Linh Tinh Phố Rùm Bài Viết Gia Chánh Lời Tình K Truyện Chọn Lọc Thơ Tình
Trở lại trang đầu
Đi Vào Phố Hồ Sơ Cá Nhân Thư Riêng (Private Message) Các Bài Đăng Từ Lần Cuối Bạn Vào Các Bài Đăng Ngày Hôm Nay Lịch Sinh Hoạt Ghi Danh Trở Thành Thành Viên của Phố Rùm Những Câu Hỏi Thường Gặp Danh Sách Các Thành Viên
Phố này chỉ để xem lại bài cũ, không còn đăng bài mới lên được. Xin mời các bạn qua thăm Phố Rùm mới .
Phòng ẢNH

Vua Lê Thánh Tông.

 
Xem những đề mục liên hệ: (trong diễn đàn này | trong mọi diễn đàn)

Tham gia dưới tên: Guest
  In Ra
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Lịch Sử (trước 1930) >> Vua Lê Thánh Tông. Trang: [1] 2   phần sau >   >>
Tên login:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
Vua Lê Thánh Tông. - 10/18/2003 5:39:54 AM   
Khach Jzang Ho


Bài: 48
Từ: Chung Nam Sơn
Vua Lê Thánh Tông dưới cái nhìn của một số sử gia hiện đại.

1.Lê Thánh Tông
(Đặng đức Siêu)

Lê Thánh Tông (1442 - 1497), là vị vua mà tên tuổi và sự nghiệp vẻ vang đã gắn liền với giai đoạn cường thịnh của Việt Nam nửa cuối thế kỷ 15. Trong gần 40 năm làm vua, ông đã tiến hành nhiều cải cách về chính trị, quân sự, kinh tế; khởi xướng bộ luật Hồng Đức được xem là sự kiện đánh dấu trình độ văn minh cao của Việt Nam; đề cao những giá trị văn hóa dân tộc. Bản thân ông là một nhà thơ lớn, để lại nhiều tác phẩm có giá trị

Tên tuổi và sự nghiệp Lê Thánh Tông gắn chặt với một giai đoạn cường thịnh của Việt Nam ở nửa sau thế kỷ 15.

Lê Thánh Tông tên là Tư Thành, hiệu Thiên Nam động chủ, con thứ tư Lê Thái Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao. Ông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) tại nhà ông ngoại ở khu đất chùa Huy Văn Hà Nội ngày nay, mất ngày 30 tháng giêng năm Đinh Tỵ (1497).

Lê Thánh Tông lên làm vua năm 1460, hai lần đổi niên hiệu: Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497). Trong gần 40 năm làm vua, ông đã đưa triều Lê phát triển tới đỉnh cao về mọi mặt: chính trị, xã hội, kinh tế, quốc phòng, văn hóa. Sử gia Ngô Sĩ Liên khen Lê Thánh Tông là "vua sáng lập chế độ, mở mang đất đai, bờ cõi khá rộng, văn vật tốt đẹp, thật là vua anh hùng, tài lược".

Về phương diện văn học, Lê Thánh Tông là một nhà thơ lớn, tác phẩm ông để lại rất phong phú, vừa thơ, vừa văn xuôi, vừa Hán, vừa Nôm, hiện còn được sao chép trong các tập: Thiên Nam dư hạ (trong đó có bài phú nổi tiếng Lam Sơn Lương Thủy phú), Châu Cơ thắng thưởng Chinh Tây kỷ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn...

Nhà cải tổ và xây dựng đầy nhiệt huyết

Nhờ sự ủng hộ sáng suốt, quyết liệt của nhóm đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt..., Lê Thánh Tông đã bước lên ngai vàng giữa lúc triều chính nhà Lê đang lục đục mâu thuẫn. Lên nắm chính quyền, Lê Thánh Tông nhanh chóng chấm dứt tình trạng phe phái trong cung đình, khẩn trương tổ chức xây dựng đất nước với một tinh thần cải cách mạnh mẽ, táo bạo. Về cơ cấu chính quyền các cấp, ông đã tiến hành xóa bỏ hệ thống tổ chức hành chính cũ thời Lê Lợi từ 5 đạo đổi thành 12 đạo (tức 12 thừa tuyên). Bên cạnh cải tổ cơ chế Nhà nước, Lê Thánh Tông đặc biệt chú ý các biện pháp phát triển kinh tế, sửa đổi chế độ thuế khóa, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, mở đồn điền, khai khẩn đất hoang. Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển đất nước của Lê Thánh Tông đã được phản ánh khá rõ qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông ban bố, như Chiếu khuyến nông, Chiếu lập đồn điền, Chiếu định quan chế... Dưới thời Lê Thánh Tông, lực lượng quốc phòng bảo vệ đất nước được tăng cường hùng hậu. Trước kia, quân đội chia làm 5 đạo vệ quân, nay đổi làm 5 phủ đô đốc. Mỗi phủ có vệ, sở. Bên cạnh còn có 2 đạo nội, ngoại, gồm nhiều ti, vệ. Ngoài tổ chức quân thường trực, Lê Thánh Tông còn chú ý lực lượng quân dự bị ở các địa phương. 43 điều quân chính Lê Thánh Tông ban hành cho thấy kỷ luật quân đội của ông rất nghiêm ngặt, có sức chiến đấu cao.

Người khởi xướng bộ luật Hồng Đức

Bộ luật Hồng Đức là một trong những thành tựu đáng tự hào nhất của sự nghiệp Lê Thánh Tông và của cả thời đại ông. Sự ra đời của bộ luật Hồng Đức được xem là sự kiện đánh dấu trình độ văn minh cao của xã hội Việt Nam hồi thế kỷ 15. Lê Thánh Tông, người khởi xướng luật Hồng Đức, là người thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã ban hành. Ông đã thu lại quyền chỉ huy của tổng quân đô đốc Lê Thiệt vì con Lê Thiệt giữa ban ngày phóng ngựa trên đường phố và dung túng gia nô đánh người. Lê Thánh Tông thường bảo với các quan rằng: "Pháp luật là phép tắc chung của Nhà nước, ta và các người phải cùng tuân theo".

Người phát triển những giá trị văn hóa dân tộc
Về phương diện văn hóa Lê Thánh Tông đã có công tạo lập cho thời đại một nền văn hóa với một diện mạo riêng, khẳng định một giai đoạn phát triển mới của lịch sử văn hóa dân tộc. Cùng với việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài. ở Việt Nam thời phong kiến, chưa bao giờ nền giáo dục, thi cử lại thịnh đạt cũng như vai trò của trí thức lại được đề cao như đời Lê Thánh Tông. Ngoài Hàn lâm viện, Quốc sử viện, Nhà Thái học, Quốc Tử Giám là những cơ quan văn hóa, giáo dục lớn. Lê Thánh Tông còn cho xây kho bí thư chứa sách, đặc biệt đã sáng lập Hội Tao Đàn bao gồm những nhà văn hóa có tiếng đương thời mà Lê Thánh Tông là Tao Đàn chủ soái.

Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hồng Đức quốc âm thi tập, Hồng Đức thiên hạ bản đồ, Thiên Nam dư hạ... là những giá trị văn hóa tiêu biểu của triều đại Lê Thánh Tông.

Nói tới công lao của ông đối với nền văn hóa dân tộc, không thể không kể đến một việc có ý nghĩa lịch sử mà ông đã làm. Đó là việc ông hủy án minh oan cho Nguyễn Trãi, cho sưu tầm lại thơ văn Nguyễn Trãi đã bị tiêu hủy sau vụ án "Lệ Chi viên". Chính Lê Thánh Tông đã cho tạc bia về Nguyễn Trãi: "ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" (Tấm lòng ức Trai sáng tựa sao Khuê).

Một nhà thơ hào tráng

Đứng đầu hội văn học Tao Đàn, Lê Thánh Tông cũng dẫn đầu phong trào sáng tác. Thơ Lê Thánh Tông để lại khá nhiều và có giá trị cao về nội dung tư tưởng. Qua thơ ông, chúng ta không chỉ hiểu sâu hơn nhân cách, tâm hồn ông, một tâm hồn gắn bó mật thiết với non sông, đất nước, với nhân dân, với những truyền thống anh hùng của dân tộc, của Tổ tông, mà còn thấy được khí phách cả một thời đang vươn lên, đầy hào tráng:

Nắng ấm nghìn trượng tỏa trên ngọn cờ,
Khí thế ba quân át cày cáo.
Phương Đông Mặt trời mọc, áng mây nhẹ trôi,
Phóng mắt ngắm núi sông muôn dặm.


(Buổi sớm từ sông Cấm đi tuần biển Đông)

Lê Thánh Tông làm vua lúc 19 tuổi. Một năm sau, khi trách lỗi cựu thần Ngô Sĩ Liên, Nghiêm Nhân Thọ, vị hoàng đế 20 tuổi bảo họ: "Ta mới coi chính sự, sửa mới đức tính, ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang của Trung Quốc thời xưa, thế là ngươi theo đường chết, mang lòng không vua". Đó là tiếng nói của một ý chí tự cường dân tộc, động lực mãnh liệt đưa Lê Thánh Tông đạt tới vinh quang trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước hồi thế kỷ 15.
-------

Nguồn: Sưu tập


_____________________________

Còn không một bận quay về
Vườn xưa ngó bóng trăng thề vàng gieo...
Bùi Giáng
Bài số: 1
RE: Vua Lê Thánh Tông. - 10/18/2003 5:42:17 AM   
Khach Jzang Ho


Bài: 48
Từ: Chung Nam Sơn
2. Vua Lê Thánh Tông với việc học của sĩ tử
(Võ Văn Trực)



Hoàng đế Lê Thánh Tông (1442 - 1497) trị vì đất nước từ năm 1460 đến 1497. Trong 37 năm ấy, xã hội Việt Nam đã đạt đến độ cực thịnh trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Ông vừa là bậc minh quân vừa là nhà văn hóa lớn, rất chú trọng xây dựng nền giáo dục. Có thể nói, dưới thời Lê Thánh Tông, nên giáo dục đạt được những thành tựu huy hoàng mà không một thời kỳ đại phong kiến nào của Việt Nam sánh kịp. Ngay ở khu Thái học, phía trước và phía sau được dựng nhà để làm nơi ở và đọc sách cho giám sinh (học sinh của trường) và tặng quảng sinh (học trò lấy thêm các nơi về).

Bản thân nhà vua cũng cần mẫn học hành và chăm lo chính sự, đúng như lời nhà thơ tự thuật:

Trống đời canh còn đọc sách
Chiêng xế bóng chửa thôi chầu.

Lê Thánh Tông thường mặc quần áo dân thường vi hành ra ngoại ô và thôn mạc để hiểu đời sống của dân chúng. Nhà vua cũng vi hành tới khu trường Giám để xem xét các cống sĩ học hành ra sao. Sau mỗi lần vi hành ở khu truờng Giám, nhà vua lại có động tác tinh tế để khen ngợi một cống sĩ nào đó chăm học hoặc chê một cống sĩ nào đó lười học. Trong dân chúng và cống sĩ, có nhiều giai thoại về Lê Thánh Tông biểu lộ lòng tôn kính của họ đối với nhà vua anh minh này.

Tối giao thừa. Nhà vua vi hành ở khu nhà Giám. Thấy ở dãy nhà phía sau đỏ ngọn đèn dầu, vua cùng người hầu bước tới. Một cống sĩ đang chăm chỉ đọc sách. Hẳn anh ta là một tăng sinh ở xa, không về được, đánh trú ngụ lại đất kinh thành. Vua đến gần, cống sĩ vẫn không biết, bèn hỏi:

- Sao anh không về ăn tết với gia đình?

Cống sĩ giật mình, ngẩng đầu lên:

- Thưa bác, nhà con ở xa lắm, con không về được.

- Thế anh không sắm gì để đón giao thừa à?

- Thưa bác, nhà con nghèo... Vả lại con cũng đã quen sống đạm bạc...

Nhà vua lặng lẽ quay gót.

Sắp đến lúc giao thừa. Người hầu mang đến cho cống sĩ hai chiếc bánh chưng xinh xinh bằng hai bàn tay. Lúc đó cống sĩ mới biết "bác" lúc nãy hỏi chuyện mình là nhà vua. Đúng lúc giao thừa, cống sĩ bóc bánh chưng ra ăn, cảm động quá: một bánh chưng thật, còn "chiếc bánh chưng" kia gói bạc nén!

Một lần vi hành khác. Nhà vua thấy một cống sĩ chừng 50 tuổi chăm chú cúi đầu trên trang vở. Nhà vua đứng im phía xa, thấy cống sĩ mê mải đọc sách, thỉnh thoảng húp một ngụm cháo loãng. Trước lúc về, nhà vua đến gần:

- Cống sĩ húp cháo gì mà ngon thế?

- Thưa bác, con húp cháo hoa, nhà con hết muối rồi!

Nhà vua về một lát thì nội thị mang ra cho cống sĩ một "chĩnh muối" để cống sĩ ăn với cháo thì mới có sức mà học khuya được.

Cống sĩ sung sướng mở nắp chĩnh ra, thất là bất ngờ... không phải chĩnh muối mà là đĩnh bạc!

Một lần vi hành khác. Thấy cống sĩ nọ đỏ đèn đến quá nửa đêm, nhưng không phải để học, mà là đang mở hộp trầu, cùng ăn trầu đùa vui với vợ mới cưới.

Sáng hôm sau. Nhà vua cho họp mặt các cống sĩ trước cửa nhà Giám, biếu mỗi người một hộp trầu nhỏ. Viên cống sĩ nọ nhận được hộp trầu giống hệt hộp trầu của mình đêm qua vui đùa với vợ!

Thì ra nhà vua biết việc mình thức khuya để vui đùa với vợ chứ không phải để học. Một lời chê thật ý nhị!

Nghe nói trong vùng kinh thành có một người múa gậy rất giỏi. Ông ta vung gậy lên là gió nổi vù vù, cho nên người ta gọi là Quận Gió. Quận Gió chuyên sống bằng nghề trèo tường, đào ngạch, ăn trộm. Nhưng không bao giờ ăn trộm nhà nghèo, mà thường lấy của nhà giàu cứu giúp nhà nghèo và những người sống lương thiện.

Đêm giao thừa, nhà vua vờ đóng vai anh học trò nghèo, đến gặp Quận Gió: "Tôi học ở trường Giám, nhà nghèo quá, cuối năm không có một đồng xu để về quê. Nhờ ông cứu giúp" Quận Gió hỏi: "Thế cậu có biết ở kinh thành nhà ai giàu, chỉ cho tôi vào lấy trộm? Nhà cậu nghèo khổ mà chăm chỉ học hành như vậy, tôi phải giúp cậu". Nhà vua chỉ Quận Gió một số nhà giàu, Quận Gió đều lắc đầu từ chối vì những gia đình có của ăn của để không phải do làm ăn bất chính, mà do cần cù, tằn tiện mà có... "Cũng như cậu, nếu sau này cậu đậu đạt làm quan là do cậu sôi kinh nấu sử, không ai nỡ lòng cướp đoạt gia sản của cậụ..".

Cuối cùng, Quận Gió nói: "A, viên quan coi kho bạc Nhà nước hay ăn trộm bạc trong kho mang về nhà. Tôi sẽ lấy trộm bạc ở nhà hắn để giúp cậu". Nhà vua nửa tin nửa nghĩ: mình đã cử một viên quan liêm khiết như vậy để giữ kho, lẽ nào hắn lại ăn cắp?

Một lát sau, Quận Gió trở về, đặt vào tay nhà vua mấy thỏi bạc: "Học trò chăm chỉ như cậu thì tôi phải giúp kỳ được". Nhà vua ngạc nhiên thấy trên thỏi bạc khắc bốn chữ "Quốc khố chi bảo". Đích thị là viên quan kia ăn cắp của Nhà nước.

Sáng mồng một Tết, sau buổi khai triều, sau buổi khai triều, nhà vua cách chức viên quan coi giữ kho bạc và phong cho Quận Gió tấm biển vàng đề ba chữ "Trộm quân sử" do chính tay Vua viết.


------
Nguồn: Sưu tập


_____________________________

Còn không một bận quay về
Vườn xưa ngó bóng trăng thề vàng gieo...
Bùi Giáng

(trả lời: Khach Jzang Ho)
Bài số: 2
RE: Vua Lê Thánh Tông. - 10/18/2003 5:44:46 AM   
Khach Jzang Ho


Bài: 48
Từ: Chung Nam Sơn
3. Cải cách hành chính của vua Lê Thánh Tông

(Không rõ tác giả)



Năm 1471, vua Lê Thánh Tông tiến hành cuộc cải cách hành chính trên phạm vi cả nước. Ông bỏ hết các chức quan và cơ quan trung gian giữa vua và bộ phận thừa hành, chia lại cả nước thành 12 thừa tuyên, thống nhất các đơn vị hành chính thành phủ, huyện, châu, xã. Cuộc cải cách đã tạo được một hệ thống hành chính tinh giản, có hiệu lực, là mô hình tiên tiến của chế độ quân chủ, phong kiến đương thời.

Có thể nói Lê Thánh Tông là một vị hoàng đế đầy tự tin, ý chí kiên định và hành động quyết đoán. Ông trực tiếp điều hành ở mức tối cao nhiều công việc của triều đình.

Năm 1471, khi đã ổn định các vùng biên giới phía bắc và phía nam, cuộc cải cách hành chính mới thật sự bắt đầu. Bản "Hiệu định quan chế" tức là văn bản chính thức về cuộc cải cách hành chính được ban hành. Lê Thánh Tông nêu những lý do cấp thiết dẫn đến cuộc cải cách: "Đồ bản, đất đai ngày nay so với trước đã khác nhau xa, ta cần phải tự mình giữ quyền chế tác, hết đạo biến thông. ở trong kinh, quân vệ nhiều thì đặt năm phủ để giữ, việc công bề bộn thì đặt sáu bộ bàn nhau cùng làm, sáu khoa để xét bác trăm quan, sáu tự để thừa hành mọi việc". Lê Thánh Tông cũng chỉ rõ những lợi ích mà cuộc cải cách đem lại: "Ăn hại đã không có, trách nhiệm lại rõ ràng. Như thế là cốt để cho lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, uy quyền không bị lạm dụng, lẽ phải không bị lung lay, khiến trăm họ có thói quen theo đạo, giữ phép, không có lầm lỗi làm trái nghĩa, phàm hình, để theo trọn cái chí của Thái Tổ, Thần Tông ta mà giữ được an trị lâu dài".

Và cuộc cải cách hành chính đã diễn ra hết sức có hiệu quả.

Trước hết, Lê Thánh Tông bỏ hết các chức quan và cơ quan trung gian giữa vua và bộ phận thừa hành như Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh, Môn hạ sảnh, khu mật viện, các tướng quốc, Đại hành khiển, Tả hữu bộc xạ... Nếu khi cần phải có người thay vua chỉ đạo công việc, thì phải là các đại thần như thái sư, thái phó, thái bảo, thái úy, thiếu sư, thiếu bảo...

Tiếp đến, Lê Thánh Tông tách sáu bộ Lại, Lễ, Binh, Hình, Công, Hộ ra khỏi Thượng thư sảnh, lập thành sáu cơ quan riêng, phụ trách các hoạt động khác nhau của nhà nước. Đứng đầu mỗi bộ là chức thượng thư, hàm nhị phẩm, chịu trách nhiệm trực tiếp trước vua. Sự cải cách dễ nhận ra nhất là ở bộ Lại, một bộ chịu trách nhiệm tuyển bổ, thăng giáng và bãi miễn các chức quan từ tam phẩm trở xuống. Không như các triều đại trước, bộ Lại không được toàn quyền hành động. Theo nguyên tắc "lớn nhỏ cùng ràng buộc lẫn nhau", nếu "bộ Lại thăng bổ không xứng thì Khoa có quyền bắt bẻ, hoặc tố giác nếu bộ Lại làm sai trái".

Trong cuộc cải cách này, Lê Thánh Tông rất đề cao công tác thanh tra, giám sát quan lại. Ngoài Ngự sử đài có từ thời Trần, ông cho đặt sáu khoa chuyên theo dõi, giám sát quan lại ở sáu bộ. "Bộ Lễ nghi thức không hợp thì Lễ khoa được phép đàn hặc. Bộ Hộ có Hộ khoa giúp đỡ. Hình khoa có quyền xét lại sự thẩm đoán của bộ Hình...".

Lê Thánh Tông đặc biệt chú ý đến kiến thức thật sự của những người lãnh đạo. Ông bỏ chế độ bổ dụng vương hầu, quý tộc vào các trọng trách của triều đình mà lấy thước đo học vấn làm tiêu chuẩn dùng người, không phân biệt thành phần xuất thân. Các thân vương, công hầu, tuy vẫn được ban bổng lộc nhưng nếu không đỗ đạt thì không được đứng trong bộ máy nhà nước.

Chỉ riêng với cải cách này, Lê Thánh Tông đã có một tầm nhìn hơn hẳn các triều đại trước.

Bên cạnh bộ máy nhà nước ở trung ương, hệ thống hành chính địa phương cũng có ý nghĩa rất quan trọng với địa vị thống trị của một triều đại. Bởi vì phần đông dân cư tập hợp ở những nơi này. Nếu có một chế độ phù hợp với họ, triều đại sẽ bền vững vì có sự bảo vệ của chính những người dân ấy.

Năm 1466, cùng với việc thành lập các bộ, các tự, Lê Thánh Tông sáng suốt chia lại cả nước thành 12 đạo thừa tuyên và một phủ Trung đô (khu vực kinh thành). Năm 1471, ông cho lập thêm đạo thừa tuyên thứ 13 là Quảng Nam. ở cách phân chia mới, mỗi đạo thừa tuyên đều có ba ty ngang quyền nhau cai quản: Đô tổng binh sứ ty (Đô ty), Thừa tuyên sứ ty (Thừa ty) và Hiến sát sứ ty (Hiến ty). Đô ty và Thừa ty trông coi về quân sự và dân sự. Hiến ty chịu trách nhiệm thanh tra, giám sát các quan chức địa phương; luôn đi sâu, tìm hiểu đời sống và nguyện vọng của nhân dân. Ngoài ra, để giúp Hiến ty làm nhiệm vụ, ở Ngự sử đài, Lê Thánh Tông đặt thêm 13 cai đạo giám sát ngự sử chuyên giám sát, giúp đỡ các Hiến ty. Dưới đạo Thừa tuyên, Lê Thánh Tông cho thống nhất các đơn vị hành chính thành phủ, huyện, châu, xã.

Như vậy, khoảng từ năm 1471, thông qua cải cách, Lê Thánh Tông đã tạo được hệ thống hành chính thống nhất trong phạm vi cả nước. Hệ thống khá gọn gàng với chức trách phân minh, bảo đảm sự chỉ đạo và tập trung quyền lực của trung ương. Đây là mô hình tiên tiến nhất của chế độ quân chủ phong kiến đương thời, trong đó, trung ương và địa phương gắn liền nhau, quyền lực được bảo đảm từ trên xuống dưới.

Lê Thánh Tông là một vị hoàng đế lớn của một vương triều mạnh, có nhiều đóng góp trong lịch sử dân tộc...

----
Nguồn: Sưu tập


_____________________________

Còn không một bận quay về
Vườn xưa ngó bóng trăng thề vàng gieo...
Bùi Giáng

(trả lời: Khach Jzang Ho)
Bài số: 3
RE: Vua Lê Thánh Tông. - 10/18/2003 6:04:07 AM   
Addmore


Bài: 1367
Hi anh KDH,

Ad rất thích đọc về Tư Thành. Anh có sưu tầm được thêm post lên cho Ad đọc ké với.
Bữa trước ngoài Hà Nội có chụp mấy tấm hình đền Huy Văn...Để rảnh Ad post lên ACE coi chơi nghe.


_____________________________

Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả (!)

(trả lời: Khach Jzang Ho)
Bài số: 4
RE: Vua Lê Thánh Tông. - 10/18/2003 10:08:26 AM   
Khach Jzang Ho


Bài: 48
Từ: Chung Nam Sơn
Cảm ơn bạn Addmore và các bạn khác đã ghé thăm thư mục này. (Cho phép KJH gọi một tiếng "bạn" cho thân tình).

KJH xin post thêm một bài về Đại Việt sử ký toàn thư. Quan điểm của tác giả có thể không giống một số sử gia khác....


Thái độ phê phán nghiêm khắc trong Đại Việt sử ký toàn thư

Nguyễn Bình Phương
-----

Những lời phán xét đanh thép trong Đại Việt sử ký toàn thư đúng sai còn phải bàn nhưng trước hết nó cho thấy được thái độ thẳng thắn của những người chép sử. Không có những lời lẽ đó, đời sau sẽ vượt qua dễ dàng các ranh giới đạo đức và không biết sợ dư luận. Việc nêu lên khuyết điểm, sai lầm của các bậc tiền nhân không làm hình ảnh họ bị méo đi, mà trái lại nó góp phần làm cho thế hệ sau thấy rõ hơn giá trị những thành quả mà họ có được. Các bậc đế vương cũng là con người, mà đã là người thì ắt có sai lầm, khuyết điểm. Có sai lầm, khuyết điểm mà không bị chìm đắm, trái lại vẫn sáng giá, tồn tại với muôn năm thì còn quý hơn nhiều.

------

Trong kho tàng sử liệu hiếm hoi của dân tộc ta, bộ "Đại Việt sử ký toàn thư" là một báu vật vô giá, vô giá ở nhiều khía cạnh, trong đó có một khía cạnh quan trọng, đó là thái độ phê phán thẳng thắn, trung thực và nghiêm khắc của người chép sử.

Về Đinh Tiên Hoàng, ngoài việc ca ngợi công đức tài năng của ông, đến phần nhược điểm Lê Văn Hưu không ngại ngần hạ bút phê phán: "Tiên Hoàng không kê cứu cổ học, mà bầy tôi đương thời lại không có ai biết giúp sửa cho đúng, để đến nỗi chìm đắm trong tình riêng, cùng lập 5 hoàng hậu. Sau đến hai triều Lê, Lý cũng phần nhiều bắt chước làm theo, ấy là do Tiên Hoàng khởi xướng sự rối loạn thứ bậc vậy ". Khi Lê Đại Hành thay nhà Đinh lên làm vua, công lao được sử thần xưng tụng: "Vua trừ nội gian mà lấy được nước, đuổi giặc ngoài để yên dân, trong nước vua thanh bình, Bắc Nam vô sự...". Nhưng sự phê phán cũng không phải nhẹ khi xảy ra chuyện Lê Đại Hành đã lập vợ của Đinh Tiên Hoàng làm vợ mình. Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: "Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn... ".

Đến Lý Công Uẩn, người khơi nghiệp cho vương triều Lý cũng không phải là ngoại lệ. Sau khi ca ngợi công đức của Lý Thái Tổ là ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, khoan thứ nhân từ... Lê Văn Hưu cũng thẳng thắn chỉ ra các nhược điểm như: "Chưa dựng tông miếu, đàn xã tắc mà đã lập tám trăm chùa ở phủ Thiên Đức". Còn Ngô Sĩ Liên thì phê phán: "Chưa làm sáng chính học, lại ưa thích dị đoan, bị lụy vì chuyện đó". Tới Lý Phật Mã sự phê phán nhẹ nhàng hơn: "Người quân tử còn lấy việc khoe khoang thái quá để chê trách vua chưa hiền". Còn Lý Thánh Tông lại bị "soi" ở khía cạnh khác, vung phí công sức và của cải của dân: "...Nhọc sức dân xây tháp Báo Thiên, phí của dân cung Dâm Đàm đó là chỗ kém. Sang tới Lý Anh Tông, những hạn chế của ông vẫn bị đem ra phê phán "...không phân biệt được kẻ gian tà, hình phạt không sáng suốt...".

Khi chép về Trần Thái Tông, ông vua mở đầu cho triều đại Trần, các sử gia cũng thẳng thắn, khách quan đánh giá về ưu điểm và nhược điểm. "Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương" nhưng rồi cũng không quên phê phán nhược điểm của vua là để cho: "...quy hoạch việc nước đều do Trần Thủ Độ làm và chốn buồng the cũng có điều hổ thẹn ". Đến Trần Thủ Độ, vị khai quốc công thần, người chính thức dựng triều Trần cũng bị quở trách nghiêm khắc vì hành vi giết Huệ Tông và cướp vợ của ông ta. Sử thần Ngô Sĩ Liên hạ bút một cách quyết liệt: "Thủ Độ coi việc đó là hết lòng trung, lo việc nước, nhưng biết đâu thiên hạ đời sau đều chỉ mặt gọi là giặc giết vua, huống chi lại còn làm thói chó lợn". Trần Anh Tông cũng không tránh khỏi con mắt phán xét khắt khe của sử gia: "Vua khéo biết kế thừa, cho nên thời cuộc đi tới chỗ thái bình, chính trị trở nên tốt đẹp, văn vật chế độ ngày càng thịnh vượng, cũng là bậc vua tốt của triều Trần. Song tụ họp nhà sư trên núi Yên Tử, làm nhọc sức dân dựng gác Ánh Vân, thì chẳng phải là tỳ vết nhỏ trong đức lớn đó saỏ".

Lê Thái Tổ, tức Lê Lợi, người khởi binh đánh đuổi giặc Minh, khai sáng triều Lê, được sử gia đánh giá là vị vua có mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp nhưng kèm theo đó là nhược điểm chết người: "...đa nghi, hiếu sát". Chỉ rõ nhược điểm ấy của vua Lê Lợi là chính xác bởi vì trên thực tế quả là ông đã sát hại nhiều cộng sự quan trọng của mình như đã sai chém Tư mã Lê Lai, chém Lưu Nhân Chú, ruồng bỏ Nguyễn Trãi.

Những lời phán xét đanh thép trong Đại Việt sử ký toàn thư đúng sai còn phải bàn nhưng trước hết nó cho thấy được thái độ thẳng thắn của những người chép sử. Không có những lời lẽ đó, đời sau sẽ vượt qua dễ dàng các ranh giới đạo đức và không biết sợ dư luận. Việc nêu lên khuyết điểm, sai lầm của các bậc tiền nhân không làm hình ảnh họ bị méo đi, mà trái lại nó góp phần làm cho thế hệ sau thấy rõ hơn giá trị những thành quả mà họ có được. Các bậc đế vương cũng là con người, mà đã là người thì ắt có sai lầm, khuyết điểm. Có sai lầm, khuyết điểm mà không bị chìm đắm, trái lại vẫn sáng giá, tồn tại với muôn năm thì còn quý hơn nhiều.



Nguồn: Sưu tập


_____________________________

Còn không một bận quay về
Vườn xưa ngó bóng trăng thề vàng gieo...
Bùi Giáng

(trả lời: Addmore)
Bài số: 5
RE: Vua Lê Thánh Tông. - 2/16/2008 3:24:17 AM   
Hà Thủy Nguyên

 

Bài: 15
Những phê phán của Ngô Sĩ Liên hay Lê Văn Hưu đều đứng trên quan điểm của nhà Nho để phán xét lịch sử.
Tôi có một cái nhìn khác về Lê Thánh Tông.
1/ Lê Thánh Tông với dòng chảy văn hoá Việt:
Nếu ở thời Lý, Trần, quan điểm ứng xử với văn hoá của họ là "Tam giáo đồng nguyên" thì Lê Thánh Tông đề cao độc tôn Nho giáo. Trên thực tế, cái Nho giáo mà Lê Thánh Tông sử dụng với chế độ khoa cử ở nước ta là Tống Nho - Một thứ Nho giáo cổ hủ và giáo điều. Và cái hậu quả của việc quảng dương Nho giáo thời Lê Thánh Tông mang lại những hủ tục và quan niệm sai lệch trong quan hệ xã hội ở nước Việt. Nếu xét về bản sắc văn hoá dân tộc, rõ ràng đến thời Lê Thánh Tông, văn hoá Việt nam đã mất dần đi tính bản địa mà mô phỏng gần như hoàn toàn phong kiến Trung Hoa.
2/ Lê Thánh Tông có một công lớn nhất: Giải oan cho Nguyễn Trãi và đề cao trí thức. Nhưng đồng thời chính ông cũng tạo ra một lớp trí thức Nho học nhiều thiên kiến và cổ hủ. Sự ảnh hưởng này còn có hại tới nay.
*Theo tôi, Lê Thánh Tông có công với nhà Lê hơn là có công với văn hoá dân tộc Việt Nam. Liệu có nên hay không khi gọi Lê Thánh Tông là một danh nhân văn hoá, một bậc Thánh quân?

(trả lời: Khach Jzang Ho)
Bài số: 6
RE: Vua Lê Thánh Tông. - 2/16/2008 3:47:14 AM   
Hà Thủy Nguyên

 

Bài: 15
Có cái tiểu thuyết tôi vừa xuất bản lấy bối cảnh thời Lê Thánh Tông để bàn về cái đẹp về sự tiêu diêu, các bác ngó qua thử nhé:
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn0nvnmn1n31n343tq83a3q3m3237nvn

(trả lời: Khach Jzang Ho)
Bài số: 7
RE: Vua Lê Thánh Tông. - 2/16/2008 5:01:21 AM   
American

 

Bài: 2098
quote:


Lê Thánh Tông làm vua lúc 19 tuổi. Một năm sau, khi trách lỗi cựu thần Ngô Sĩ Liên, Nghiêm Nhân Thọ,
vị hoàng đế 20 tuổi bảo họ: "Ta mới coi chính sự, sửa mới đức tính, ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang
của Trung Quốc thời xưa, thế là ngươi theo đường chết, mang lòng không vua".

Xin hỏi Ngô Sĩ Liên, Nghiêm Nhân Thọ đã làm gì mà bị trách như thế?

(trả lời: Khach Jzang Ho)
Bài số: 8
RE: Vua Lê Thánh Tông. - 2/16/2008 3:04:56 PM   
nhunguyen

 

Bài: 1158
Cám ơn bạn Khach Jzang Ho !

cho phép nn bổ túc " chút chút " cùng bạn :


Lê Thánh Tông  !
 
Nếu nói rằng các vị chúa Nguyễn có công mở mang bờ cõi xuống miền Nam , tạo thành nước Việt Nam hình cong như chữ S ngày nay , thì trong lòng các người dân Việt không thể nào quên được công lao mở mang tổ quốc đầu tiên  của vua Trần Anh Tông ( Thuận Châu và Hóa Châu - Quảng Trị và Thừa Thiên và một phần Quảng Nam ngày nay )  ,và tiếp tục từ đó xuống đến nửa phần của miền Trung (phần còn lại của  tỉnh Quãng Nam , Quãng Ngãi , Qui Nhơn thẳng tới núi Thạch Bi – ranh giới Khánh Hòa và  Phú Yên ) thì không thể nào chúng ta không cúi đầu ngưỡng mộ vị vua Lê Thánh Tông của nhà Hậu Lê .
Chính những công lao khai phá này đã giúp cho các vì chúa Nguyễn sau này hết sức thuận tiện cho việc “ Hành Phương Nam “ oai hùng của Việt Nam , từ khởi điểm huyện Ái Tử, huyện Triệu Phong , tỉnh Quảng Trị mà… xuống tận Hà Tiên , trong vịnh Thái Lan.


Đó là về mặt vỏ công , về chính trị an dân của vua Lê Thánh Tông thì thật là chưa có vị vua tiền triều hay hậu thế nào có thể so sánh được …!
 
Thành thật xin lổi cùng các bạn , nn thiếu sót và xin bổ túc :
 
 
 Tiên khởi ,trong thời vua Lý Thánh Tông , nhân Chế Củ đem quân sang quấy phá biên giới , vua Lý bèn thân chinh cùng đại tướng Lý Thường Kiệt (tháng 5/ 1069 ) bình nam . Bắt được Chế Củ ở biên giới Chân Lạp ( Phan Rang , Phan Thiết )  giải về Thăng Long …Cuối cùng , Chế Củ dâng 3 châu Bố Chính , Địa Lý và Ma Linh  ( toàn tỉnh Quảng Bình và phía bắc tỉnh Quảng Trị ) để chuộc tội .
 
Đây cũng là một nguyên nhân chính mà bộ tộc Chàm thù ghét dân Việt , bắt đầu cuộc xung đột giữa đôi bên tùy thuộc vào sức mạnh chính quyền đương thời giữa 2 quốc gia mà phân thắng bại ( thường Chàm thua nhiều hơn thắng ) …
 
Và đây cũng là giai đoạn đầu tiên trong hành trình Nam tiến của dân Việt  , trải suốt gần 6 thế kỷ sau này …
 
 

 
 

< Sửa đổi: nhunguyen -- 2/19/2008 1:19:30 PM >



_____________________________

...tình nhị hồ vẫn yêu âm xưa !

(trả lời: Khach Jzang Ho)
Bài số: 9
RE: Vua Lê Thánh Tông. - 2/16/2008 3:09:21 PM   
nhunguyen

 

Bài: 1158
quote:

Tôi có một cái nhìn khác về Lê Thánh Tông.
1/ Lê Thánh Tông với dòng chảy văn hoá Việt:
Nếu ở thời Lý, Trần, quan điểm ứng xử với văn hoá của họ là "Tam giáo đồng nguyên" thì Lê Thánh Tông đề cao độc tôn Nho giáo. Trên thực tế, cái Nho giáo mà Lê Thánh Tông sử dụng với chế độ khoa cử ở nước ta là Tống Nho - Một thứ Nho giáo cổ hủ và giáo điều. Và cái hậu quả của việc quảng dương Nho giáo thời Lê Thánh Tông mang lại những hủ tục và quan niệm sai lệch trong quan hệ xã hội ở nước Việt. Nếu xét về bản sắc văn hoá dân tộc, rõ ràng đến thời Lê Thánh Tông, văn hoá Việt nam đã mất dần đi tính bản địa mà mô phỏng gần như hoàn toàn phong kiến Trung Hoa.
2/ Lê Thánh Tông có một công lớn nhất: Giải oan cho Nguyễn Trãi và đề cao trí thức. Nhưng đồng thời chính ông cũng tạo ra một lớp trí thức Nho học nhiều thiên kiến và cổ hủ. Sự ảnh hưởng này còn có hại tới nay.
*Theo tôi, Lê Thánh Tông có công với nhà Lê hơn là có công với văn hoá dân tộc Việt Nam. Liệu có nên hay không khi gọi Lê Thánh Tông là một danh nhân văn hoá, một bậc Thánh quân?


Tôi có những điểm sau đây không hiểu rõ nghĩa :

Dòng chảy văn hoá Việt là gì  ? ( tại sao gọi là dòng chảy  ? )

Lê Thánh Tông đề cao độc tôn Ngo giáo thế nào  ?
     Tống Nho - Một thứ Ngo giáo cổ hủ và giáo điều thế nào ?


Nếu xét về bản sắc văn hoá dân tộc, rõ ràng đến thời Lê Thánh Tông, văn hoá Việt nam đã mất dần đi tính bản địa mà mô phỏng gần như hoàn toàn phong kiến Trung Hoa. Xin cho một vài minh chứng cho ý niệm trên.
 
Hà Thủy Nguyên có thể giải thích tường tận những điều thắc mắc của tôi chăng  ?


Cám ơn Hà Thủy Nguyên !




_____________________________

...tình nhị hồ vẫn yêu âm xưa !

(trả lời: Hà Thủy Nguyên)
Bài số: 10
Trang:   [1] 2   phần sau >   >>
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Lịch Sử (trước 1930) >> Vua Lê Thánh Tông. Trang: [1] 2   phần sau >   >>
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết


Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 6-10/2009:
Mai Dang, Bao Cuong, vann, Tương Kính

Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh

Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.

Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode