấy có loại ổi để chín mềm ơi là mềm và  thơm nức mũi - thế là lại nhào vô 1 usd /kg   cam quýt ổi chuối gì cũng thế  ! thêm 1 đám mua khăn rằn  và gậy , nghe đâu là rẻ hơn ở chỗ kia nhiều lắm  !
Thấy đám mua khăn trước nhí nhố la hét chụp hình  , Cha H còn xúi thêm : mua khăn đi rồi vài bữa mình còn làm văn nghệ  , ui thế là ông già bà lão gì cũng ào vô mua , thế là khăn đỏ-đen ,  tím -đen  , trắng đen gì đó  kéo nhau chạy đầy sân  ! mới hôm nào có ưa gì đám Mohamet , Arafat  hahha thế mới biết  ...ai cũng ham dzuiiii   !

T  trả giá mua 1 bức tranh vẽ  trên lá cọ cảnh  hang đá Bethlehem   - 3€  / khổ  30 x40   thì thấy ông bán hàng vừa lấy giấy gói vừa hôn tay mình lia lịa ríu rít cảm ơn  . Nhỏ Hương  quay qua : hả cái gì  , hồi nãy ổng đang xuống giá  đòi 4 usd nhỏ kia chưa chịu mua , giờ bán được 3 € ổng mừng húm  . Bà con xúm nhau mua Bia mua thuốc lá , nghe đâu có 12 usd /cây  thế là có người khuân cho 4 cây  ! ( giời ạ  ! đâu phải cứ  Mallboro là Mallboro đâu ! mua vội vàng , mua cho đã xong mới hút thử  , rồi nhăn nhó với nhau  ...hihhii  ...
T mua 2 kg trái cây vừa Ổi vừa Quýt  mang ra thì 1 mấy đứa trẻ con xúm lại xin , cho 3 đứa 3 quả quýt , thế là cả đám đông bu lại  xin xỏ  ,giơ 1 ngón tay  :one dollar  --- Trời trời  ,lại còn thế  dẹp không cho gì nữa    .  Có tiếng người lớn la , bọn nhỏ chạy ra xa  rồi ngoái lại nhìn tiếc nuối !. Ở xứ sở nghèo nào cũng vậy  ...biết sao bây giờ  ?  dù sao đám nhóc này mặt mũi cũng rất hiền lành dễ thương  ! mà nhìn không có vẻ túng khổ gì 

Ồi quýt gì cũng cứ nhàn nhạt sao đó , dù nhìn vỏ rất đẹp , thơm   .
Ja mình mua nó vì mùi thơm mà ... lâu lắm rồi có đươc ngửi thấy mùi ổi chín hấp dẫn như vậy  chứ  ?!  giá như mà nó đừng có mềm nhũn như thế , thì mình ráng để dành hoài ...1 trái thôi , cho căn phòng ks thơm nức , để mình được ngủ hoài trong mùi ổi chín đó  ... đã gì đâu  !

*** Chiều sắp tối rồi , cả đám lên xe theo HDV đến thăm cơ sở bán hàng thủ công của các Phụ nữ trong làng - một đề án do TCXH Âu châu tài trợ  , nhằm tạo công ăn việc làm cho PN và trẻ  em , để bớt tình trạng bỏ làng đi kiếm sống ở các khu đô thị   .
Có 2 cô gái trẻ mặc y phục đen  trùm khăn đen , một cô chỉ chừa 2 con mắt  - cả hai cùng khá đẹp và thanh mảnh , hàng thủ công là những túi xách đính cườm và thêu , những khăn trùm đầu... màu sắc cũng hài hoà  và gì nữa nhỉ  ?  nhưng  giá khá cao , mà cũng không tiện dùng lắm  .Có lẽ chủ yếu bán cho khách tây  .  Mải coi Tv Chương trình giới thiệu  , hình ảnh những người đàn bà đang ở trong nhà mình thêu may ... nên không biết họ có bán được cho đoàn mình ít nào không  ?  trở ra xe trở về Nhà ăn của KS để ăn tối  .  Cũng ăn theo kiểu Buffet nhưng thức ăn không phong phú như ở Eilat  , các món salat cũng rất ít  - ăn tạm vậy !  nhưng có rất nhiều món ngọt để tráng miệng  , những món ngọt nhìn thấy ê răng  đầy  các mâm đó nhưng gần như còn nguyên  , bà con xúm vô vớt mấy miếng dưa vàng  ... hì hì người nọ ngó người kia  ... ai cũng còn nhẹ bụng  , ráng ăn lấy sức nha  bà con  ... đêm nay leo núi đó  ! 
ông HDV và tài xế đã ăn xong  , đến giờ thảo luận để gút lại là bao nhiêu người cần thuê lạc đà  ? HDV  đã báo là đường đi rất nguy hiểm cực khổ lạnh lẽo lắm , rồi những ai cao áp huyết hay bịnh tim cũng nguy hiểm lắm ... thế là có màn Cha đi hỏi và thuyết phục 1 số người nên ở nhà , nhưng   chả ai đồng ý  -bà cụ Tr  69 t đeo máy trợ tim , chân đi hơi khập khiễng cũng nhất định đi  ! cô bé C   cầm gậy trắng  cũng nhất định đi , sẽ thuê lạc đà  ... Cuối cùng thì HDV với vẻ mặt rất lo lắng khi nghe nói sẽ đi 100%  Ông bảo ông cần có 1 số giấy cam kết , sẽ tự chịu trách nhiệm  nếu có chuyện gì xảy ra .  Số người cần mướn lạc đà là 18  - mướn thêm 2 con dự trù dọc đường có ai đi bộ không nổi nữa  .  Khuya nay sẽ cho người đánh thức lúc 1g  và tất cả có mặt lúc 1g30 ở chỗ để xe , xe chở đến chỗ có thể uống kaffe hay trà nóng trước khi lên đường .Chỉ có 15 phút thôi nhé
Nghe cho biết chuyện  xong 1 đám lo về phòng làm vệ sinh răng miệng thân thể rồi leo lên giường , ráng ngủ tí nhé  - hình như mình có ngủ được 3 tiếng , nhờ phòng rộng và ngạt ngào hương ổi chín  !  thế là mình cũng thức vài phút trước giờ hẹn  , măc thật ấm nha , quần áo giày vớ gì đã để sẵn rồi chỉ tròng vô người rồi đeo balo xách đèn pin đi thôi  ...
tối tăm mù mịt đang sợ không biết phải đi hướng nào thì ra đã có tiếng nói chào ì xèo ở kia  , ai cũng vội vã bỏ căn nhà đá của mình lên đường ... leo núi Sinai  !
Ui má ơi  ! chưa đi mà  con đã đau 2 cái băp vế quá thế này   ! cầu xin rồi nghi ngờ hay là  ma quỷ nó quấy phá mình  ? chứ sao thinh không lại đau  ,thế là con nguyện : " Nhân danh Chúa Giê su Kito , Xin Cha dùng Thánh linh thiên lực , xua đuổi tà thần tà lực tà khí ra khỏi con . Xin Cha tha tội và thanh luyện con trở nên trong sạch - Xin Chúa cha ngự trị , Chúa Con làm chủ và Chúa Thánh linh tràn ngập trong con . Xin Đức Mẹ ,Thánh cả Giu se ,các Thánh nam nữ ở trên trời và Thiên thần bản mệnh quan phòng , thêm sưc cho con đi trọn con đường  ..."

Trời ạ bao nhiêu con người xếp hàng chờ được 1 ly nước màu nhờ nhờ , nóng bỏng miệng  ... rồi thì tiếng hối thúc : lên đường  . Dù muốn ráng có tí nước gì vào bụng cho ấm lòng , nhưng phải bỏ lại cái ly còn gần đầy đó  , không mấy nuối tiếc  !  ( hì giờ mới nhớ , giá lúc đó như mọi người có được  ly Kaffe vn hoà tan 3 trong 1 , thì hạnh phúc  biết bao ! mình cũng mang theo vài gói , nhưng vẫn còn nằm nguyên trong valy đến lúc về  huhu  !!!) 









< Sửa đổi: coLaido -- 11/28/2009 1:09:05 AM >

(trả lời: coLaido)
Bài số: 725
Tìm kẻ trừ tà ... - 9/18/2009 4:16:56 AM   
coLaido


Bài: 945
Có nhiều cách đi du lịch Israel: đi để nhìn, thấy và cảm nhận những điều mới lạ; đi để tìm hiểu những thế mạnh kinh tế-kỹ thuật của đất nước này, chẳng hạn nền nông nghiệp công nghệ cao hay công nghiệp chế tác kim cương của họ; đi như một tín đồ hành hương về Đất thánh. Tôi chọn cách đi như một người muốn hiểu về lịch sử đầy biến động của miền đất này

*** dù không hoàn toàn đồng ý  các điểm  Tg đã nêu  , nhưng T muốn trích đăng ...Tài liệu này giúp các bạn có thêm 1 góc nhìn khác  về  Do Thái (TG : Đoàn Khắc Xuyên )

Có lẽ không đâu như ở Israel, một mảnh đất nhỏ hẹp, khô cằn ven Địa Trung Hải và ở rìa của bán đảo Ả rập, diện tích chỉ 20.330km2 (bằng khoảng 1/16 diện tích Việt Nam), khách tham quan lại có cảm nhận đậm đặc đến thế - đậm đặc như nước muối Biển Chết mà người ta có thể thả người trên đó, không sợ bị chìm - về lớp lớp thời gian và lịch sử, về sóng lớp phế hưng của những đế quốc, những nền văn minh, những triều đại chen lấn nhau, xô đẩy nhau, giành giật lẫn nhau, chồng chất lên nhau, đến rồi đi mà dấu tích để lại vẫn còn đó đến naỵ Trên mảnh đất nhỏ hẹp này, hầu như đi đến đâu, đụng vào đâu ta cũng gặp phải lịch sử, một lịch sử mà ta có cảm giác rất rõ rệt vẫn còn cất tiếng thì thầm, vang vọng từ nhiều ngàn năm trước.

Nói đến những sóng lớp phế hưng của lịch sử, đầu tiên phải kể đến Jerusalem mà cả nhà nước Israel và Palestine hiện đều coi là thủ đô của mình. Có một Jerusalem mới đang được xây dựng và mở rộng ở phía Tây thành cổ. Và một Jerusalem cổ, một bảo tàng sống về những thời đại đã qua mà vẫn còn để lại ảnh hưởng, chi phối ở tầng sâu những biến động hiện tại trên mảnh đất nàỵ Từ khoảng năm 1000 trước Công nguyên (CN), sau cuộc hành trình đằng đẵng 40 năm từ chốn lưu đày ở Ai Cập trở về, người Do Thái đã thành lập nhà nước của họ và chính David, người hùng đánh bại Goliath của bộ tộc Philistines, đã đánh chiếm Jerusalem để lập nên kinh đô của 12 bộ tộc Do Tháị Nhưng rồi họ lại phân liệt thành hai nhà nước, nhà nước phía Bắc với tên gọi Israel và nhà nước phía Nam với tên gọi Judah, cả hai lần lượt bị tiêu diệt vào năm 722 trước CN và năm 586 trước CN, dân Do Thái một lần nữa bị lưu đày, phân tán. Jerusalem qua tay nhiều đế quốc, nhiều thế lực khác nhau, từ Babylone, Ba Tư đến Hy Lạp, La Mã, Hồi giáo Ả rập rồi các đoàn quân Thập tự chinh Thiên Chúa giáo…, cuối cùng là đế quốc Ottoman-Thổ từ cuối thế kỷ XVI đến tận năm 1917, khi đế quốc Anh được Hội Quốc liên ủy trị vùng đất nàỵ Những bức tường thành cao ngất và hoành tráng bao quanh thành cổ Jerusalem ngày nay là tác phẩm của quốc vương Suleiman (biệt danh The Magnificent) của đế quốc Ottoman-Thổ vào nửa sau thế kỷ XVỊ


Trước đền thờ Dome of the Rock

Trong thành cổ, trên đỉnh Núi Đền thờ (The Temple Mount), tâm điểm của Jerusalem, là ngôi đền Hồi giáo Golden Dome với cái mái vòm bằng nhôm giát vàng nổi bật trên nền trời Jerusalem và nổi tiếng với sự tích Tiên tri Mohammed cưỡi ngựa bay lên trời từ một tảng đá nay nằm bên trong đền thờ (từ đó nó còn có tên là đền thờ Dome of the Rock), còn người Do Thái thì lại tin là trên tảng đá đó tổ phụ Abraham của họ đã trói và đặt con trai mình là Isaac để sẵn sàng giết và hiến tế cho Thượng đế của họ. Đền thờ được xây dựng vào năm 709 sau CN bởi một quốc vương Hồi giáo trên chính cái nền của ngôi đền thờ thiêng liêng và là biểu tượng của Do Thái giáo và nhà nước Do Thái cổ. Ngôi đền này hai lần được xây dựng rồi bị phá hủy, đầu tiên do Solomon, một minh quân kế tục vua David, cho xây dựng vào thế kỷ thứ X trước CN và bị đế quốc Babylone phá hủy vào năm 586 trước CN. Ngôi đền thứ hai được những người Do Thái trở về từ nơi lưu đày ở Babylone xây dựng cũng tại vị trí cũ vào năm 516 trước CN để rồi lại bị đế quốc La Mã san bằng vào năm 70 sau CN. Ngày nay, những gì còn lại của đền thờ Jerusalem của người Do Thái chỉ là một bức tường nằm dười chân Núi Đền thờ mà du khách thường đi đến đó sau khi đi qua giáo đường Hồi giáo Dome of the Rock. Đó chính là Bức tường phía Tây hay Bức tường Than khóc (Wailing Wall) mà người theo Do Thái giáo xem là nơi thiêng liêng nhất và là nơi họ đến để than khóc cho ngôi đền thờ bị phá hủy, cho sự mất nước và lưu đày, cũng như để cầu xin cả những lợi lộc vật chất cho cuộc sống trần gian của họ.

Trước Bức tường Than khóc

Trong khi đó, ngôi đền Hồi giáo Dome of the Rock được xây dựng trên nền ngôi đên thờ của Do Thái giáo và tồn tại đến nay cũng từng bị biến thành nhà thờ và nơi trú đóng của các đạo quân Thập tự chinh vào thế kỷ XI-XIỊ Kết cục của lớp lớp biến động lịch sử này là thành cổ Jerusalem hiện được chia thành bốn khu vực do người Hồi giáo, người Do thái giáo, người Thiên chúa giáo và người Armenia (đến đây từ thời đế quốc Byzantine thống trị vùng đất này) kiểm soát.

Ngoài ngôi đền Dome of the Rock và Bức tường Than khóc, trong thành cổ, nằm kề bên nhau, sát vách nhau, hoặc cái trên cái dưới là vô số những di tích, những địa điểm lịch sử mà cái này thì thuộc Thiên chúa giáo, cái kia thuộc Chính thống giáo, cái này của Hồi giáo, cái kia của Do thái giáọ Như những chặng đường Via Dolorosa, con đường khổ nạn mà người ta tin là Jesus đã vác thập giá đi qua để đến chỗ bị đóng đinh trên núi Sọ, nay phải ngoằn ngoèo xuyên qua những con phố dốc, nhỏ hẹp, với san sát hai bên là những cửa hàng buôn bán mà đa số là của người Ả rập theo đạo Hồị Hay như nhà thờ Mộ Thánh (Holy Sepulcher) ở cuối con đường khổ nạn, trên đồi Golgotha (tức núi Sọ), nơi mà người ta tin là địa điểm dựng cây thập giá và có ngôi mộ táng Jesus, năm tôn giáo cùng chia nhau cai quản năm phần trong đó, phần thì do Chính thống giáo Hy Lạp quản lý, phần sát bên lại do Công giáo La Mã hoặc Chính thống giáo Armenia quản lý… Bản thân nhà thờ được xây dựng lần đầu từ thế kỷ thứ IV sau CN, dưới thời đế quốc La Mã, nhưng sau đó bị phá hủy nhiều lần và chỉ được xây dựng lại từ thế kỷ XII, khi quân Thập tự chinh chiếm Jerusalem, và tồn tại đến naỵ

Tương tự như vậy, với những địa danh, di tích khác như Bethlehem, nơi có nhà thờ Giáng sinh xây dựng bên trên hang đá nơi Jesus ra đời, nay nằm dưới sự kiểm soát của người Palestinẹ Muốn đến Bethlehem để thăm nhà thờ Giáng sinh rồi từ đó trở về khu vực do Israel kiểm soát, người ta phải vượt qua chốt kiểm soát nghiêm ngặt đặt tại một cửa ngõ của bức tường cao ngất và dài cả trăm cây số, mà nghe nói phía Israel dựng lên chỉ trong một đêm, nhằm ngăn các phần tử khủng bố từ khu vực của người Palestine xâm nhập vào khu vực do Israel kiểm soát. Hay Jericho, đô thị cổ xưa nhất trên thế giới,nơi Jesus từng đến rao giảng, nay chỉ còn lại ít phế tích bên cạnh đô thị mới, cũng nằm dưới sự cai quản của người Palestinẹ Cả Bethlehem và Jericho đều nằm ở bờ Tây sông Jordan, khu vực tranh chấp giữa Israel và nước láng giềng Jordan, dù thực tế Israel đang kiểm soát về mặt quân sự vùng đất này từ sau cuộc chiến tranh 6 ngày vào năm 1967.

Bức tường ngăn cách khu vực do Israel kiểm soát với khu vực do người Palestine kiểm soát, trên đường đi Bethlehem

Nhưng nói đến sóng lớp phế hưng, không thể không nhắc đến thành cổ Akko (hay Acre), cảng cổ Jaffa (hay Yafo), Masada - cứ điểm cuối cùng của những người Do Thái kháng chiến chống đế quốc La Mã, hay Caesarea – một thành cổ ven Địa Trung Hải do vua Herod the Great của Do Thái xây dựng dưới thời đế quốc La Mã đô hộ.

Nằm ở phía bắc thành phố cảng Haifa, Akko là một trong những cảng thị cổ xưa nhất có cư dân ở liên tục từ 1500 năm trước Công nguyên (CN) cho đến naỵ Akko đầu tiên là một cảng thị của người Phoenicians, sau đó đã qua tay nhiều đế quốc, nhiều thế lực, nhiều triều đạị Người Assyrians chiếm đóng cảng thị này vào khoảng năm 700 trước CN. Vào năm 332 trước CN, nó bị Alexander đại đế sáp nhập vào đế quốc Hy Lạp. Kế đến bị Ptolemy của Ai Cập chiếm đóng và đổi tên thành Ptolemais, để sau đó lại trở thành một thuộc địa của đế quốc La Mã khi La Mã thống trị cả vùng Địa Trung Hảị Đến năm 395 sau CN, khi đế quốc La Mã phân liệt thành đế quốc phía Tây với Rome là trung tâm và đế quốc phía Đông với Bysance (nay là Istanbul, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) là trung tâm, Akko về tay đế quốc Đông La Mã. Đến năm 638 Akko rơi vào tay người Ả rập và nằm dưới sự cai trị của người Ả rập cho đến thế kỷ XIỊ Tiếp đó là các đoàn quân Thập tự chinh, những người xây dựng nên cả một thành lũy kiên cố và rộng lớn mà người ta thấy còn tồn tại đến naỵ Ngay cả Napoléon vào năm 1799 cũng tìm cách đặt chân lên Akko nhưng cuối cùng bị đẩy lùị Năm 1917 Akko cũng như toàn bộ vùng đất bấy giờ được gọi là Palestine nằm dưới quyền ủy trị của nước Anh và chỉ được giao lại cho Israel khi nhà nước này được thành lập vào năm 1948. Akko nay được xếp hạng là di sản văn hóa của nhân loạị
 Bao lơn cầu Bridge of Wishes ở Jaffa có 12 cung hoàng đạo theo tử vi phương Tây, đúc bằng đồng, tuyệt đẹp. Trong ảnh là phù điêu Xử nữ. Người ta thường đến cầu này để cầu may mắn. Ai thuộc tuổi nào thì đến chỗ có phù điêu tượng trưng cho tuổi ấy để cầu xin.

Cũng là một cảng thị sầm uất như Akko trước đây nhưng ra đời trước cả Akko, cảng cổ Jaffa nằm ở phía nam Tel-Aviv và là một phần của Tel-Aviv ngày naỵ Jaffa gắn liền với truyền thuyết trong Kinh thánh về trận Đại hồng thủy, khi một người con của Noah, người sống sót qua trận hồng thủy, quyết định định cư tại đây, và với truyền thuyết Hy Lạp về câu chuyện tình giữa Perseus và nàng Andromeda xinh đẹp, theo đó chàng Perseus trên con ngựa trắng có cánh đã từ trên trời bay xuống cứu nàng Andromeda, con gái của nhà vua thành Jaffa đang bị vua cha trói vào một tảng đá trên cảng để tế thủy thần. Là cửa ngõ chính nhập khẩu hàng hóa cho thủ đô Jerusalem xưa kia, Jaffa từng bị đánh chiếm, phá hủy rồi xây dựng lại ít nhất 15 lần trong lịch sử 4.000 năm tồn tại của mình bởi những thế lực, những đế quốc muốn làm chủ vùng đất ven biển Địa Trung Hải này, từ Ai Cập đến đế quốc Ottoman-Thổ, từ Napoleon đến quân Anh. Ngày nay Jaffa là một thành phố du lịch nổi bật với những ngôi nhà cổ xây bằng đá màu vàng như mật ong, những biển số nhà bằng gốm xanh da trời tuyệt đẹp, những con tàu sơn nhiều màu sắc thả neo ngoài cảng và những xưởng sáng tác của các nghệ sĩ.

Một bảng hiệu bằng gốm tại cảng cổ Jaffa

Còn Masada gần Biển Chết, nay là một di sản văn hóa nhân loại, là chứng tích của một thời Herod The Great, vua Do Thái, với lối sống xa hoa và ưa thích hoành tráng, đã cho xây dựng cả một lâu đài nguy nga với đầy đủ những tiện nghi đế vương trên một đỉnh núi giữa sa mạc khô cằn. Masada cũng là nơi những người Do Thái chống đế quốc La Mã dùng làm điểm kháng cự cuối cùng để rồi tự sát tập thể trước khi nó rơi vào tay quân La Mã vào năm 73 sau CN. Ngày nay, Masada trở thành một biểu tượng của ý chí bảo vệ lãnh thổ của người Israel, nơi mà các tân binh nam nữ Israel đến luyện tập và hô vang lời thề: “Chúng ta sẽ không để Masada thất thủ một lần nữa”. Trong khi đó, Caesarea bên bờ Địa Trung Hải từng là một đô thị sầm uất được Herod xây dựng nhằm tôn vinh hoàng đế La Mã Augustus Caesar. Chính tại đây đã xảy ra cuộc thảm sát hàng chục ngàn người Do Thái và khơi mào cho cuộc nổi dậy chống quân La Mã chiếm đóng. Đến năm 639 Caesarea rơi vào tay quân Ả rập để đến đầu thế kỷ XII lại vào tay quân Thập tự chinh và cuối cùng bị người Hồi giáo phá hủỵ Những gì còn lại hiện nay là một đường dẫn nước đồ sộ trên cao (aqueduct) và một hí trường kiểu La Mã…

Hai nữ quân nhân Israel. Rất xinh.


Còn nhiều nữa những chứng tích về sự hưng phế của các đế quốc, các triều đại xô đẩy nhau trên mảnh đất này, mảnh đất mà du khách nhìn thấy chủ yếu là sỏi đá khô cằn nhưng người Do Thái coi là miền Đất hứa, “miền đất chảy sữa và mật ong”. Phải chăng vì vị trí địa chiến lược của nó, nằm ven Địa Trung Hải, giữa Bắc Phi và Nam Âu, giữa thế giới phương Tây và thế giới Ả rập, mà vùng đất này đã trở thành sân khấu cho sự giành giật qua lại giữa tất cả các đế quốc nổi lên trong và ngoài vùng? Nhìn những chứng tích của những thời đã qua trên mảnh đất nhỏ hẹp này rồi nhìn sóng biển Địa Trung Hải vỗ vào bờ như hàng ngàn năm nay sóng vẫn vỗ, du khách không rứt khỏi được ý nghĩ: những đế quốc ấy, những triều đại ấy, những thế lực ấy, trong thời hưng thịnh của mình đã không bao giờ nghĩ sẽ có ngày diệt vong, nhưng rồi chúng đã bị lịch sử, như sóng biển hết lớp này đến lớp khác cuốn đị Đế quốc nào, triều đại nào rồi cũng có lúc suy tàn, chỉ khác là chúng đi vào lịch sử như thế nào mà thôị Chỉ có Địa Trung Hải ngàn năm nay vẫn thế; biển Chết ngàn năm nay vẫn thế, dù gần đây nó có co lại mỗi năm khoảng 1 mét vuông do nước từ sông Jordan đổ vào ít hơn. Hay biển Galilee (thực ra là một hồ nước ngọt) ngàn năm nay vẫn thế, chỉ khác là ven hồ, những thành phố mới, những khu nghỉ mát mới đua nhau mọc lên.











                         TÌM KẺ TRỪ TÀ

Giã từ xứ đất thần linh và quê hương của những thầy Bà La Môn, tôi dừng lại Việt Nam trước khi về Mỹ. Bốn rưỡi sáng từ Saigon tôi lấy taxi đi Bến Trẹ Nơi tôi sắp đến là họ đạo Cái Bông, thị xã Ba Trị Nơi đây, hơn hai mươi năm về trước đã xôn xao một thờị Nơi xảy ra câu chuyện quỷ nhập vào một người thiếu nữ. Hơn hai mươi năm sau, tôi đến đây phỏng vấn, tìm hiểu và ghi lại chứng tích của những người còn sống về câu chuyện mà tôi tin có thật. Hiện tượng quỷ nhập.


Trong nhà thờ, trưa thứ bẩy ngày 14, tháng 7, tôi ngồi hỏi chuyện cha quản nhiệm về những hiện tượng quỷ dữ phá phách trong nhà thờ nàỵ Đặt máy video thu hình xong, câu chuyện bắt đầu, tôi bấm máy, băng video bắt đầu chuyển. Sau mấy phút, kiểm soát lại xem hình đã thu, tất cả trắng xoá! Hình như không thu được vào máỵ Tôi kiểm soát lại pin, đường dây, băng video, tất cả không có gì trục trặc. Xin lỗi cha quản nhiệm để bắt đầu lại cuộc phỏng vấn. Quay xong một đoạn, tôi soát lại lần nữa, không có gì trục trặc. Trên khung hình máy video, phần đèn ghi record cháy sáng, báo hiệu máy đang thu hình, không có gì trục trặc. Nhưng khi chiếu lại, màn ảnh cũng trắng xoá, hình không thu vào máy được.
Đây là sự kiện xảy ra lần đầu kể từ khi tôi mua và xử dụng chiếc máy này đã hai năm rồị Sau gần một tiếng không làm sao thâu hình được, tôi bắt đầu lọ Tôi muốn ghi lại bằng hình ảnh các chứng nhân còn sống. Một khi họ qua đời rồi, câu chuyện sẽ trở nên mất ý nghĩa vì bấy giờ chỉ còn chuyện kể truyền miệng, không còn nhân chứng nữạ Nếu máy không làm việc, chuyến đi của tôi sẽ vô ích. Cha quản nhiệm kiên nhãn ngồi đợi gần một tiếng đồng hồ. Tôi ái ngại quá.


Bắt đầu lọ Tôi nghĩ bụng: “Này Satan, hay là mày muốn phá cuộc phỏng vấn nàỷ Nhất định, cách này nay cách khác, ta phải thực hiện cuộc phỏng vấn nàỵ” Nếu máy khồn làm việc thì saỏ Cả chuyến đi của tôi vô ích. Và rồi ngày trở về Mỹ của tôi sắp đến. Bao giờ tôi mới có cơ hội như hôm naỵ Biết đâu có ngày trở lại thì những nhân chứng quan trọng này đã chết mất rồị Trong tôi hỗn mang nhiều tâm tư khó tả. Tôi bắt đầu nghĩ xin cha quản nhiệm cầu nguyện với Đức Mẹ cho công việc trôi chảy, vì sự kiện hơi lạ, tôi chưa gặp bao giờ gặp máy không thâu được hình như thế nàỵ


Trong ý nghĩ cầu nguyện ấy tôi thu lại hình thử xem thế nàọ Lạ lùng thay, màn ảnh có hình! Máy làm việc như thường lệ. Tôi cầu xin cho máy đừng trục trặc. Hồi hộp, tôi bắt đầu cuộc phỏng vấn:
- Thưa cha, tại sao cha tin rằng đây là trường hợp ma quỷ nhập thật, chứ không phải cô ta bị bệnh tâm thần?
Khi phỏng vấn, tôi thường đứng về phía chống lại câu chuyện quỷ nhập, tôi viện lẽ này, lẽ kia để bào chữa cho hiện tượng kỳ lạ ấy chỉ là hậy quả của tâm trí rối loạn mà thôị Cha quản nhiệm trả lời:
- Tôi xin hỏi cha nhé, cha nhìn những chiếc ghế quỳ trong nhà thờ này xem. Nó thấp như thế kia, cô ta nằm ngửa, bất động, tay dang ta mà nó cứ trôi từ từ qua dưới các ghế quỳ này như có người đẩy đị Người nó to, ghế quỳ thấp thế kia, làm sao người qua lọt, thế mà nó cứ trôi từ từ qua mười mấy, hai mươi dãy ghế.
Tôi nhìn, rồi lấy tay xem lại khoảng cách các ghế quỳ. Quả thật, từ mặt nền nhà thờ đến chiếc ghế quá thấp. Không tài nào có thể đút đầu qua được. Nghe cha quản nhiệm kể, thật khủng khiếp. Ngài tiếp tục:
- Nó cứ trôi như thế giống như có người đẩỵ Thật ghê quá. Nó trôi gần đến cuối, ra phía giữa nhà thờ thì tôi đến trước, chặn đầu nó, tôi hô lớn: “Nhân danh Chúa ta truyền cho mày ra khỏi người nàỵ” Nói thế xong, nó bỏ mà ra khỏị Cô ta trở lại bình thường. Đấy, như thế mà cha bảo là bệnh tâm thần à? Tâm thần làm sao mà chui qua lọt dưới hàng ghế quỳ nàỷ


Trong nhà thờ vắng, nghe cha kể chuyện, ngài chỉ cho tôi chỗ cô ta trôi trên mặt sàn nhà thờ. Tôi thấy rợn ngườị Tiếng sửa nhà, đập tường ầm ầm ngoài cuối, phía bên nhà xứ vọng vàọ Trời tháng bảy đang mùa hè, nhà thờ rộng mênh mông, mang chút gió miệt vườn buông qua cửa sổ nên không nóng lắm. Tôi đứng nhìn lòng nhà thờ sâu thẳm lên phía gian cung thánh. Nhờ chiếc bóng đèn cực mạnh trên trần chiếu xuống, tượng Chúa chịu nạn trên thánh giá sáng rõ. Ròng rã mấy tháng trời linh mục bảy mươi bốn tuổi đang ngồi trước mặt tôi kia đã vất vả thách thức với Satan trong ngôi nhà thờ nàỵ Bất chợt tôi nhớ đến một truyện ngắn đã viết gần chục năm về trước, in trong tập truyện ngắn Đường Về Thượng Trí, câu chuyện mang tựa đề “Đêm Satan, Đêm Đức Tin”.


Ngày đó tôi viết truyện ngắn này xảy ra như một thách thức giữa quyền phép của Satan và đức tin của linh mục. Hai bên chiến đấu với nhau trong một ngôi nhà thờ. Truyện chỉ là tiểu thuyết giả tưởng. Không ngờ hôm nay tôi đang đứng trước một cha già 74 tuổi, người đã thực sự đương đầu với Satan. Chuyện đã thật sự xảy ra trong thánh đường nàỵ Và cha đã cho tôi biết ngài toát mồ hôi trong cuộc đương đầu với Quỷ, sau cùng cha đã chiến thắng bằng đức tin mà thôị


Nhớ lại câu chuyện ngắn mình đã sáng tác, tôi càng thú vị khi quay phim và phỏng vấn cha già về chuyện thật đã xảy ra nơi tôi đang đứng đâỵ Trong truyện ngắn, tôi mô tả Satan có một quyền năng không nhỏ. Trong chuyện thật xảy ra ở đây, cha già kể tôi nghe, quỷ nhập nơi người con gái này cũng thế. Cha nói:
- Mới đầu tôi rẩy nước phép, nó sợ. Tôi dí thánh giá vào nó, nó thụt lùị Tôi lấy giây Stola, giây các phép truyền nó phải ra, nó hốt hoảng. Nhưng mà cha biết không? Sau một thời gian nó không sợ nữạ Có đời nào tôi đưa giây các phép, nó lấy đặt xuống đầu làm gối ngủ.. Tôi kinh hoàng, không biết làm cách nào trừ nó. Mấy tháng trời ròng rã, trừ được nó ra rồi nó lại nhập vào cô ta, cứ như thế không chịu đị Tôi lo quá không biết làm thế nàọ Nhà nước, công an, dân chúng cứ xô tới theo dõi câu chuyện. Tôi bảo với Chúa, chết con mất, người ta đang chờ đợi nơi con trong cuộc trừ quỷ nàỵ Tôi toát mồ hôị Cũng sợ chứ. Tôi không biết làm saọ


Trong truyện ngắn tôi viết, tôi kết một cách bỏ ngỏ, tôi không để cho Satan thắng, vì nếu thắng thì còn đâu niềm tin nơi linh mục và ơn Chúạ Nhưng tôi cũng không kết là linh mục thắng một cách trọn vẹn vinh quang. Tôi muốn kết là Satan chưa bỏ cuộc, nó sẽ trở lạị Và cuộc chiến còn dài, nghĩa là linh mục trong truyện ngắn đó, nếu muốn thắng quỷ, đời ngài phải là một cuộc chiến  không ngừng và phải bám vào Chúa liên lỉ. Điều ấy cũng đơn giản mà đúng thôị Vì đức tin dạy tôi rằng có khi nào ma quỷ buông tay đâu, có khi nào tôi không cần bám vào Chúa đâụ
Câu chuyện quỷ nhập xảy ra ở nhà thờ Cái Bông, thị xã Ba Tri này cũng thế, Quỷ không muốn rạ Không phải cứ linh mục nhân danh Chúa mà truyền lệnh được đâụ Tôi thay một cuốn video mới, sáu mươi phút nữa vào máy để tiếp tục cuộc phỏng vấn. Tôi xin cha già cho tôi hỏi chi tiết kỹ lưỡng vì tôi muốn có những tài liệu thật. Tôi nghĩ những tài liệu này có ích cho tôị Nhìn tuổi già của cha, năm nay ngài đã 74 rồị Tôi lại ở xa, đâu có nhiều cơ hội gặp gỡ. Nếu Chúa gọi ngài ra đi, tất cả bí mật sẽ mang theo xuống lòng đất.
Sau này, tôi được một người giáo dân ở đấy cho biết, cha già chịu khó cho tôi quay phim như thế là chuyện lạ lùng đấỵ Ngài không muốn ai chụp hình như thế bao giờ. Trong truyện ngắn “Đêm Satan, Đêm Đức Tin” tôi viết chục năm về trước, tôi tả chân dung vị linh mục vất vả với Satan trong nhà thờ. Không ngờ chuyện thật xảy ra ở đây cha quản nhiệm cũng gian nan trong nhà thờ với nó. Trong truyện, sau cùng cũng chỉ dựa vào đức tin mà vị linh mục chống trả lại được Satan. Chuyện thật ở đây, cha quản nhiệm đã nhiều lần trừ qủy, nó ra rồi lại nhập trở lạị Nếu rửa tội mà nó không hết thì saỏ Đó thật là thách đố lớn. Sau này cha quản nhiệm bảo ngài lo sợ toát mồ hôi trong nghi thức Rửa Tộị Ngài bảo đã trừ nhiều lần mà không hết. Nếu bây giờ Rửa Tội mà cũng không hết thì ăn nói làm sao với những người đang nhìn thách đố vào đạo, biết trả lẽ thế nào về niềm tin nơi giáo dân.
Cuộc phỏng vấn này với tôi mang một thú vị rất riêng tư, vì chính chuyện mình giả tưởng ngày xưa hôm nay tìm được những nét đồng chung. Tôi đã tìm được kẻ trừ tà trong chuyện thực của đời sống.

  Nguyễn Tầm Thường, sj.

trích trong : Những trang Nhật ký của một Linh mục


< Sửa đổi: coLaido -- 11/28/2009 9:03:36 AM >



_____________________________

. http://www.memaria.org
. http://www.thanhlinh.net

(trả lời: coLaido)
Bài số: 726
RE: Tìm kẻ trừ tà ... - 9/24/2009 5:55:49 AM   
coLaido


Bài: 945
MỒ MẢ: MỘ NGƯỜI CHẾT HAY TÂM HỒN NGƯỜI SỐNG?



Qủy nhập là điều có thật.


Giáo Hội xác tín điều đó. Giáo Hội đã có mục vụ đặc biệt cho những trường hợp này. Các Giám Mục trong địa phận phải chỉ định cách riêng một linh mục nào đó để khi chuyện xảy ra, có kẻ trừ tà. Không  gì rõ bằng trong Kinh Thánh. Phúc Âm xác nhận quỷ nhập vào người ta, Kinh Thánh cũng nói đến trừ quỷ. Chúa Kitô trừ quỷ. Các môn đệ trừ quỷ.
Hiện tượng quỷ nhập rất phức tạp, có thể lẫn lộn với bệnh tâm thần. Phức tạp không có nghĩa là không có quỷ  thật sự nhập vào người ta. Vì thế phải rất cẩn thận khi đề cập đến. Tôi không dễ tin những chuyện này. Không dễ tin, nhưng có những chuyện tôi phải tin.


Tôi bắt đầu để ý về những hiện tượng quỷ nhập khi đọc tờ báo National Catholic Reporter số ra ngày 1 tháng 9 năm 2000. Tờ National Catholic Reporter dành nguyên một số báo đề cập đến hiện tượng quỷ nhập. Theo điều tra của tờ National Catholic Reporter, trong vòng hai trăm năm vừa qua, Giáo Hội khá lặng im về vấn đề này.  Bỗng dưng đầu thế kỷ này, hiện tượng quỷ nhập xảy ra nhiều nơi. Theo thống kê, cha Gabriele Amorth, người được bổ nhiệm trừ quỷ của địa phận Roma, cũng là một trong những người sáng lập International Association of Exorcists, vào trung tuần tháng bẩy năm 1993 trong đại hội những người trừ quỷ tại Roma chỉ có sáu người tham dự. Vào năm 2000, con số tăng lên 200 người. Vẫn theo tờ National Catholic Reporter, tại Roma vào năm 1986 chỉ có 20 người làm mục vụ trừ quỷ. Hiện nay toàn nước Ý con số lên tới 300 người. Theo kinh nghiệm mục vụ, cha Gabriele Amorth viết một cuốn sách mang tên: An Exorcist Tells His Story – Câu Chuyện Của Kẻ Trừ Tà. Ngài cho biết quỷ có thể làm cho người bị nó nhập mửa ra những đụm tóc người. Ta cũng có thể khám phá ra quỷ nhập bằng cách trộn Nước Phép vào đồ ăn rồi xem nó phản ứng ra sao. Cũng trong số báo này cho biết, cha James LaBar, được Đức Hồng Y John J.O’Conner bổ nhiệm làm kẻ trừ quỷ của địa phận New York, cho hay trong năm 1999, ủy ban của ngài đã phải đương đầu với 25 trường hợp quỷ nhập. Theo ngài, nhu cầu mỗi ngày một gia tăng. Ngài nổi tiếng là “kẻ trừ quỷ” sau vụ trừ tà ở Florida năm 1991 và được chương trình 20/20 của đài truyền hình Mỹ ABC phát hình. Tờ Atlanta Journal Constitution, 1999 làm một cuộc điều tra, cho biết 50% người Mỹ tin rằng cuộc sống ít nhiều cũng có lúc bị quỷ nhập vào. Chính Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trừ quỷ cho một người đàn bà Ý tên là Francesca Fabrizzi, Ngài gọi nó là kẻ sát nhân và là vua gian dối của vũ trụ. Theo Cha Amorth, Đức Giáo Hoàng đương kim đã trừ quỷ ba lần trong điều đại của ngài. Phúc Âm Mátthêu và Luca tường thuật, Đức Kitô cũng trừ quỷ (Mt. 2:63, Lc. 8:26-40). Theo tờ National Catholic Reporter, nhiều thần học gia tại Hoa Kỳ cho rằng quỷ nhập là một sự kiện phải nhìn nhận một cách nghiêm chỉnh.


Với những sự kiện trên, tôi đặt dấu hỏi cho những tò mò của tôi. Tại sao thời đại này lại có nhiều hiện tượng quỷ nhập như thế? Đời sống con người trong thời đại này thế nào? Niềm tin tôn giáo? Sự công bình xã hội? Gía trị luân lý? Gía trị gia đình? Đang lúc tôi muốn tìm hiểu vấn đề này, tôi bắt gặp câu chuyện quỷ nhập một người ở Ba Tri, thuộc tỉnh Bến Tre, Việt Nam. Tôi không dễ tin, nên tôi muốn gặp tất cả đương sự, kẻ làm chứng, nhất là giáo quyền, linh mục trừ tà để kiểm điểm sự kiện. Điều tôi mong muốn đã xảy ra.


Câu chuyện xảy ra đã hơn hai mươi năm về trước. Trong số những chứng nhân, chỉ có thân sinh của nạn nhân là qua đời.
Tôi gặp chính cô Hồng, người bị quỷ nhập. Ngày đó mới hai mươi hai tuổi, hôm nay cô bốn mươi bẩy.
Tôi gặp cô Chi, người sống bên cạnh cô Hồng mấy tháng trời, nuôi cô. Người giảng viên giáo lý tên Chi này là nhân chứng biết nhiều chuyện về cô Hồng nhất.
Tôi gặp mẹ cô Hồng, bà cụ cũng già yếu rồi.
Tôi gặp các giáo dân, những người trong ca đoàn cùng tuổi cô Hồng của nhà thờ Cái Bông.
Tôi gặp cha phó nhà thờ Cái Bông, lúc đó là thầy giúp xứ.
Tôi gặp chính cha quản nhiệm Nguyễn Văn Quang, người đã trừ quỷ cho cô Hồng.
Một trong những điều làm tôi tò mò là tại sao quỷ hay chọn mồ mả làm nơi cư trú. “Khi Đức Giêsu sang qua bờ bên kia, và đến miền Gađara, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả gặp Ngài. Chúng rất dữ tợn đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy” (Mt. 8:28). Đức Giêsu và các môn đệ tới vùng đất của dân Ghêsarê, “từ mồ mả có một kẻ bị thần ô uế ám ra gặp Ngài. Người này thường sống trong đám mồ mả và không ai có thể trói anh ta lại được, dầu phải dùng đến cả xiềng xích. Nhiều lần bị gông cùm và bị xiềng xích, nhưng anh ta vẻ gẫy xiềng xích, đập tan gông cùm. Không ai có thể kiềm chế anh được. Suốt đêm ngày, anh ta cứ ở trong đám mồ mả và trên núi đồi, tru tréo và lấy đá đập vào mình” (Mc. 5:2-5). Bốn Phúc Âm đều nói đến mồ mả. Tôi có thể chia ra ba loại mồ mả sau đây:
- Quỷ thường sống ở mồ mả.
- Người ta cũng là một thứ mồ mả. “Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” (Mt. 23:27).
- Chúa phục sinh từ mồ mả.


Trong những thứ mồ mả trên chỉ có ngôi mộ của Chúa Kitô có sự sống. Về câu chuyện cô Hồng, vào những đêm cô trốn nhà  người ta thường bắt gặp cô ở nghĩa địa gần đó. Cách nhà thờ không xa có một nghĩa địa lâu đời. Chị Kim Chi đã dẫn tôi đến nghĩa trang này chụp hình, chị cho tôi biết, nhiều đêm cô ta biến mất, đổ đi tìm thì thấy cô đang nằm ngoài nghĩa địa trên các mồ mả cỏ rậm um tùm. Ma quỷ gần với sự chết. Nó yêu thích sự chết. Căn nhà cư trú của nó là sự chết. Không phải những người nằm dưới đó là bạn bè nó. Nhưng nghĩa trang là nơi dành cho sự chết. Ngoài nghĩa trang chỉ còn một nơi nữa nó có thể cư ngụ là lòng con người. Như Đức Kitô đã nói, lòng con người có thể là một “mồ mả tô vôi”. Trong ý nghĩa ấy, có biết bao ngôi mộ đang đi ngoài đường, đi trong chợ, ngồi ở tiệm ăn. Theo lời Đức Kitô nói, có biết bao mồ mả tô vôi, bên ngoài đẹp đẽ mà bên trong toàn xương người. Có thể ngôi mộ ấy là người bạn của chính mình. Họ ở cạnh nhau.
Bà mẹ cô Hồng kể cho tôi biết cô ta có dấu hiệu khác người từ hồi lên năm tuổi. Tính đến ngày cô được trừ quỷ vào năm cô hai mươi hai, nghĩa là dòng dã mười bẩy năm. Bà cụ cho biết trong gia đình không người con nào mặc bệnh tâm trí. Riêng cô Hồng lúc năm tuổi thì bắt đầu đau yếu. Khoảng mười tuổi thì bỏ nhà đi làm nhiều điều phi thường ai cũng sợ. Bà kể cô ta ăn hết một chiếc nồi đất để luộc bánh tét. Một chiếc nồi đất to thế mà cô cứ ngồi nhai rau ráu, ăn chỉ chừa có cái vành nồi. Rồi bà tự hỏi:
- Ông cha coi đó, nó ăn như vậy mà không sao, bụng đâu mà chứa hết một cái nồi đất to như vậy.
Tôi nghe bà kể, rợn người. Bên cạnh bà, trước mặt ống kính máy thu hình, chị Hồng cũng ngồi bên cạnh. Tôi giả bộ, lại bào chữa cho hành động phi thường ấy. Tôi bảo bà:
- Thưa cụ, người bị bệnh tâm thần cũng có thể làm như thế.
Chưa để bà cụ trả lời, cô Hồng lên tiếng ngay:
- Thưa cha không mà, con bị quỷ nhập thật mà cha ơi!
Chị Kim Chi cũng đang trước ống kính thu hình, kể thêm:
- Thưa cha người tâm thần gì mà treo lơ lửng trên trần nhà, lúc con nhân danh Chúa truyền cho nó ra, nó thả cô ta rơi đánh bịch cái xuống mà không hề bị gì.
Cô Kim Chi lúc ấy là giảng viên giáo lý, gặp cô Hồng ngoài đường, dẫn về nhà thờ. Theo lời cô Kim Chi thuật lại, lúc tới cổng nhà thờ cô Hồng bỏ chạy. “Nó sợ nhà thờ”. Cô Chi nói vậy. Sau này đem cô Hồng về nhốt trong căn nhà thuộc đất nhà xứ. Đó là phòng họp dành cho hội Legio Mariae. Bên cạnh nhà có một giếng nước khá to. Khi quỷ nhập vào, cô nhảy xuống giếng, nằm nổi trên mặt nước hằng giờ. Những cô trong ca đoàn  bấy giờ cũng chỉ độ hai mươi, bây giờ đã mấy mặt con rồi, họ là chứng nhân còn sống. Tôi gặp một nhóm sáu người, phỏng vấn họ:
- Tại sao các chị cho rằng cô Hồng bị quỷ nhập mà không phải là bệnh thần kinh?

- Thưa cha, thần kinh làm sao biết được những chuyện kín? Một hôm chúng con đang ngồi xem cô ấy lên cơn. Nó bảo: “Đấy, thằng Quang vừa đi tìm cách để chống lại ta.” Không ai hiểu nó nói gì. Sau này mới biết khi nó nói thế chính là lúc cha Quang ở nhà thờ lái xe lên toà giám mục xin đức cha làm phép giây Stola trừ quỷ đem về. Thần kinh gì mà khi hú nghe rợn người. Nó hú nghe ghê lắm cha ơi. Bây giờ mà con còn rởn da gà lên đây nè. Lúc lên cơn trốn chạy, nó chỉ về ngủ ở nghĩa trang.

Lúc tôi phỏng vấn mấy chị này, trời đã xế trưa. Tôi sẽ ra nghĩa  trang chụp mấy tấm hình. Tôi lại liên tưởng đến Phúc Âm hay nói về quỷ và mồ mả. Nếu đời sống mà linh hồn là ngôi mộ tô vôi, bên trong chất chứa sự dữ, chỉ giả hình bên ngài thôi thì đấy chính là quê hương của nó trú ngụ. Lời Chúa nói về mồ mả trong Phúc Âm Mátthêu lại vẽ trong tâm trí tôi một thứ quê hương của ma quỷ. Một thứ mồ mả nơi con người sống đang biết đi, đang mặc áo đẹp.


“Các người giống như mồ mả tô vôi, bên   ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” (Mt. 23:27).


Phải chăng nếu sống mà linh hồn là nơi nó cư trú thì khi chết chôn xuống lòng đất nó sẽ tìm về ngôi mộ đó.


Tác giả Nguyễn Tầm Thường, sj.



QUỶ NHẬP VÀ QUỶ ÁM


Đứng bên bờ giếng, tôi hỏi cả hai người, chị Kim Chi và cô Hồng:
- Đây là cái giếng, khi bị quỷ nhập cô thường nhảy xuống phải không?
- Thưa cha đúng vậy.


Giếng đầy nước, bờ giếng xây cao đến đầu gối. Chung quanh giếng có vài cây xoài, mấy gốc chuối rậm um tùm. Tôi tìm cách chống chế, trả lời cô Kim Chi:
- Nhảy xuống nước mà không chìm cũng không phải là khác thường, vì người biết bơi đâu có chìm?
- Thưa cha, nhưng đàng này khác, cô ta không bơi. Không phải ở giếng mà thôi, cả ngoài sông, ngoài đìa nữa. Cô ta nhảy xuống đìa nằm hàng giờ mà cứ nổi lềnh bềnh à, không chìm. Cô ta phá quá, cả công an xã chịu không nổi, họ muốn thảy xuống sông cho chết mà cô ta cứ nổi hàng giờ.


Tôi nhìn chị Hồng đứng cạnh bờ giếng, bóng tầu lá chuối lúc lắc, để rớt một khoảng trắng loang lổ xuống mặt. Mặt trời xế trưa. Năm nay chị bốn mươi bẩy tuổi. Ngày đó là cô gái hai mươi hai. Một thiếu nữ đang tuổi xuân thì. Suốt ngày thơ thẩn bên nghĩa trang, nằm đường ngủ bụi, tru tréo la hét, trôi trên sông. Con người ấy bây giờ đang trước mặt tôi. Tôi hỏi chị Hồng:
- Khi xảy ra như thế chị có biết gì không?
- Thưa cha không.
Trưa nay tôi đã quay phim hình cánh tay chị ta. Chính cô Kim kể:
- Thưa cha, đây là vết tích hãy còn. Con lấy lửa đốt cánh tay chị. Nếu là người thì phải biết đau chứ? Con đốt cháy như thế này mà nó cười khà khà.
Một khúc dài độ nửa tấc trên tay cô Hồng còn mang sẹo. Một vết sẹo do bị cháy rất nặng vẫn còn. Nhân chứng về vết sẹo này, một cán bộ nhà nước nghe thấy quỷ nói:
- Không ai làm gì được ta. Ta chỉ khoá giải một cái sẽ không có sẹo, nhưng ta để lại cho có vết tích mà thôi.
Lời này do chị Hồng kể. Trong khi bị đốt chị không biết gì. Quỷ nói câu trên và cán bộ kia nghe được, sau này ông ta kể lại cho cô Hồng lúc cô đã tỉnh.


Mẹ chị Hồng vì tuổi cao, tự nhiên thì không nhớ nhiều, nhưng nhắc tới thì nhớ. Cô Hồng làm cho gia đình những điều kinh hãi. Lối xóm đàm tiếu nhà đó có quỷ nhập nên ông bà khổ sở. Một tay công an lực lưỡng dí điện xem cái gì xảy ra. Thay vì cô Hồng bị giật thì chính tay công an bị điện giật té ngửa. Cô ngồi cười khà khà. Ai cũng sợ hãi thất kinh. Nếu là ma quỷ thì không ai giết được nó. Họ nghĩ vậy. Ban đêm, công an khênh cô ta để ngoài đường cho xe cán xem sao. Tôi nghe kể, mấy chiếc xe vận tải chạy qua mà cô ta không chết.


Cô Hồng kể lại, cửa sông lớn như thế, làm sao một cô gái bơi qua sông với một bao gạo? Qua sông mà gạo không ướt. Nhưng chuyện sau đây thật không hiểu nổi. Dĩ nhiên khi xảy ra thì chính cô Hồng không biết gì. Một thế lực huyền bí nào đó hoạt động trong cô mà thôi. Một hôm có người ra sông mở đáy lấy cá. Đáy là một cái bẫy đan tre dưới nước, vây lại cho cá sông vào. Khi người ta ra mở đáy thì thấy cô Hồng ngồi trong đó. Không biết cô đã ngồi trong bẫy, ngâm dưới nước từ bao giờ. Người cứng lạnh, xám xanh thế mà không chết.


Theo bà cụ kể thì từ khoảng mười tuổi cô Hồng phát chứng những hiện tượng lạ. Những chuyện phi thường tăng dần cho đến ngày được trừ tà. Thời điểm này mới sau biến cố 30.4.75, nói chuyện ma quỷ, thần thánh là vấn đề rất tế nhị đối với quan niệm xã hội chủ nghĩa. Có thể bị kết tội mê tín dị đoan dễ dàng. Ai cũng muốn tránh né vấn đề. Khi Chị Kim Chi đem cô Hồng về nhà thờ, đó là chuyện chẳng đặng đối với cha quản nhiệm. Lúc nói chuyện cha già tâm sự với tôi:
- Khó xử quá về vụ này. Tôi cũng chỉ cho là bệnh tâm lý. Nhưng dần dần tôi thấy ghê quá. Ngay nhà nước xã hội chủ nghĩa đâu có tin chuyện ma quỷ mà cũng không cắt nghĩa được những hiện tượng quái gở của cô ta. Tôi nghĩ Chúa để xảy ra cho người ta biết có tôn giáo, có thần thánh, có ma quỷ, có đời sống tâm linh.


Cô Kim Chi thì cho rằng hiện tượng này xảy ra để chúng ta biết vinh quang của Chúa. Ngay quỷ có nhập vào người ta cũng là làm cho Chúa được vinh quang mà thôi. Nó chẳng có quyền phép gì.


Trong căn nhà ngày xưa “nhốt” cô Hồng, hôm nay các sơ đang ở. Có lớp giáo lý cho các em. Giữa căn nhà, ngay lối cửa chính bước vào, còn bàn thờ có tượng trái tim Chúa Giêsu.

Cứ đêm bỏ nhà đi, cô Hồng ra nghĩa trang nằm ngủ với mồ mả. Nên trong lúc phỏng vấn, tôi hỏi cô Kim Chi:
- Ra nghĩa trang một mình tìm người quỷ nhập như thế cô có sợ không? Nhất là nghĩa trang heo hút vào ban đêm.

Cô Kim Chi trả lời bằng một câu không ngờ:
- Thưa cha nó là quỷ thì làm gì phải sợ.
Có lẽ thấy tôi ngạc nhiên với câu trả lời ấy. Cô nói tiếp:
- Nếu là trộm cướp thì sợ vì nó có thể giết mình, chứ là quỷ nó làm gì được mình mà sợ, mình có Chúa mà.


Trong giây phút mà tôi gọi câu trả lời làm cho thời gian ấy đọng lại thành linh thiêng. Tôi xác tín điều đó quá đúng. Người ta thường lấy ma quỷ để doạ nạt. Có người tôi đến không dám ở nhà một mình. Họ sợ bóng sợ vía. Nói đến người chết là nói đến ma. Họ sợ nghĩa địa. Khi gia đình có người qua đời, tôi thấy chúng ta thường nói nhà có “đám ma”. Tại sao tự động gán hình ảnh ngiười chết là “ma”. Tôi  thấy lối nói này phải được thay đổi. Và tôi đề nghị, người Kitô hữu hãy thay đổi kiểu nói này. Ta nên nói nhà có tang lễ thay vì nhà có “đám ma”. Tôi đang nghĩ về câu trả lời của người giảng viên giáo lý đã thực sự sống giáo lý này, thì cô ta nói tiếp:
- Quỷ nhập thì không sợ. Quỷ ám mới sợ cha à.


Tôi không hiểu tõ chị muốn nói gì. Thấy tôi nhíu máy im lặng, chị nói:
- Quỷ nhập, mình biết ngay là nó. Quỷ nhập chỉ làm những điều kinh thiên động địa, nhưng đâu làm gì được ta. Biết nó nhập, ta có thể trừ được. Con người quỷ ám là lòng họ gian ác, ngoại tình, thù oán, gian dối lường gạt. Họ vẫn đi nhà thờ, rước lễ mà tâm hồn không có bình an. Quỷ ám mới đáng sợ. Ai sống trong tội là sống trong tình trạng quỷ ám. Họ không làm những chuyện kinh thiên động địa, không ai biết, nhiều khi họ cũng không biết chính mình. Quỷ ám mới đáng sợ.


Tôi không ngờ một người giáo dân bình thường, một giảng viên giáo lý có cái nhìn chính xác về thấn học như thế. Nhất là cô đã sống đời giảng viên giáo lý với ý nghĩa đẹp trọn vẹn của danh từ giảng viên giáo lý. Gặp người giảng viên giáo lý này cũng là một chuyến phỏng vấn mang nhiều ý nghĩa đối với tôi. Ý nghĩa trong tài liệu tôi đang thu thập, và ý nghĩa nhất là cho cuộc sống của chính mình.


Tác giả Nguyễn Tầm Thường, sj.


trích trong : Những trang Nhật ký của một Linh mục


< Sửa đổi: coLaido -- 9/24/2009 6:12:41 AM >



_____________________________

. http://www.memaria.org
. http://www.thanhlinh.net

(trả lời: coLaido)
Bài số: 727
RE: tìm kẻ trừ tà ... - 10/3/2009 2:12:16 AM   
coLaido


Bài: 945
SỨC MẠNH TRỪ QUỈ CỦA BÍ TÍCH


  Đã hai mươi lăm năm, thế mà lúc cha già kể lại giây phút rửa tội, ngài như đang sống chính giây phút ấy. Mặt ngài trầm ngâm, nhăn lại:

- Tôi thú thật với cha, chưa bao giờ trong đời tôi sợ như lúc đó. Tôi toát mồ hôi. Giây phút vô cùng quan trọng, quyết định số phận của tôi và danh tiếng Giáo Hội. Sau năm tháng, tôi quyết định rửa tội cho nó. Cha thử nghĩ coi, nếu rửa tội xong mà quỷ không ra thì tính sao? Lúc ấy nhà nước đang để ý tôi. Họ đâu có tin chuyện tôn giáo, đâu tin thần thánh gì. Còn tôi thì lo mất mặt. Nếu là quỷ nhập thì phải trừ được. Nếu không trừ được thì còn đâu là Chúa, Mẹ nữa. Tôi lo chứ.


Tôi hỏi các nhân chứng về ngày rửa tội ai cũng nói thế. Họ bảo chưa bao giờ thấy cha xứ toát mồ hôi như vậy:
- Thưa cha, cả chúng con nữa. Nhà thờ đầy người, ai cũng sợ. Chúng con chỉ sợ rửa tội không xong. Trước giây phút rửa tội, cả nhà thờ phải đọc kinh xám hối, chúng con quỳ hôn đất xin Chúa thương. Chúng con lúc đó mới mười mấy, hai mươi tuổi, còn trong ca đoàn mà. Chúng con đứng đàng sau nó. Lúc cha sắp làm phép rửa tội, nó lùi lại phía sau, muốn chạy. Chúng con giữ lại, đẩy nó lên phía trước.


Trong giây phút rửa tội, chị Kim Chi quả quyết nghe thấy, vì khi cô Hồng quỳ xuống, mọi người đứng, thì chị Chi quỳ ngay bên cạnh sát cô Hồng. Lúc ấy có giọng nói từ phía cô Hồng:
- Ta trả lại thân xác mày. Ta đi đây.


Trong buổi phỏng vấn, khuôn mặt cha già lúc nào trầm ngâm. Ngài nói với tôi:
- Cha biết gì xảy ra không? Sau lễ rửa tội đó nó khỏi hẳn cho đến bây giờ, đã hơn hai mươi năm. Nếu là bệnh thần kinh thì tại sao sau rửa tội lại hết? Cha thấy ghê không.


Tôi im lặng. Cha già cũng thế. Hai chúng tôi cố hình dung một sự kiện không giải thích được. Tôi quan sát chung quanh tường nhà xứ. Lúc này tôi không phỏng vấn cha trong nhà thờ nữa, đang trong phòng khách nhà xứ rồi. Căn nhà xây dở dang vì chiến cuộc. Góc tường, cha treo một tấm bản đồ rất lạ. Đó là bản đồ giáo dân trong họ đạo. Bản đồ vẽ từng nhà, nhà nào nằm gõ đường nào, rõ chi tiết. Tôi hỏi ngài:
- Tại sao trước đó cha nhân danh Chúa trừ nó nhiều lần. Nó ra rồi lại nhập vào. Tại sao sau khi rửa tội xong nó không nhập vào nữa?


Vẫn dáng điệu trầm ngâm, bên tách trà, ngài nói nhỏ:
- Tôi nghĩ thế này, lúc trước tôi truyền cho nó ra. Nó ra nhưng rồi lại nhập, vì lúc ấy chưa có Chúa nơi cô ta. Rửa tội là đóng ấn bí tích thì khác chứ. Sau khi rửa tội xong, nó là con Chúa rồi. Có Chúa trong linh hồn cô ta rồi. Khác chứ. Làm sao nó dám nhập vào nữa.
Lời giải thích của cha già như ánh sáng lóe lên trong tâm trí tôi. Phải đúng như thế. Đấy là mầu nhiệm của các bí tích.


Phải chăng Chúa cho tôi nghe lời giải thích này để xác tín quyền năng các bí tích Chúa thiết lập. Những bí tích vô cùng cao quý mang ơn cứu rỗi linh hồn. Phải chăng đây là một ơn cho tôi. Vì là linh mục, tôi cử hàng các bí tích quá thường. Nếu linh mục không còn tinh thần khi cử hành bí tích, dâng lễ chóng qua, giải tội chóng qua, không chuẩn bị cử hành các bí tích thì đời sống linh mục quá buồn. Tất cả cuộc sống thành cử hành những nghi thức vô vị, thì cuộc đời cũng vô vị. Lời cha già giải thích đơn sơ nhưng tôi thích lời giải thích ấy. Sau lời giải thích đơn sơ ấy, tôi thấy mình quý các bí tích hơn. Tôi sẽ trân trọng hết tâm hồn khi cử hành các bì tích Chúa ban.


Nắng chiều đang xuống. Tôi sắp ra về. Tôi không biết có ngày nào trở lại nơi này nữa hay đây là lần cuối. Cuộc đời rất nhiều khi là vĩnh biệt. Tôi chụp chung tấm hình với cha. Không ngờ nơi đây hơn hai mươi năm trước đã xôn xao một thời quỷ dữ về nhà thờ. Không ngờ hai mươi năm sau tôi đến đây nhìn lại dấu chứng. Cuộc sống thật đẹp vì luôn luôn có những bất ngờ. Nhìn tuổi tác cha, tôi lại nghĩ, cuộc đời đẹp nhưng quá ngắn!


Tuổi già rồi từ giã cõi đời. Ai cũng thế. Nghĩ tới đó, hình ảnh nấm mộ ngoài nghĩa trang lại hiện về. Mộ hoang nghĩa địa và chỗ quỷ hay lui tới. Mồ mả tô vôi đẹp bên ngoài và xương người chết bên trong. Những hình ảnh ấy hiện lên như một phản xạ tự nhiên. Tôi thấy bâng khuâng một thoang buồn. Tôi cũng nghĩ ngay đến các bí tích. Bí tích ban cho người sống, bí tích ban cho người chết.


Lạy Chúa, con cần những bí tích này cho cuộc sống của con trên đường về với Chúa. Và như một linh mục, xin cho con cử hành các bí tích với hết cả tâm hồn.

Tác giả Nguyễn Tầm Thường, sj.



TRỪ QUỈ NHỜ MẸ MARIA


Trên trán cha quản nhiệm lấm tấm một chút mồ hôi. Trưa bắt đầu tỏa nóng. Trong nhà thờ vẫn rộng mênh mông, yên tĩnh, chỉ có hai người. Ngài nói với tôi:

- Có điều này rất lạ. Một hôm con nhân danh Chúa trừ nó.
Cha già mới nói tới đó, tôi ngắt lời cha:
- Thưa cha, mấy tháng trời từ lúc cô Kim Chi đem cô Hồng về nhà thờ, cha trừ nó nhiều lần hay sao?
- Nhiều chứ, nó cứ ra được vài ba bữa rồi lại nhập vào. Như con đã nói với cha, ban đầu nó còn sợ nước phép, sợ thánh giá, sợ giây Stola. Sau cùng nó không sợ gì cả. Con rất lo. Rồi một hôm con trừ nó….

Có tiếng kẽo kẹt mở cửa phía cuối nhà thờ. Có lẽ mấy bà tốt lành đi đọc kinh trưa. Tôi nhìn cha già trong chiếc áo dòng mầu đen.

Nét mặt cha như đang sống lại câu chuyện của hai mươi lăm năm về trước. Cha nói tiếp câu chuyện dở dang:

- Một hôm con nhân danh Chúa trừ nó, nó không ra. Con lại nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi truyền cho nó ra, nó cũng không ra. Lúc ấy không biết làm thế nào. Con nhân danh Đức Mẹ truyền thì nó ra.
Nói tới đó, cha già nhìn tôi, trên vầng trán nhăn lại đăm chiêu. Tôi hỏi ngài:
- Thưa cha, cha còn nhớ hôm ấy cha nói như thế nào?
- Con nói: Nhân danh Đức Mẹ là Đấng vô nhiễm nguyên tội là Mẹ Thiên Chúa ta truyền cho mày phải ra. Nói thế xong nó quật cô ta xuống rồi ra khỏi cha ạ.

Nhà thờ hun hút sâu xuống phía cuối. Chỗ chúng tôi đang đứng là bậc thềm ngay bàn thờ Đức Mẹ. Cha già chỉ cho tôi rồi nói:
- Đó, ngay chỗ đó, hôm ấy xảy ra ngay chỗ này.
Tôi hỏi cha:
- Thưa cha, ngày xưa cha là giáo sư chủng viện. Xét về thần học thì không có lý nào nhân danh Chúa mà không truyền nó ra được, mà nhân danh Đức Mẹ lại được. Về tín lý thần học thì Mẹ Maria không quyền năng hơn Chúa. Vậy cha nghĩ sao?

- Thú thật với cha, con cũng không biết cắt nghĩa sao. Nhưng đó là sự thật. Xảy ra ở ngay chỗ này.

Nghe cha già nói xong, tôi nhớ đến câu chuyện một thanh niên ở trại tị nạn ngày xưa xin vào đạo vì nhìn thấy con rắn bên hang đá Đức Mẹ (Chuyện này tôi sẽ kể vào dịp khác). Tôi liên tưởng đến hình ảnh Đức Mẹ đạp đầu con rắn và câu Kinh Thánh trong sách Sáng Thế Ký nói về mối thù giữa miêu duệ người nữa và Satan.

Tôi nói với cha già:

- Thưa cha, có thể Thiên Chúa để xảy ra như thế cho ta lòng sùng kính Đức Mẹ. Vì cha nói nhân danh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, là Mẹ Thiên Chúa mà truyền cho nó phải ra. Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội, Mẹ đạp đầu nó. Nó không có quyền năng gì tên Mẹ. Nó thấy tủi nhục. Mẹ chiến thắng nó ngay từ khi Mẹ thụ thai. Cha nghĩ sao?

- Rất có thể như thế cha ạ. Chứ con không còn biết cắt nghĩa sao. Rõ ràng khi nhân danh Đức Mẹ con truyền thì nó ra ngay.

Câu chuyện trên cha già nói với tôi ban sáng, đến chiều tôi phỏng vấn chị Hồng. Trong lúc kể lại những gì chị nhớ. Chị nói:
- Đêm hôm trước con thấy một người đàn bà bảo con là ngày mai có người dẫn con đến nhà thờ. Đúng hôm sau thì chị Kim Chi gặp con rồi dẫn con về nhà thờ. Con nghĩ rằng đấy là Đức Mẹ báo cho con biết.

Trong cuộc phỏng vấn, tôi không nói gì đến Đức Mẹ. Bỗng dưng cô ta đề cập đến câu chuyện hai mươi lăm năm về trước. Tôi tìm hỏi chị Kim Chi xem ngày chị dẫn cô Hồng về nhà thờ là hôm nào. Chị Chi cho biết đó là ngày 13 tháng 10. Tôi giật mình, vì 13 tháng 10 là ngày Đức Mẹ hiện ra ở Fatima.

Những năm tháng gần đây, tôi gặp nhiều sự trùng hợp, có thể là vô tình ngẫu nhiên chăng, nhưng nó như những dấu chỉ cho tôi một suy nghĩ.

Tôi có thể bắt đầu câu chuyện từ khoá tĩnh tâm ba mươi ngày.
Tháng 7 năm 2000, tôi trở về nhà dòng lấy một năm bồi dưỡng tinh thần sau một năm linh mục. Mở đầu chương trình năm học hỏi này là ba mươi ngày tĩnh tâm ở một nhà tĩnh tâm tại Cincinnati, tiểu bang Ohio. Trong ba mươi ngày này  có nhiều biến chuyển ấy là tôi được an ủi thiêng liêng rất nhiều qua kinh Mân Côi. Thuở nhỏ tôi có lòng yêu mến Đức Mẹ, nhưng rất ít lần hạt. Trong cuộc tĩnh tâm ba mươi ngày, tôi qua một chặng đường mà thánh Inhaxiô gọi là sầu khổ thiêng liêng. Tôi suy niệm về sự hiện hữu của Thiên Chúa và mầu nhiệm sự chết rồi không có lối thoát. Tôi khốn khổ trong bế tắc của những mầu nhiệm này. Nó như một vực sâu không đáy. Tôi chơ vơ không còn biết mình bám vào ai. Chúa như để tôi bất lực cho thấy mình nhỏ nhoi quá, không Chúa tôi sẽ bối rối bất an. Ba đoản khúc Cô Đơn và Sự Tự Do, Tân Hồn và Nỗi Trống Vắng, Lời Nguyện Của Cây Đèn Chầu in trong tập suy niệm Cô Đơn và Sự Tự Do là tâm trạng tôi viết trong những ngày này. Giữa lúc cơ cực ấy tôi lần chuỗi Mân Côi.
Và kỳ diệu thay, kinh Mân Côi đưa tôi ra khỏi vùng sâu tăm tối này một cách nhẹ nhàng. Tôi được an ủi vô cùng trong phần thứ hai của kinh Kính Mừng: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử, Amen.”


Lời kinh trên đây không thừa một chữ nào. Tôi gọi tên Mẹ Maria là Thánh, Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ cầu cho tôi, mà tôi là kẻ có tội, Mẹ cầu cho tôi lúc này và trong giờ tôi chết. Bỗng dưng như một ánh sáng rất mới ùa ngập vào kinh này. Giữa lúc tôi thấy mình hoang vu, trống trải, Chúa như bỏ rơi, lời kinh quá đẹp. Tối nào trong sân nhà tĩnh tâm tôi cũng lần hạt. Một hình thức cầu nguyện rất đơn sơ. Nhưng kỳ diệu là lời kinh cho tôi sự an ủi thiêng liêng mà tôi đã không cách nào tìm được. Nhất là trong những ngày tôi suy niệm về sự chết. Lời kinh “cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử” cho tôi sự an ủi tôi không giải thích được. Tôi rất cần Mẹ trong giờ lo âu nhất của tôi là giờ tôi chết.

Sau ba mươi ngày tĩnh tâm, trở về cuộc sống bình thường, nhưng âm vang của nhưng ngày thinh lặng như một thứ tro âm ỉ, nằm nguyên đó. Rồi tôi qua Ấn Độ.

Ba tháng đầu ở Poona, tôi lấy khoá học về linh đạo thánh Inhaxiô. Học đặc biệt về Linh Thao, Spiritual Exercises. Tôi đọc kỹ những biến chuyển thiêng liêng trong cuộc đời thánh Inhaxiô, và những diễn biến đưa Inhaxiô đến việc soạn ra tập Spiritual Exercises, Linh Thao, một phương pháp hướng dẫn tu đức. Nhờ học kỹ, tôi thấy thánh Inhaxiô có lòng sùng kính Mẹ Maria đặc biệt. Trong những diễn biến thiêng liêng đưa thánh Inhaxiô đến việc lập Dòng, thánh nhân đã có nhiều lần thị kiến về Chúa Ba Ngôi và Đức Mẹ. Trong phương pháp tĩnh tâm Linh Thao, Đức Mẹ cũng giữ vai trò quan trọng. Điều này tôi đã ít chú trọng tới trong mười năm qua. Và tôi muốn từ đây, trong các khoá giảng phòng, tôi sẽ nói với các người tĩnh tâm hãy đến với Mẹ Maria nhiều hơn.

Qua ba tháng học, tôi bắt đầu làm cuộc hành hương. Như tôi kể ở phần trên, tôi đi dọc xuống miền nam nước Ấn, hành trình qua vết chân của Phanxicô Xaviê và các nhà truyền giáo ngày xưa. Rồi tôi gặp anh tài xế taxi nói cho tôi biết trung tâm hành hương kính Đức Mẹ ở Vailankanni. Và tôi đã đi.

Từ Ấn Độ về Việt Nam, tôi lại đi hành hương Đức Mẹ La Vang một lần nữa. Cũng ở La Vang này một biến cố khác xảy ra. Cách đây hai trăm nay, năm 1998 tôi đem bà cụ thân sinh tôi về Bắc. Ngày xưa bố tôi muốn có ngày được nhìn lại những con đường thời niên thiếu đã đi qua. Tôi chần chừ, chưa thực hiện được ước mơ cho bố thì ông cụ bị tai biến mạch máu não. Gìơ đây nằm bất toại, không còn trí nhớ. Còn mẹ tôi, tôi không muốn để ước mơ về thăm quê cha đất tổ của mẹ không thành. Tôi quyết một chuyến đi.
Trên đường, chúng tôi dừng lại dâng lễ ở La Vang. Trong chuyến xe chục chỗ ngồi có một người xin tới La Vang rồi về, không đi Bắc. Ông ước ao đi La Vang từ lâu mà điều kiện sinh sống không cho phép. Được tin tôi đi, ông chỉ mong được đến La Vang rồi về. Sau khi viếng đèn thánh, tôi hỏi thăm để có thể giúp ông về lại trong Nam, còn chúng tôi tiếp tục ra Bắc. Ông bảo ông có thể đi luôn.

Câu chuyện xảy ra vào cuối tháng 9 năm 1998. Ông kể lại cho tôi là sau khi cầu nguyện ở La Vang, ông không cần uống thuốc mà hôm thấy vẫn khoẻ. Qua mấy ngày đường ra Bắc, không uống thuốc mà vẫn chịu được. Rồi hết những ngày trên đất Bắc, không cần thuốc. Ông không dám chắc là được ơn. Ông không nói gì với tôi là ước nguyện đi La Vang xin ơn Đức Mẹ.

Hai năm gần đây đau quá, như vỡ đầu. Ông bị đau đầu kinh niên bốn mươi năm. Thuốc Aspirin phải uống từng nhúm, hết lọ này qua lọ khác. Trong thời quân đội Mỹ còn ở Việt Nam, ông đã được chữa trị mà không tìm được nguyên nhân. Chịu đựng hơn bốn mươi năm.


Sau khi khấn Đức Mẹ xong, không dám chắc có khỏi thật, nhưng trong lòng cảm động. Rồi chuyến đi Bắc, rồi sau cả tháng trời không còn đau. Phép lạ không tỏ tưởng như người què bỏ mạng, người mù sáng mắt. Cả năm sau không còn đau nữa. Lúc gặp lại tôi lần này là hai năm. Ông từ ngày ở La Vang về, chứng đau đầu đã biến mất. Một chứng bệnh kéo dài bốn mươi năm.


Những ngày tháng gần đây nhiều sự kiện liên tiếp xảy ra liên quan đến Đức Mẹ đã đến trong tôi. Đó là tình cờ hay một tiếng nói nhắc nhở, tôi không rõ, tôi chỉ biết mình được an ủi thiêng liêng rất đặc biệt qua lời kinh Kính Mừng bình thường đó. Như vậy cũng là đủ.


Qua chuyến hành hương La Vang năm nay, tôi xuôi miền Lục Tỉnh Bến Tre tìm hiểu vụ quỷ nhập vào cô Hồng. Cũng trong chuyến này, một tình cờ xảy ra rất ngẫu nhiên mà cũng đặc biệt, vì lại liên quan đến Đức Mẹ. Ngoài câu chuyện cha già kể trên và chị Kim Chi dẫn cô Hồng về nhà thờ ngày 13 tháng 10, tôi gặp một tình cờ như sau.


Ngày còn nhỏ, tôi thấy bố tôi có tấm hình đem trắng chụp nhà thờ La Mã. Chuyện kể là một người xúc tôm mờ cá dưới rạch sông, xúc được một khung ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Ảnh ngâm lâu ngày dưới nước bùn, còn gì nữa. Ông biện nhà thờ nghe tin đến chuộc ảnh đem về. Vào một đêm kia, hai bên bờ sông bắn nhau, giữa Việt Minh và lính miền Nam. Ông lánh đạn bên tủ đặt hình Đức Mẹ. Ông thấy hình Đức Mẹ toả sáng. Đạn bắn như thế, ghim đầy tủ mà ông không chết. Dân chúng kéo đến xem. Rồi hình Đức Mẹ từ đó bắt đầu rõ nét dần, mấu sắc bắt đầu từ từ trở lại như xưa. Dân chúng kéo đến mỗi ngày mỗi đông. Cha xứ xin kiệu ảnh Mẹ về làm một nhà nguyện. Sau này đến năm 1955 xây xong và khánh thành nguyện đường dâng kính Đức Mẹ, đặt tên là nhà thờ La Mã. Tôi nhớ câu chuyện này, với tấm hình nhà thờ của bố tôi năm xưa.


Trên đường đi từ Saigon xuống Bến Tre, có cô Kim Chi đi theo. Gần đến Bến Tre, cô Chi bỗng dưng bảo tôi:
- Ở đây có nhà thờ La Mã, nơi Đức Mẹ làm phép lạ ngày xưa.
Tôi giật mình. Nào đâu ngờ chuyện kể năm xưa về ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp này lại ở ngay đây, trên đường tôi đang tới. Tôi bảo cô Chi:
- Như vậy tôi phải đi thăm. Tôi đâu ngờ chuyến đi này lại được đến đền thờ Đức Mẹ mà thuở nhỏ tôi đã nghe.


Trong bữa ăn trưa với cha quản nhiệm nhà thờ Cái Bông. Tôi đem ý nghĩa thăm nhà thờ La Mã kể cho ngài. Ai ngờ đâu chính ngài là cha sở họ đạo ấy từ năm 1965 cho đến bây giờ. La Mã là họ nhỏ, vì thiếu linh mục, từ ngày cha ra nhà thờ Cái Bông này, nhà thờ La Mã không có cha. Ngài chỉ vào cho lễ. Vậy là tôi lại được phỏng vấn ngài về ngôi nhà thờ và chuyện ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Gíup này.



Sau biến cố 30.4.1975 nhà thờ được trưng dụng làm cơ quan học tập. Họ lấy hết bàn ghế, khung cửa gỗ làm củi nấu ăn. Những gì là gỗ đều bị làm củi nhóm bếp. Nhiều giáo dân sợ ảnh Mẹ bị đập phá bảo cha đem ảnh Đức Mẹ đi nơi khác. Cha nói với tôi:
- Xin Mẹ cứ ở đó với đoàn con. Xin Mẹ hãy làm phép lạ.
Nhà thờ xuống cấp trầm trọng. Trong nhà thờ không còn gì. Riêng ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và bàn thờ Đức Mẹ, họ không phá! Chiều ngày 14.7.2001 tôi ghé kính viếng nhà thờ. Không thể tin được đó là ảnh đã bị ngâm dưới nước rạch sông bùn. Một khung ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mầu sắc rực rỡ như một tấm hình in không bị vết nhăn. Cha già bảo:
- Đó chính là tấm ảnh gốc.
Ngài nói thêm:
- Ngày xưa vùng này hẻo lánh, không an ninh, ít người dám đến hành hương. Con đường dẫn vào nhà thờ ngày xưa xe vào được. Bây giờ nó tan nát thế đấy, phải đi đò hay xe ôm. Nghe đâu nhà nước sắp sửa lại đường để khách thập phương có thể tới.
Tôi lấy xe ôm đi khoảng hai cây số. Đường xấu quá, xe nhảy cà tưng, ông xe ôm ghì chặt tay lái mà xe cứ như nhảy xuống ruộng. Thế thảo nào cha già khuyên tôi nên đi đò. Mấy năm sau này nhà nước đã cho hai sơ vào ở luôn trong đó, coi nhà thờ. Nhà thờ được sửa lại đẹp như xưa.
Tôi thật xúc động khi chiếc Honda xe ôm dừng trước sân nhà thờ. Đó chính là tấm ảnh chụp năm xưa của bố tôi. Một kỷ niệm của tuổi thơ như chết chìm biến mất trong đời, bỗng dưng hiện về sống động như mới hôm qua. Không biết ai cho bố tôi tấm ảnh ấy, hay trong chuyến hành quân nào đó, dừng chân nơi đây, bố tôi đã chụp tấm ảnh này.


Trời đã ngã về chiều. Sân nhà thờ vắng vẻ. Hai bên bờ sông lạch, bóng xoài rủ lá hiền hoà mà như có vẻ âm u. Trong nhà thờ có khoảng hai chục em bé chừng mười tuổi đang đọc kinh. Tôi hỏi sơ:
- Hôm nay các sơ có lớp giáo lý cho các em hả? Các em đang học gì đó?
Sơ bảo không. Chiều thứ bẩy các em đang làm  giờ kính Đức Mẹ đấy. Tôi không đợi chờ câu trả lời như vậy. Tôi cứ ngỡ giờ học của các em. Tuổi thơ các em dễ thương quá. Trong không gian êm ả của một buổi chiều đang tắt nắng. Ở một vùng nước sâu không ánh sáng văn minh, có các em bé đang đọc kinh bên Đức  Mẹ. Đức Mẹ vẫn ở đó với đoàn con. Lòng tôi chùng xuống một buồn vui xúc cảm không định nghĩa được.


Tôi trở về Mỹ, kết thúc một năm hành hương bằng mấy ngày nghỉ ngơi tại nhà tĩnh tâm ở Cincinnatio, nơi tôi đã bắt đầu chương trình một năm trước đây. Rồi bắt đầu làm việc trở lại từ đầu tháng 9,2001.

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời,
cầu cho chúng con là kẻ có tội,
"khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.”


Tác giả Nguyễn Tầm Thường, sj.



< Sửa đổi: coLaido -- 10/3/2009 2:18:55 AM >



_____________________________

. http://www.memaria.org
. http://www.thanhlinh.net

(trả lời: coLaido)
Bài số: 728
Lm Nguyễn văn Lý được đề nghị lãnh giải thưởng Sacharow... - 10/6/2009 8:00:58 AM   
lua9


Bài: 5385
Chào cld, xin phép cô chủ cho Lúa ké mục này nha, không biết cô đã chở tin vui này về chưa vậy ? Chúc cô luôn vui.
-----------------
 
Linh Mục Nguyễn Văn Lý được đề cử lãnh giải thưởng Sacharow 2009





Ngày 26-09-2009, giờ 00:57
Linh Mục Nguyễn Văn lý được để cử lãnh giải thưởng Sacharow 2009 cùng với chín nhân sĩ trên thế giới, đấu tranh đòi hỏi Dân Chủ, Nhân Quyền và Quyền Tự Do con người.

Kính mời Quý đồng hương tham gia vận động cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý. Buổi lễ trao giải thưởng sẽ được tổ chức: 
                              thứ tư, ngày 30 tháng 09 năm 2009, lúc 10 giờ,
                            tại Europa Parlament
                            Rue Wiertz
                            BE-1047 Brüssel, Belgien

Rất mong sự tham gia ủng hộ đông đảo của Quý đồng hương vào ngày giờ nói trên.
Mong được sự phổ biến rộng rãi của quý truyền thông.
Chân thành cám ơn.

Thay mặt ủy ban vận động.
Lm Gioan Đinh Xuân Minh

...............................................
Danh sách mười nhân sĩ đấu tranh đòi hỏi nhân quyền được đề cử:

SAKHAROV PRIZE FOR FREEDOM OF THOUGHT 2009
Candidates proposed by political groups and individual members in alphabetical order

Dr Izzeldin Abuelaish, Gynécologue palestinien, résident de Jabalia, le plus grand camp de réfugiés de la bande de Gaza, il exerce sa profession des deux côtés de la « frontière », tant en Israël qu'en Palestine, à la fois par choix et par idéal de paix. Nominated by Véronique de Keyser, Hans Gert Pöttering, Caroline Lucas and 52 others.

Foundation Vicente Ferrer, Foundation aiming to protect and promote the rights of minorities in India and to support the eradication of extreme poverty. Nominated by Andrés Perelló and 39 others.

Mr Dawit ISAAK, Eritrean journalist, writer and playwright, political prisoner since 2001. Nominated by Eva-Britt Svensson on behalf of the European United Left/Nordic Green Left Group (GUE/NGL) as well as Olle Schmidt and 31 others.

Mariam LAMIZANA, Ministre de l'Action Sociale et de Solidarité Nationale du Burkina Faso et activiste de la lutte contre les Mutilations Génitales Féminines. Nominated by Francesco Speroni on behalf of Europe of Freedom and Democracy Group (ELD/EFD).

Lyudmila Alexeyeva, Oleg Orlov and Sergei Kovalev on behalf of MEMORIAL and all other human rights defenders in Russia, Organisation promoting fundamental rights in post-Soviet states. Nominated by Rebecca Harms and Daniel Cohn-Bendit on behalf of Group of the Greens/European Free Alliance.

MEMORIAL, Organisation promoting fundamental rights in post-Soviet states. Nominated by Saryusz-Wolski and 59 others.

Dr Denis MUKWEGE, Medical Doctor, founder and Head of Panzi Hospital in Bukavu, he specialises in helping women and girls victims of rape and brutal sexual abuse. Nominated by Guy Verhofsdtadt on behalf of the Alliance of Liberals and Democrats for Europe Group (ALDE).

Father Thaddeus NGUYEN VAN LY, Roman Catholic priest and prominent Vietnamese dissident involved in pro-democracy movements, for which he was imprisoned for almost 15 years. Nominated by Michael Gahler and 44 others.

Shadi SADR on behalf of Neda and Iranian citizens striving for the respect of human rights, Iranian human rights attorney, feminist, activist and journalist, focusing in particular on ending the death penalty and stoning as well as on women's rights and equality. Nominated by Marietje Schaake and Barbara Lochbihler and 38 others.

Roberto SAVIANO, Italian journalist and writer, threatened by the italian mafia as a consequence of his uncompromised attack on organised crime. Nominated by Sonia Alfano and 39 others.
 -----------------------------------------  LM NGUYỄN VĂN LÝ ĐƯỢC ĐỀ NGHỊ LÃNH GIẢI NHÂN QUYỀN SAKHAROV 2009


Ngày 26-09-2009, giờ 09:43
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA ÂU CHÂU VẬN ĐỘNG NGHỊ VIỆN ÂU CHÂU HỖ TRỢ LM NGUYỄN VĂN LÝ LÃNH GIẢI NHÂN QUYỀN SAKHAROV 2009

Nhận được thông báo của Ủy Ban Nhân Quyền Quốc Hội Âu Châu (UB) cho hay LM Nguyễn Văn L‎ý đã được UB chọn là một trong 10 ứng viên (được vào vòng chung kết) giải Nhân Quyền Sakharov của Quốc Hội Âu Châu tháng 12/2009 tới đây.

Tức tốc, vào sáng ngày 24/9 vừa qua, một phái đoàn đại diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Âu Châu (CĐ), gồm LM Đinh Xuân Minh, ông Lai Thế Hùng, cựu Thẩm Phán Trần Đức Lai và ông Nguyễn Duy Phương đã đến trụ sở Nghị Viện 49 nước Âu Châu (Conseil de l’Europe) gặp gỡ Đại Diện Nghị Vi ện, ông Max Gilbert và ông Jean Claus Cố V ấn Ngoại Giao Nghị Viện để bày tỏ sự biết ơn của CĐ cũng như của tập thể người Việt tỵ nạn hải ngoại đối với Quốc Hội Âu Châu (các thành viên quốc gia của Nghị Viện Âu Châu cũng là thành viên của Quốc Hội Âu Châu) đã chọn LM Nguyễn Văn L‎ý được vào vòng chung kết Giải Nhân Quyền Sakharov năm 2009.

Đồng thời, Phái Đoàn CĐ cũng thỉnh cầu Nghị Viện vận động Ủy Ban Giải Nhân Quyền Sakharov chọn LM Nguyễn Văn L‎ý được lãnh giải Nhân Quyền Sakharov năm 2009. Ông Lai Thế Hùng nhân danh Phái Đoàn CĐ nhấn mạnh rằng, «Như Qu‎y Vị đã biết, LM Nguyễn Văn L‎ý, người tù lương tâm, người tù bất khuất trước mọi khổ nhục, tàn độc, trước mọi đau thương cùng khốn và mọi ác độc của cường quyền Cộng Sản Hà Nội (CSHN) hiện nay. Khi chọn LM Nguyễn Văn L‎ý là một trong mười ứng viên của Giải Nhân Quyền Sakharov năm 2009, Quốc Hội Âu Châu mặc nhiên thừa nhận giá trị cao quí của người tù kiệt xuất Nguyễn Văn L‎ý, người con yêu quí của dân tộc Việt Nam chúng tôi. Và, nếu như LM Nguyễn Văn L‎ý được vinh dự Quốc Hội Âu Châu trao tặng Giải Nhân Quyền Sakharov vào tháng 12/2009 này thì đây mới là một chứng minh rằng Nghị Viện Âu Châu, Quốc Hội Âu Châu, nhân dân, chính phủ các nước yêu chuộng tự do trên thế giới và Quí Vị đây mới thực sự quan tâm tới những nỗi thống khổ mà đồng bào cả nước nơi quê nhà Việt Nam chúng tôi, giờ đây vẫn còn phải gánh chịu dưới bàn tay sắt máu, đầy quỉ quyệt, gian manh của tập đoàn CSHN. Quả thực chưa bao giờ dân tộc chúng tôi lại đau nhục như bây giờ và cũng chưa bao giờ dân tộc chúng tôi lại thống khổ, lầm than như bây giờ,… ».

Dịp này, Phái Đoàn CĐ đã chuyển đạt đến nhị vị Đại Diện Nghị Viện Âu Châu bản Thỉnh Nguyện Thư của CĐ mà nội dung thỉnh cầu Nghị Viện hỗ trợ những nguyện vọng của giáo dân Tam Tòa, Thái Hà, những yêu sách đòi quyền làm người, tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, các LM Chân Tín, Nguyễn Văn L‎ý, Phan Văn Lợi, Nguyễn Hữu Giải, các MS Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Công Chính, BS Nguyễn Đan Quế cũng như làm áp lực CSHN trả tự do cho LM Nguyễn Văn L‎ý, LS Lê Thị Công Nhân, LS Nguyễn Văn Đài và tất cả các tù nhân lương tâm,…

Ngoài ra, đáp lời mời của Ủy Ban Giải Nhân Quyền Sakharov Quốc Hội Âu Châu, một phái đoàn CĐ, dưới sự hướng dẫn của ông Lai Thế Hùng, sẽ tham dự Lễ Công Bố 10 ứng viên được vào chung kết Giải Nhân Quyền Sakharov năm 2009, tại trụ sở Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Âu Châu (Quốc Hội Âu Châu) Bruxelles (Bỉ) vào ngày 30 tháng 9/2009 tới đây.

Lý Minh Thuận
Khối Thông Tin CĐNVQG Âu Châu
 

(trả lời: coLaido)
Bài số: 729
RE: Lm Nguyễn văn Lý được đề nghị lãnh giải thưởng Sach... - 10/7/2009 5:27:55 AM   
lua9


Bài: 5385
Hôm qua nghe đài Radio VNHN cô phóng viên phỏng vấn Lm ĐXM ( Đức quốc ) vui mừng tưởng đâu gần như chắc ăn ngờ đâu sáng nay vào net tìm tin tức tìm ra tin mới này, những người được đề cữ không có tên Lm Nguyễn văn Lý của VN nữa.


Sacharowpreis 2009: Europa-Abgeordnete haben Vorauswahl getroffen
Menschenrechte - 07-10-2009 - 12:12


Nominiert: Izzeldin Abuelaish, MEMORIAL und Dawitt Isaak
Der Palästinenser Izzeldin Abuelaish, der schwedisch-eritreische Autor und Journalist Dawit Isaak, die Bürgerrechtsorganisation „Memorial" sowie stellvertretend für sie die russischen Menschenrechtler Ljudmila Alexejewa, Oleg Orlow und Sergei Kowaljow stehen dieses Jahr in der engeren Auswahl für den Sacharow-Preis für geistige Freiheit. Die Vorauswahl trafen am Dienstag die Mitglieder des Außen- und des Entwicklungsausschusses.


Der palästinensische Frauenarzt Izzeldin Abuelaish macht sich für die Versöhnung von Israelis und Palästinensern und die Bildung von Frauen stark. Er verlor seine drei Töchter während der israelischen Bombardements des Gaza-Streifens im Januar 2009. Dies hat sein Engagement für Frieden und Versöhnung zwischen beiden Seiten jedoch nicht erschüttert. Zum Gedenken an seine Töchter möchte er eine Stiftung ins Leben rufen, die Mädchen und Frauen in der Region Bildungschancen eröffnet.


Der schwedische Journalist und Dramatiker eritreischen Ursprungs Dawit Isaak sitzt seit 2001 in Eritrea im Gefängnis. Er hatte sich gemeinsam mit anderen Journalisten sowie Politikern für eine unparteiische Aufklärung der Umstände eingesetzt, die zum Krieg Eritreas mit Äthiopien geführt haben. Den Journalisten wird Landesverrat und die Annahme von finanzieller Förderung aus dem Ausland vorgeworfen. Das Europäische Parlament hat in einer Resolution die sofortige Freilassung Isaaks gefordert, dem bisher noch nicht einmal der Prozess gemacht wurde.

 
Ljudmila Alexejewa, Oleg Orlow und Sergei Kowaljow wurden stellvertretend für die Bürgerrechtsorganisation Memorial und alle die sich in Russland für die Menschenrechte einsetzen nominiert. Memorial, zu deren Gründern Andrei Sacharow und Sergei Kowaljow gehörten, setzt sich seit Ende der 1980er Jahre für die Aufklärung der Verbrechen des Stalinismus sowie für dessen Opfer ein. Seit den 1990er Jahren engagiert sich Memorial gegen autoritäre Tendenzen in den post-sowjetischen Staaten und für die Entwicklung der freiheitlichen, demokratischen Bürgergesellschaft.


Der Sacharow-Preis wird seit 1988 alljährlich vom Europäischen Parlament an außergewöhnliche Persönlichkeiten verliehen, die sich mutig – und nicht selten zum eigenen Nachteil – gegen Intoleranz, Unfreiheit und Unrecht einsetzen. Im vergangenen Jahr wurde der inhaftierte chinesische Dissidente Hu Jia ausgezeichnet. 


Die Entscheidung über den Preisträger fällt am 22. Oktober. Die Preisverleihung findet am 16. Dezember in Straßburg statt.



_____________________________

Như đã đọc tâm tình người đâu đó
như gửi trao bạn hữu một chút thơ
ta đã đọc được vài trang thơ nhỏ
hiểu tấm lòng qua những chữ thờ ơ... ( Lúa 9 )

(trả lời: lua9)
Bài số: 730
Trang:   <<   < phần trước  70 71 72 [73] 74   phần sau >   >>
Các Diễn Đàn >> [Đời Sống - Xã Hội] >> Tâm Tình >> Sự sống trong căn nhà chờ chết Trang: <<   < phần trước  70 71 72 [73] 74   phần sau >   >>
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết


Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 6-10/2009:
Mai Dang, Bao Cuong, vann, Tương Kính

Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh

Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.

Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode