coLaido
Bài: 945
|
mời Cà - Na và cả nhà ... mình lại lên thuyền xuôi con nước đến thăm một nơi rất khác của xứ Ấn độ huyền bí nha ... Tôi đã đến Lộ Đức ở Pháp, Fatima bên Bồ Đào Nha, Baneux và Beaurain bên Bỉ, tôi cũng có dịp hành hương Đức Mẹ Guadalupre ở Mexicô, Majugorjie bên Nam Tư. Nhưng ở Vailankanni rất khác. Nơi đây không phải là chốn hành hương của người có tiền. Không phải là nơi hành hương của kẻ làm một công đôi ba chuyện, vừa hành hương vừa đi tham quan, nghỉ hè. Nơi đây dường như chỉ có người hành hương nghèo khổ đi tìm an ủi. Họ nghèo, lếch nhếch mẹ dắt con. Từng nhóm đi với nhau. Hầu hết trong chiếc giỏ xách của họ, giỏ nào cũng thò lên chai nước, vì trời nóng quá mà. Đối với người Ấn theo đạo Hindu, Ấn giáo là đa thần, trong Ấn giáo có không biết bao nhiều thứ thần, nên Đức Mẹ cũng là một thứ thần. Họ đến rất đông không phân biệt tôn giáo. Đối với họ, Mẹ Maria là một bà thần tốt lành. Đau khổ, bất hạnh, ốm đau, họ chạy đến cầu xin, không cần biết mình là tôn giáo nào. Họ đi tìm những vị thần nhân hậu cứu người. Họ nằm la liệt dưới các gốc cây. Chỗ nào cũng có người. Những con người đen đủi, nghèo khó đi tìm an ủi. Tôi được cắt nghĩa cho biết tại sao có những người xách cây dừa non vào dâng Đức Mẹ rồi xách về. Đó là những người hiếm muộn con cái. Dừa tượng trưng cho sai trái, họ mang những trái dừa mới mọc lá cao chừng một thước đặt trước tượng Đức Mẹ rồi vái lậy cầu xin. Mới đầu tôi không hiểu vì ngang qua khu bán quán có những đống tóc cao ngang lưng người. Hàng quán bán la liệt, dài từng dẫy như vô tận. Người quá đông mà. Chen chúc nhau. Những đống tóc như thế trông rất dơ bẩn mất vệ sinh. Đó là tóc của những người cạo đầu sám hối khi đến hành hương. Sau này biết thế, tôi để ý, thấy nhiều người lết đi bằng đầu gối trên đường cầu nguyện, đầu đã cạo sạch tóc, đàn ông cũng như đàn bà. Phật Giáo vẫn có quan niệm “xuống tóc đi tu”. Ở đây người ta cạo đầu như dấu chỉ cầu xin tha thiết, thành thật hành hương để được ban ơn. Các quán xuống tóc muốn giữ tóc lại để chứng tỏ quán mình có nhiều khách nên đầy dẫy những đống tóc như thế. Những đống tóc cao nghều nghệu. Tôi thấy rợn người. Chưa bao giờ thấy tóc người nhiều như thế. Nó như hình ảnh ngôi mộ bốc lên, xác chết rữa hết chỉ còn mớ tóc bết lại không tiêu tan được. Ở nơi này có nhiều điều khác lạ các nơi hành hương khác. Tôi hỏi cha giám đốc vì trong phòng ngài có mấy tượng Đức Mẹ bằng vàng. Một con tầu chạm trổ tinh vi bàng bạc thiếp vàng rất nghệ thuật. Con tầu cao độ một gang rưỡi, dài hai gang tay, gang tay người lớn. Cha giám đôc nói với tôi: - Ở Ấn Độ người ta tạ ơn bằng cách tạc những hình tượng như thế. Mời cha vào nhà lưu trữ kỷ vật để thấy biết bao người đã được ơn lành Đức Mẹ ban. Trung tâm hành hương Vailankanni có hai dẫy phòng rất lớn. Mỗi phòng hai dẫy bàn phủ kính dầy bảo vệ các đồ tạ ơn. Tất cả đều bằng vàng bạc, hoặc ít nhất bằng một thứ kim loại nào đó, chắc tùy khả năng tài chánh của người tạ ơn. Có nhiều kỷ vật tạ ơn chỉ bằng miếng nhôm trắng. Chắc của những người rất nghèo. Người ta không khắc bảng đá “Tạ Ơn Đức Mẹ” như các nơi hành hương khác trên thế giới. Ai được ơn lành họ viết một bức thư, gắn vào đó bảng vàng biểu tượng ơn được bạn rồi lồng tất cả trong một khung kính nổi. Trong phòng lưu trữ phải có người bảo vệ vì tất cả đều giá trị vàng bạc. Thí dụ người được lành bệnh tim, họ dát một miếng vàng cắt hình trái tim với lá thư cám ơn kể lể bệnh tình và được chữa khỏi ra sao. Người được cứu thoát trên biển, tạc hình con tầu. Kẻ thoát tai nạn xe cộ, làm hình chiếc xe. Người gẫy chân được lành, làm hình cẳng chân. Sinh viên thi đậu, tạ ơn bằng cây viết. Nhiều nhất là giây chuyền vàng. Dây chuyền biểu tượng tình yêu, khi một trong hai người được cứu sống, có thể thoát hiểm bệnh tật, hay tai nạn, hoặc hàn gắn được yêu thương đổ vỡ, họ dâng dây chuyền như hình ảnh xin cho được nối kết có nhau. Ở đây không có những bảng “Tạ Ơn Mẹ” bằng đá. Sau một thời gian, ban quản trị cất những của lễ tạ ơn này đi, trưng bầy những lời tạ ơn mới. Căn phòng kỷ vật tạ ơn như một kho tàng thiêng liêng luôn luôn có những cảm nghiệm mới. Người Ấn dùng nến, hương nhang và xâu chuỗi hoa rất nhiều. Các đền thờ Ấn giáo đều thế. Đường phố, chợ búa chỗ nào cũng thấy bán hoa xâu. Trong nhà thờ, nơi tượng đài luôn luôn phải có nhân viên túc trực để choàng vòng hoa cho Đức Mẹ rồi lại lấy xuống. Qúa nhiều người đem hoa vào. Người người nhích từng bước chân. Từ đền thờ Đức Mẹ đến bão biển độ hai trăm thước, vô số người tắm. Ở đây người ta không tắm như cuộc du chơi. Các đền thờ Ấn giáo thường xây bên sông. Sông là nguồn linh thánh. Không nơi nào người ta coi dòng sông như thần thánh bằng người dân xứ Ấn. Nơi không có sông, đền thờ Ấn giáo thường có hồ nước, người ta rẩy nước lên người để thanh tẩy trước khi vào đền thờ. Trong đền thờ Ấn giáo, tuyệt đối không bao giờ được đi giầy. Nếu bỏ giầy xách trên tay cũng không được phép đặt giầy xuống sàn đền thờ. Đấy là những nghi thức tôn giáo hết sức quan trọng. Ở Vailankanni cũng thế, họ xuống biển dầm mình như cuộc thanh tẩy thiêng liêng. Theo cuốn Vailankanni History, vào khoảng 1505 đã có tài liệu nói đến sự hiện diện của một nhóm tín hữu. Ngôi làng chài lưới nhỏ nằm sát biển phía đông vịnh Bangal. Vào cuối thế kỷ 16 Đức Mẹ hiện ra với một em bé bán sữa. Cạnh đường đi, bên hồ nước có nhiều tàng cây Banniyan, lữ hành thường nghỉ chân đỡ mệt. Một ngày kia cậu bé bán sữa cũng nghỉ mệt dưới bóng cây Banniyan. Bỗng dưng cậu thấy ánh sáng chói ngời. Chuyện kể Đức Mẹ hiện ra bế Chúa Hài Nhi. Cậu bé dâng sữa, Đức Mẹ lấy sữa cho Chúa Hài Nhi. Dân chúng trong vùng nghe tin, kéo đến cầu nguyện. Sau đó một thời gian, Đức Mẹ lại hiện ra với một em bé tàn tật, bảo em hãy xin với một người tín hữu giàu có trong vùng là xây một đền thờ dâng kính Mẹ. Em kể với Đức Mẹ về tật nguyền của em và đã được chữa lành. Từ thế kỷ 15 những đội thương thuyền Bồ Đào Nha đã tấp nập làm ăn ở viễn đông. Một phép lạ đã cứu các thủy thủ trên hải trình Macao về Bồ Đào Nha thoát cuộc đắm tầu. Đức Mẹ đem họ an toàn cập vào Vailankanni. Để tạ ơn, các thủy thủ dựng một nhà nguyện nhỏ nơi đây. Tài liệu ghi lại vào năm 1771, có khoảng 4000 người Công Giáo. Truyền thống kể rằng đoàn thủy thủ thoát nạn cập vào Vailankanni ngày mồng 8 tháng 9, ngày sinh nhật Đức Mẹ. Nên hôm nay, đại lễ của trung tâm hành hương Vailankanni là ngày mồng 8 tháng 9 mỗi năm. Đại lễ bắt đầu bằng cuộc thượng kỳ khai mạc ngày 29 tháng 8. Tiếp theo là tuần bát nhật kính Đức Mẹ. Trong những ngày này đều có nghi thức thượng kỳ vào giữa trưa. Chuông nhà thờ đổ liên hồi, dâng hương và các thứ lễ nhạc là một phần phụng vụ chính yếu. Ban tối rước kiệu vào lúc 8 giờ. Theo sau là các nghi thức dâng hoa, giờ phụng tự thánh ca, hoà tấu, hoạt cảnh. Trước ngày Sinh Nhật Đức Mẹ là tuần bát nhật cầu nguyện với tất cả hình thức phụng vụ nhạc khúc, nến hoa mà người ta có thể làm. Tuần bát nhật này thu hút khoảng một triệu rưỡi khách hành hương. Ngoài ra, tháng 5 cũng là tháng trung tâm có những sinh hoạt đặc biệt kính Đức Mẹ. Trung bình mỗi ngày khoảng 2000 khách thập phương đến trung tâm. Trung tâm rộng 187 mẫu. Hiện có 5000 chỗ trọ cho khách hành hương. Vào năm 1998 trung tâm được trồng thêm 1000 gốc cây để có bóng mát che nắng. Ngoài 14 dẫy phòng chứa được khoảng 2000 người, còn 90 nhà trọ tư nhân có thể dung nạp được khoảng 5000 phòng. Khi không còn chỗ, khách hành hương có thể ở ngoài thị trấn Naggappattinam cách Vailankanni 12 cây số. Cũng vào năm 1998 để đáp ứng nhu cầu số người đổ về Vailankanni, một đại hội trường 44.000 sq. ft. được xây dựng. Vailankanni hôm nay không chỉ là nơi hành hương nữa mà là một trung tâm tu đức cho Giáo Hội Công Giáo Ấn. Viện Thánh Mẫu học mang tên Arokia Niketan, nơi học hỏi nghiên cứu về Đức Mẹ được thành lập năm 1996. Một nhà tĩnh tâm gồm 90 phòng có nhà tắm riêng được hoàn thành năm1995 cho những ai muốn tìm nơi thinh lặng cầu nguyện. Ngoài những cơ sở tĩnh tâm, học hỏi tu đức, năm 1998 một trường trung học cho các em khuyết tật cũng được xây cất, do các Sisters of Jesus phụ trách. Các Sisters of Mother Teresa phụ trách một trường khác cho các em tâm thần. Tất cả khoảng 600 em được săn sóc do công đức của khách hành hương dâng cúng. Địa phận Thanjavur đang có kế hoạch 15 năm phát triển cho trung tâm này như xây đường xe lửa dẫn tới Vailankanni cho dân chúng đỡ vất vả. Nguyện đường kính Đức Mẹ Vailankanni được xây dựng từ năm 1922, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII nâng lên bậc tiểu Vương Cung Thánh Đường ngày 3 tháng 11 năm 1962 và được đại tùng tu vào năm 1974-1975. Cũng như những nơi hành hương khác, Đức Mẹ luôn dẫn ta đến với Chúa, đặc biệt qua bí tích Thánh Thể. Tại trung tâm luôn luôn có chầu Mình Thánh từ 7:30 sáng đến 5 giờ chiều. Các thứ sáu đầu tháng có rước kiệu Thánh Thể và giảng thuyết đặc biệt về lòng sùng kính này. Trong thông điệp về Thánh Thể Mirae Caritatis (1902), Đức Giáo Hoàng Leo dạy rằng Thánh Thể là tiếp nối sự nhập thể mà qua đó Ngôi Lời giao kết với từng người chúng ta, Thánh Thể là hiến lễ hy sinh tối thượng của đồi Calvê được tái diễn trong một hình thức tuyệt vời cao cả. Qua lòng hảo tâm của khách hành hương, giáo phận Thanjavur nuôi được 42 cô nhi viện trong giáo phận. Những đồng tiền dâng cúng này không phải là tấm lòng được thúc đẩy do ơn Đức Mẹ ban sao? Đấy là những tấm bánh phản ánh tình yêu bí tích Thánh Thể đến với Chúa Giêsu bằng cách giúp đỡ người nghèo khổ. Rất nhiều khách hành hương không phải là công giáo tìm đến Vailankanni. Đó cũng là một nét đặc biệt của ngôi làng nhỏ vùng biển này. ĐỨC MẸ VAILANKANNI Tôi không có nhiều thời gian ở Vailankanni để sưu tầm những ơn lạ. Trong cuộc nói chuyện với cha Irudayam , giám đốc trung tâm tôi xin một phỏng vấn: - Thưa cha, con thấy rất nhiều, hàng ngày bảng lưu niệm tạ ơn Đức Mẹ trong nhà bảo tàng. Cha có thấy ơn lạ đặc biệt nào Đức Mẹ đã ban? - Tôi không biết trả lời sao vì nhiều quá. - Thưa cha, để dễ cho cha, xin cho con biết ơn lạ mới nhất, mới xảy ra. Trong lúc tôi đang nói chuyện, khách hành hương đã xếp hàng ngoài hành lang chờ gặp ngài. Hành lang nhà xứ lúc nào cũng ồn ào tấp nập người. Họ đến từ khắp nước Ấn. Văn phòng nhận của lễ, nhận lời cầu xin làm việc không ngừng. Cha giám đốc nhìn tôi nói: - Đây nhé, tôi xin kể cho cha câu chuyện mới xảy ra. Cha thử nghĩ xem có là ơn lạ không. Một cặp vợ chồng đến đây cầu nguyện tám năm rồi. Họ có hai cháu, cháu gái mười hai tuổi, cháu trai chín tuổi. Chân đứa cháu gái bị tật. Là con gái như vậy thì khổ lắm. Cặp vợ chồng này xin ơn chữa lành chân cho cháu. Mùa hè vừa qua họ được ơn. Năm nay họ đến tạ ơn Mẹ. Hai vợ chồng quỳ, lết bằng đầu gối từ nhà thờ đến đền thánh nơi ghi dấu Đức Mẹ hiện ra ngày xưa. Nói tới đó cha giám đốc nghiêng mình nhìn ra phía cửa sổ chỉ cho tôi khoảng cách từ công trường đền thờ tới tượng đài Đức Mẹ. Có thể chừng ba trăm mét. Ngài kể tiếp: - Đi bằng đầu gối như thế đau lắm, có khi chảy máu. Đứa cháu trai thấy bố mẹ làm vậy nó cũng bắt chước. Ban đầu bố mẹ không cho, nhưng nó cứ làm. Bố mẹ nghĩ thôi đành kệ, khi đau cháu sẽ thôi. Và chân nó đã rướm máu. Trên đường về, như cha biết đó, xe lửa ở đây chen chúc nhau đầy người. Trong lúc xe chạy nhanh như thế, nó bị văng ra khỏi xe. Cùng lúc, chiếc xe lửa khác ngược chiều lao tới. Mọi người la lên, xe dừng lại được thì thằng bé đã bị bỏ rơi cả trăm mét. Vậy mà nó hoàn toàn không bị xây sát. Nó bảo có một bà cầm chân lôi nó ra khỏi đường rầy lúc xe lửa lao tới. Đấy, cha thử nghĩ xem không là ơn lạ Đức Mẹ ban sao? Nghe cha giám đốc kể tôi thấy rõ như đang chứng kiến câu chuyện. Ngoài công trương khách hành hương nhốn nháo. Nắng đã lên oi bức, trời nóng căng thẳng. Chuông lễ lại vang lên rộn ràng. Hầu như giờ nào cũng có thánh lễ. Những bà mẹ dắt con, những bà mẹ đang ghé hàng quán mua hoa, nến, nhang. Người đi hứng nước, người tìm bóng mát ngả lưng. Từng bầy quạ kêu inh ỏi trên ngọn rừng dừa chung quanh vương cung thánh đường. Tại trung tâm có mấy dãy nhà ở cho các linh mục, tu sĩ. Lúc nào cũng thấy bóng áo dòng các nữ tu và linh mục rải rác ở công trường. Trên chuyến xe đò cũ kĩ, tróc sơn tôi bỏ lại Vailankanni sau lưng. Xe đò ở Ấn Độ không có chiếc nào ghế không long. Ba hay bốn chục người chết hết khi xe rớt xuống đèo bốc cháy là chuyện thường, lý do đơn giản là không ai thoát ra ngoài được. Để tránh tình trạng chui qua cửa sổ hoặc kẻ cắp đứng ngoài xe giật túi đồ trong xe, các cửa sổ đều có song sắt. Chỉ có một lối ra vào là cửa chính. Xe bốc cháy không thể chui qua cửa sổ thoát hiểm. Xe nào cũng cũ kỹ, chằng buộc dây kẽm lung tung, nhưng đầy máy nổ rất tốt. Tôi chưa thấy chiếc nào chết dọc đường. Xe nào cũng chở quá tải nhưng leo dốc rất khoẻ. Tài xế rất vững tay lái. Những đoạn đường nhỏ, cong queo mà họ chạy như không thắng. Trên đường về thành phố Trichy, hình ảnh đậm nét nhất còn trong tâm trí tôi là người đàn bà trọc đầu bò từ bãi biển đi lên. Lúc xuống bãi biển quay phim tôi thấy bà. Từ phía biển, bà bò như con chó, bằng hai đầu gối và chống hai tay làm hai chân. Mặt cuối chằm xuống đất. Như một con chó bò giữa đám rừng chân người chen nhau. Tôi nghĩ đấy là một bà điên. Gần tiếng đồng hồ sau, lúc trở về công trường vương cung thánh đường, tôi lại thấy bà. Đứng nhìn bà một lúc. Bà cứ bò thong thả như thế, như một con chó cuối mặt xuống đất, chống hai tay. Rồi bà bò vào đền thờ. Đó là ngày đầu tiên. Tôi nghĩ đấy thật là người đàn bà điên. Đầu cạo sạch tóc, rũ rượi ướt mẹp trong chiếc saree lấm cát biển, thứ áo dài của đàn bà Ấn Độ. Sau này được cắt nghĩa tôi mới hiểu những người cạo đầu như thế là tâm ý thật lòng, họ chỉ đến đây để cầu nguyện hành hương mà thôi. Cạo đầu xám hối. Tôi đâu ngờ vùng đất xa xôi này có một trung tâm hành hương kính Đức Mẹ sốt sắng như thế. Có những lời cầu xin bỏ vào ống tre thả xuống biển, nó trôi dạt từ Srilanka đến đây. Vailankanni là vùng đất xa xôi lắm. Ngày bị nóng sốt, yếu mệt vì kiết kỵ tôi tìm đến trạm xá. Một sơ trẻ rất nhân từ, biết tôi người ngoại quốc xa nhà, biết tôi đang lo, sơ đã động viên tinh thần và lo thuốc cho tôi chóng khỏi. Chiếc quạt trần không đủ xua nóng, trán sơ rịn mồ hôi, khám bệnh không ngừng cho các người hành hương bị đau. Bên bàn trạm xá, tôi nói giỡn với sơ cho vui: - Sơ mà không đi tu thì uổng quá. Đang quấn chiếc ống đo nhịp tim vào cánh tay tôi. Sơ mỉm cười, dừng tay nhìn tôi, đôi mắt người thiếu nữ xứ Ấn đen lay láy, hỏi: - Còn Father, nếu Father không đi tu thì sao? Tôi trả lời: - Chả được tích sự gì cả. Nếu tôi không đi tu thì hôm nay sơ đâu phải chữa bệnh cho tôi. Còn nếu sơ không đi tu, tôi biết tìm ai chữa bệnh bây giờ! Làn mi cong duyên dáng, nụ cười mỉm chi như có vẻ vui hơn. Trên khuôn mặt nước da ngăm đen, vẫn lấm tấm mồ hôi. Giã từ Vailankanni, biết chắc chả bao giờ trở lại nữa. Tôi nhìn tượng đài Đức Mẹ lần cuối. Những hàng dừa cao vòi vọi trong nắng ban trưa. Trên ngọn dừa bày quạ đen trốn nắng. Xe chạy ngang qua cổng trạm xá, tôi ngó theo, nơi người nữ tu vừng trán lấm tấm mồ hôi, nước da ngăm đen với đôi mắt đen láy màu Ấn Độ vẫn đang khám bệnh và cho thuốc. Tâm tư cũng mang một chút bùi ngùi. Tôi gởi lại nơi đây một chút tâm tình của mình cho một bước dừng chân. Tác giả Nguyễn Tầm Thường, sj. trích trong : Những trang Nhật ký của một Linh mục
< Sửa đổi: coLaido -- 8/2/2009 10:55:41 AM >
_____________________________
. http://www.memaria.org . http://www.thanhlinh.net
|