Linh Tinh Phố Rùm Bài Viết Gia Chánh Lời Tình K Truyện Chọn Lọc Thơ Tình
Trở lại trang đầu
Đi Vào Phố Hồ Sơ Cá Nhân Thư Riêng (Private Message) Các Bài Đăng Từ Lần Cuối Bạn Vào Các Bài Đăng Ngày Hôm Nay Lịch Sinh Hoạt Ghi Danh Trở Thành Thành Viên của Phố Rùm Những Câu Hỏi Thường Gặp Danh Sách Các Thành Viên
Phố này chỉ để xem lại bài cũ, không còn đăng bài mới lên được. Xin mời các bạn qua thăm Phố Rùm mới .
Phòng ẢNH

Các bài báo vê` giáo dục

 
Xem những đề mục liên hệ: (trong diễn đàn này | trong mọi diễn đàn)

Tham gia dưới tên: Guest
  In Ra
Các Diễn Đàn >> [Đời Sống - Xã Hội] >> Giáo Dục >> Các bài báo vê` giáo dục Trang: [1]
Tên login:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
Các bài báo vê` giáo dục - 10/24/2009 1:42:29 PM   
Lotus

 

Bài: 728
INTELLIGENCE INVESTED IGNORANCE

Propaganda’s children

Life among Ho Chi M inh’s heirs.

by Neil Fitzgerald

Coi trong  :

http://inthefray.org/content/view/3057/227/



FEATURE-Firms struggle to hire skilled professionals in Vietnam

By John Ruwitch

Coi trong  :

http://uk.reuters.com/article/idUKPEK46232520090513?sp=true

< Sửa đổi: Lotus -- 10/24/2009 2:34:20 PM >
Bài số: 1
Giáo dục ở CHXHCN VN - 10/24/2009 1:47:34 PM   
Lotus

 

Bài: 728
Thiên nhiên nước ta giàu hay nghèo?

Đã một thời, học trò trên ghế nhà trường nghêu ngao lời giảng của thầy: "Nước ta rừng vàng,biển bạc, nhân dân cần cù". Rồi lại một thời người ta phê phán rằng dạy học trò như vậy là không đúng mà phải học nước Nhật Bản luôn dạy cho trẻ biết rằng nước mình nghèo để nuôi và giữ lấy cái chí phấn đấu và cái đức tiết kiệm.

Thú thực đến nay tôi cũng không biết tài nguyên là nước ta giàu hay nghèo. Nhưng điều chắc chắn là thiên nhiên nước ta không nghèo. Tây chiếm nước ta trước tiên vì thấy cái mỏ than ở bên bờ biển gần cảng nước sâu, từ đó có thể thâm nhâp vào vùng Tây Nam Trung Quốc và vựa thóc ở đầu quốc gia cùng cả một dải bờ phơi lưng ra biển cả, ngay kề con đường hảng hải quốc tế mà một thời được ví là "con đường tơ lụa xanh". Cái mỏ than ấy khai thác đến nay vẫn chưa hết, sắp hết thì lại phát hiện cả một vùng than khổng lồ nằm ngay dưới lòng đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn. Còn vựa lúa thì cuối thế kỷ XIX đã xuất khẩu gạo; còn đến nửa cuối thể kỷ XX chỉ cần biết "cởi trói" khỏi cách làm ăn tập thể thiếu dân chủ và khoa học của thời "cải tạo xã hội chủ nghĩa" là đã đứng vào "top" các nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Từ cái cây càphê do mấy cố đạo mang từ phương xa đến trồng ngoài vườn để có thức uống theo tập quán, Tây đã nhận thấy cái chất đất màu mỡ để mở mang đồn điền, nhất là sau khi đặt chân được lên vùng đất đỏ badan Tây Nguyên, để giờ đây hội nhập với kinh tế thế giới Việt Nam đã là Á quân của thị trường sản xuất hạt càphê. Với một số loài cây công nghiệp khác như caosu, tiêu, điều... không ai dám bảo rằng đất nước ta cằn cỗi. Rồi chiến tranh vừa kết thúc, thì cũng là lúc, nhờ phúc ấm của tổ tiên, đất nước Việt Nam lại khơi được nguồn dầu khí từ ngoài thềm lục địa, hút lên bồi bổ suốt mấy chục năm qua mà mỗi năm cứ đọc báo cáo về nguồn thu cho ngân sách mới giật mình tự hỏi rằng nếu nước mình không có dầu khí thì lấy gì mà sống, vì cho đến nay nó vẫn chiếm một tỉ trọng rất cao.

Rồi đất đai, vẫn là những thửa đất ấy, công sức biết bao đời ông cha ta khai phá và gìn giữ giỏi giang đến mức "chỉ có thêm không có bớt" từ mạn trung du phía Bắc mở cõi đến tận đồng bằng cực nam của Tổ quốc. Giờ đây chỉ cần chuyển đổi công năng và quyền sử dụng nó đã trở thành vàng thành bạc theo đúng nghĩa đen của giá trị. Thử hỏi, đến nay có ai làm giàu, từ quan đến dân mà không dính đất cát, có địa phương nào không giàu lên nhờ dự án liên quan đến đất?

Và nếu xem du lịch là một thế mạnh thì Việt Nam hoàn toàn tự tin mà nói rằng thiên nhiên của ta rất đẹp, giàu tiềm năng... Thiên hạ khen là điều có thật. Tôi đã gặp mấy nhà đầu tư giàu có Trung Đông sang ta với ý tưởng làm một thành phố quốc tế tiêu cả trăm tỉ đô. Họ bảo, nước chúng tôi dầu sắp cạn rồi, vốn liếng nhiều nhưng phải tính đến sự chuyển đổi sang nghề làm đô thị sinh thái cho tương lai.

Trên đất nước họ, giữa sa mạc họ xây cao ốc, giữa biển cả họ đắp đảo xây cả khu đô thị sang trọng. Hỏi rằng sang Việt Nam có gì đặc sắc, họ cầm cái compa đặt tại một điểm ở miền Trung quay một vòng mà rằng: thấy chưa cái vị trí của Việt Nam, và chỉ vào cả dải bờ biển mà nói rằng khó kiếm đâu vùng biển đẹp và còn "hoang dã" (hiểu là chưa được đầu tư bài bản) như ở Việt Nam này...

Rồi nữa, người ta chứng minh là sắp tới, ta sẽ thành cường quốc sản xuất nhôm với những mỏ bôxít phủ khắp cao nguyên Trung phần. Những mỏ kim loại còn ủ trong đất, các mỏ đá quý đang phát lộ. Đọc trên báo chí thấy các nhà khoa học nước ngoài nói và hỏi các đồng nghiệp ở trong nước đều trả lời, rằng nước ta đa dạng sinh học vào bậc nhất thiên hạ. Lên Tam Đảo, thấy người nước ngoài vác vợt, dăng đèn bắt côn trùng về làm tiêu bản, hỏi ra thì họ bảo đấy là cái kho của nhiều loài quý hiếm... Rồi một thời phát hiện sao la, nhiều loại động vật hiếm hoi còn sót lại trên thế giới còn len lủi trong thâm sơn cùng cốc nước ta. Tôi quen một nhà sinh học nổi tiếng, ông và đồng nghiệp lập quỹ gen của các loài vi sinh vật nói rằng riêng cái lĩnh vực này thì ta dám nhận là giàu có. Chỉ có điều muốn phát hiện để công bố phải hợp tác với các bạn Nhật. Hỏi vì sao, thì được trả lời rằng có bạn làm đồng tác giả thì việc công bố mới có tiếng vang.

Rồi các khu sinh thái, sinh quyển, đa dạng sinh học ở Việt Nam được quốc tế công nhận. Ngay vịnh Hạ Long không chỉ trở thành Di sản nhân loại vì cảnh đẹp mà còn nhân đôi nhờ tính độc đáo về địa chất, địa mạo, vân vân và vân vân... Đấy là chưa kể đến biển cả còn biết bao nhiêu điều chưa biết đến...

Thế thì không thể coi thên nhiên nước ta là nghèo. Chỉ có điều dân ta ngày nay có còn cần cù không thì phải bàn. Đúng là trong truyền thống nếu dân ta không cần cù thì làm sao có cái cơ đồ mà ngày nay chúng ta đang thừa kế. Nhưng còn phải kể đến ngày xưa có ông Lê Quý Đôn, đọc sách rồi đi khắp thiên hạ ghi chép tài nguyên của đất nước, có ông Tuệ Tĩnh và Hải Thượng đi tìm cây thuốc chép lại cho đời sau, có các Chúa Nguyễn sai người vượt biển cả ra đảo xa ghi chép và nhặt nhạnh đến cả các đồ vớt lên từ những con tàu đắm để quan sát, kiểm kê những nguồn lợi có thể thu về cho vương triều và cho cả tương lai... Trong thời đại kinh tế tri thức này dường như sự cần cù là chưa đủ.

Thời các cụ chỉ có cách ghi chép và truyền khẩu để ngày nay ta còn những "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi. "Nam dược thần hiệu" của Tuệ Tĩnh, "Vân Đài loại ngữ", "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn hay địa chí của quốc sử quán các đời v.v...

Thời Tây qua, họ lập những bảo tàng liên quan đến thiên nhiên, tài nguyên của thuộc địa. Từ rất sớm họ đã lập những bộ sưu tập rồi trở thành Bảo tàng Địa chất ở Hà Nội (từ cuối thế kỷ XIX); Bảo tàng Tài nguyên biển, Hải dương học ở Nha Trang (từ nửa đầu thế kỷ XX); rồi khởi động bộ sưu tập tiêu bản các loại thú, loài cây trong khuôn viên Đại học Đông Dương...

Còn với công chúng, thì một trong những công trình được quan tâm sớm nhất trong thiết chế quy hoạch đô thị lớn là các vườn bách thảo, bách thú ở Hà Nội và Sài Gòn. Ví như, vườn Bách thảo (Thảo Cầm Viên) ở Sài Gòn được lập từ năm 1863, chỉ 1 năm sau khi Pháp chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ và năm 1877 bộ sách "Thảo mộc địa phương chí Nam Kỳ" (Flore Forestière de la Cochinchine) đã ra mắt tập đầu.

Điều đáng nói, là nước ta từ khi độc lập, thống nhất rồi đổi mới cũng đã có vài chục năm hoà bình và phát triển mà đất nước ta, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội chúng ta vẫn chưa làm thêm một cái gì đáng kể mang lại cho người dân những công cụ để nhận biết về tiềm năng tự nhiên của đất nước. Cả 2 thành phố với lãnh thổ và dân cư lớn lên gấp nhiều lần, đến nay vẫn chưa có được những vườn bách thảo hay bách thú tương xứng, trong khi không gian của nó không những bị thu hẹp mà ngày càng nghèo nàn về bộ sưu tập. Các bảo tàng về địa chất hay hải dương học mà người Pháp để lại vẫn được duy trì nhưng về căn bản vẫn chưa tương xứng với những gì ta đáng có.

Mới đây, tiếp cận với bộ hồ sơ về việc xây "Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam" càng thấy cám cảnh. Các nhà lãnh đạo từ thời Thủ tướng **** đã quan tâm, từ năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định... nhưng đến nay qua 4 lần thay đổi, dự án Bảo tàng vẫn chưa... cắm được đất.

Từ Xuân Đỉnh rồi chuyển qua Mỹ Đình rồi Đại Mỗ (Từ Liêm) đến cuối năm 2008 đẩy lên gần ngã ba Hoà Lạc-Tân Mai. Những tưởng đã "an cư" thì lại được biết đất này chính quyền đã cấp dự án cho doanh nghiệp xây khu đô thị... Thế là Bảo tàng Thiên nhiên vẫn còn nằm trên giấy. Cái câu hỏi mông lung: Thiên nhiên nước ta giàu hay nghèo dường như người dân vẫn vô phương hiểu được...


Dương Trung Quốc, 16/08/2009

(trả lời: Lotus)
Bài số: 2
RE: Giáo dục ở CHXHCN VN - 10/24/2009 1:50:28 PM   
Lotus

 

Bài: 728
Số phận hẩm hiu của 16.000 cuốn sách vô giá

Một bộ sưu tập địa bạ gồm trên 16.000 quyển do gần 20 ngàn con người soạn thảo trong vòng 35 năm mới hoàn thành nhưng hiện đang bị cất một xó, chẳng ai đoái hoài.


Dành hơn 30 năm để nghiên cứu bộ sưu tập ấy, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu vẫn cho là chưa hiểu hết.

Một tác phẩm đồ sộ

Sau khi thống nhất cả nước và lập nên vương triều nhà Nguyễn, vua Gia Long đã cho soạn thảo bộ địa bạ này. Khởi công từ năm 1805, mãi hơn 30 năm sau (năm 1839) nó mới hoàn thành.

Với số lượng ban đầu là gần 18.000 quyển do gần 20.000 nho sĩ soạn thảo trong hơn 30 năm, bộ địa bạ về các làng xã Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 19 được xem như là bộ địa bạ cổ nhất và đầy đủ nhất nước ta. Nó ghi rõ vị trí từng làng xã, diện tích từng mảnh đất, chủ sở hữu là ai, nhờ đâu mà được sở hữu mảnh đất ấy, mảnh đất ấy trồng gì, thu hoạch ra sao…

Nhưng sau khi hoàn thành không lâu, đất nước rơi vào cảnh binh đao chiến loạn, bộ địa bạ ấy bị xếp xó trong Tàng thư lâu ở kinh thành Huế, và nó bị người đời lãng quên. Hàng ngàn cổ vật của kinh thành bị đánh cắp trong thời gian ấy, nhưng chẳng ai muốn đánh cắp một bộ sưu tập lớn tương đương một cái thư viện làm gì. Nhờ đó, nó còn đến nay.

Mãi đến năm 1959, nhận thấy giá trị của bộ sưu tập này, chính quyền Miền Nam lúc ấy đã chuyển toàn bộ bộ sưu tập cùng một số tấu chương có bút phê của các vua triều Nguyễn (châu bản) về bảo quản tại Đà Lạt. Nó tiếp tục bị lãng quên vì những biến động liên miên. Đến tháng 3/1975, những tài liệu này được vội vã đưa về Sài Gòn, giấu kín dưới mật thất của Dinh Độc Lập (lúc ấy là Dinh Tổng Thống).
Rất may, khi nó được đưa về Sài Gòn thì nhà nghiên cứu lãnh thổ quốc gia Nguyễn Đình Đầu biết được. Là một người say mê nghiên cứu bản đồ, địa danh, địa bạ từ nhỏ, khi thấy một tác phẩm địa bạ đồ sộ đến thế, ông sướng đến run người. Đó có thể gọi là “duyên kỳ ngộ” giữa một người đam mê nghiên cứu và những tư liệu sống động, quý giá nhất.

Nhưng ông Nguyễn Đình Đầu chưa kịp làm gì thì giải phóng. Chính quyền bận rộn công tác tiếp quản nên cũng chưa có thời gian để ý đến những việc như thế. Gần một năm sau, dựa vào mối quan hệ với các ông Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, ông Đầu đã xin được phép nghiên cứu số tư liệu này (lúc đó, nó được chuyển về Trung tâm Lưu trữ quốc gia).

Từ đó, ông bắt đầu quãng thời gian hơn 30 năm nghiên cứu bộ địa bạ khổng lồ, nay chỉ còn hơn 16.000 quyển. Nhưng như thế cũng đáng để người đời trầm trồ thán phục.

Những giá trị không ngờ

Để rõ bộ sưu tập này quý đến chừng nào, xin dùng lời của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, người đã có hơn 30 năm trăn trở, nghiên cứu bộ sưu tập này: “Cứ xét một góc cạnh “nhỏ bé” mà tôi nghiên cứu được thôi, khi thống kê những số liệu ở đây, chúng ta có thể nhận ra và giải thích một cách khoa học nhiều vấn đề của xã hội phong kiến triều Nguyễn cũng như đời sống người Việt cách đây hàng trăm năm”.

Chỉ cần thống kê các con số, ta có thể khái quát toàn bộ tài nguyên, nhân vật lực và sản vật cả nước trong giai đoạn ấy. Từ đó, ta có thể biết được người dân ta thời ấy dùng chất liệu gì để may y phục là phổ biến, dựa vào số liệu tơ tăm, cây đay… trên toàn quốc. Từ đó ta có thể biết từng mảnh đất cha ông đã gầy dựng nên từ hàng trăm năm trước nay đã dời đổi ra sao. Từ đó, ta có thể biết được lãnh thổ ta từng rộng lớn thế nào…

Hay như vấn đề nữ quyền thời phong kiến. Các nhà văn hóa, lịch sử đều cho là người phụ nữ Việt Nam rất được xem trọng chứ không như người phụ nữ ở Trung Hoa. Các sử gia chủ yếu dựa vào Bộ luật Hồng Đức để bênh vực cho luận điểm này. Nhưng ông Nguyễn Đình Đầu chứng minh bằng một thực tế: thống kê địa bạ triều Nguyễn thì phụ nữ đứng tên làm chủ từ 20 - 30% ruộng đất cả nước. Đó là một tỉ lệ rất lớn.

Còn quan điểm tầng lớp quan lại và tổng lý là những kẻ chiếm hữu ruộng đất nhiều nhất thì bị những con số bác bỏ hoàn toàn. Vì thống kê cho thấy: Riêng huyện Bình Dương (nay là địa bàn TP H CM) có 368 quan lại và tổng lý, thì 272 người (gần 74%) không có đất cắm dùi, 86 người có từ 1 sào đến dưới 10 mẫu, chỉ có 9 người có trên 10 mẫu. Ngay Tả quân Lê Văn Duyệt - người quyền thế nhất miền Nam cũng chỉ có 50 mẫu.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cho rằng: “Ở miền Nam khác miền Trung và miền Bắc, vì là vùng đất mới nên ruộng thẳng cánh cò bay. Những chủ điền có vài chục đến vài trăm mẫu có hằng sa số. Nhưng quan lại thì rất ít ruộng đất”...
Và còn nhiều, còn nhiều giá trị khác mà nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu chưa nghiên cứu hết như ông có lần tự trách: “Do trí lực và nhiều hạn chế khác nên chưa nghiên cứu thấu đáo hết được”.

Thế mà chẳng ai đoái hoài…

Tháng 4 vừa rồi, ông ngất ngay trên bàn làm việc khi đang định viết một bài nghiên cứu mới. Mãi đến tháng 5 ông mới xuất viện, nhưng đến nay vẫn còn yếu lắm, không tiếp khách được.

Nhưng ngay khi còn nằm trong viện, ông vẫn không thôi trăn trở về số phận của 16.000 quyển địa bạ yêu quý. Ông kể: “Năm 1993, Chính phủ Nhật có nhã ý muốn hỗ trợ chúng ta xây dựng một kho lưu trữ với các trang thiết bị hiện đại trị giá đến 8 triệu USD để bảo quản bộ sưu tập quý giá này. Thời điểm ấy, 8 triệu USD lớn lắm.

Vì họ cũng là đất nước có nền văn hóa giấy bản nên họ hiểu được giá trị của bộ sưu tập hàng ngàn cuốn sách giấy bản này. Nhưng cán bộ ngành văn hóa chúng ta muốn xây dựng kho lưu trữ này ở Hà Nội. Do đó, bộ sưu tập được chuyển ra Hà Nội”.

Từ đó, bộ sách nằm yên vị trong cái kho lưu trữ ấy, chẳng thấy ai đả động đến. Ông cũng có hẹn với các nhà nghiên cứu phía Bắc là ông sẽ thống kê lại phần ông đã biên dịch (11.000 quyển) và soạn thảo thành sách cho các tỉnh từ Nam trở ra miền Trung, còn phía Bắc thì nghiên cứu các tỉnh từ miền Bắc vào để hoàn tất tác phẩm này. Hơn 10 năm qua, ông đều đặn cho ra gần 20 cuốn sách, nhưng phía Bắc thì chẳng thấy gì.

Những giá trị bộ sưu tập ấy, một nhà nghiên cứu “tay ngang” như ông Đầu (như ông tự nhận) còn nhận ra, thì làm sao hàng ngàn học giả đầy bằng cấp lại không thấy. Chủ yếu là do: “Đó là một công việc khô khan, tỉ mỉ và ít lợi ích kinh tế nên người ta nhường cho tôi làm
”, như ông Đầu có lần tâm sự.

“Đừng vì lợi ích, danh tiếng của một cá nhân, một địa phương nào đó mà để những tài liệu quý giá như thế bị lãng quên” - nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cảm khái. Bởi ông đang lo, nếu không có ông, biết có còn ai nhắc đến 16.000 quyển sách vô giá ấy…





(trả lời: Lotus)
Bài số: 3
RE: Giáo dục ở CHXHCN VN - 10/24/2009 1:54:58 PM   
Lotus

 

Bài: 728
Văn hóa cho tương lai

Có hai con số, hơn 70.000 và 16.470, do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ vừa đưa ra. Đó là số các cô gái lấy chồng ngoại và số lao động ra nước ngoài làm việc, từ năm 2006 đến nay, ở Tây Nam Bộ, còn gọi là vùng ĐBSCL. Con số đầu gấp hơn bốn lần con số sau. Nguyên nhân có nhiều, trong đó nguyên nhân chính, trực tiếp, đã được chỉ rõ là kinh tế. Vì nghèo khổ, nhiều cô gái mong lấy chồng nước ngoài để có cuộc sống đầy đủ hơn. Một số cô còn nêu “chí hướng cứu nhà” bằng tuyên bố “liều thân, nếu bất hạnh thì chịu, nếu may mắn sẽ có tiền giúp đỡ cha mẹ”.

Nhiều người muốn tìm nguyên nhân sâu xa hơn ở góc độ văn hóa. Thì đây, con số vẫn do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ vừa đưa ra. Hiện ở ĐBSCL, số trẻ đi nhà trẻ đạt 5,7 phần trăm, đi mẫu giáo 59,8 phần trăm, học THPT đúng độ tuổi 43 phần trăm và lao động qua đào tạo nghề 7,3 phần trăm. Trường lớp và giáo viên đều thiếu, số đã có thì chất lượng thấp.

Thực trạng này, có thể phần nào lý giải, điểm môn văn ở kỳ thi tốt nghiệp THPT vừa qua tại nhiều tỉnh ĐBSCL rất thấp. Trước đó nữa, dư luận từng xôn xao về điểm rất thấp của môn thi lịch sử.

Kiến thức văn hóa, kiến thức lịch sử, của thế hệ trẻ không chỉ thu nhận ở nhà trường mà còn ở cuộc sống. Trong đó, các di tích lịch sử - văn hóa có vị trí rất quan trọng.

Các địa phương ĐBSCL hiện nay rất nhiều di tích lịch sử - văn hóa được công nhận. Tuy nhiên, hầu hết thuộc thời gian gần đây, liên quan hai cuộc chiến tranh giải phóng.

Những di tích lớn nhất đều mới xây dựng, càng ở thời gian gần hơn nữa. Nhiều di tích khác đang tiếp tục được xây dựng, Bảo tàng Xứ ủy Nam kỳ ở Đồng Tháp dự kiến 114 tỷ đồng, khu lưu niệm Võ Văn Kiệt ở Vĩnh Long gần 100 tỷ đồng, một tượng đài ở Cà Mau mới khởi công trị giá 47 tỷ đồng... Để giáo dục văn hóa cho thế hệ tương lai, bên cạnh xây tượng đài, cần phải xây thêm trường học. Giáo dục không chỉ thông qua những tượng đài, lăng mộ hiện hữu để thêm hiểu, thêm yêu giống nòi, cội rễ, mà còn phải thông qua trường học một cách bài bản để vừa kịp vươn ra nắm lấy cơ hội của thời đại vừa chủ động đương đầu giải quyết những thách thức kiểu như cảnh nhiều phụ nữ vùng ĐBSCL xuất ngoại bất đắc dĩ như thống kê ở trên.


(trả lời: Lotus)
Bài số: 4
RE: Giáo dục ở CHXHCN VN - 10/24/2009 2:01:05 PM   
Lotus

 

Bài: 728
quote:

Trường lớp và giáo viên đều thiếu, số đã có thì chất lượng thấp.

Những di tích lớn nhất đều mới xây dựng, càng ở thời gian gần hơn nữa. Nhiều di tích khác đang tiếp tục được xây dựng


Vì sao  xây khu lưu niệm  nhiêù thê´  ?

Khu lưu niệm Hà Huy Tập vừa bàn giao đã hỏng nặng

Sau hai năm đưa vào sử dụng khu tưởng niệm cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập ở xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) đã xuống cấp nghiêm trọng.
Đụng đâu hỏng đấy

Dự án nâng cấp, tu bổ khu tưởng niệm cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập được khởi công xây dựng từ tháng 11/2005 để chào đón kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông.
Gần như toàn bộ hệ thống đèn gắn tường do dùng hàng kém chất lượng nên đã hỏng.

Công trình do UBND huyện Cẩm Xuyên làm chủ đầu tư, tổng nguồn vốn hơn 11 tỷ đồng từ nguồn ngân sách Nhà nước, gồm các hạng mục: Nhà tưởng niệm, nhà đón tiếp khách, hệ thống tường rào, hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước, cụm điêu khắc đá...

Tuy nhiên, chỉ sau 3 năm đưa vào sử dụng, nhiều hạng mục của Khu tưởng niệm được đầu tư hàng chục tỉ đồng này đã có biểu hiện xuống cấp nghiêm trọng.
Điều đập vào mắt đầu tiên là toàn bộ hệ thống đèn bảo vệ xung quanh tường rào hầu như đã hư hỏng gần hết. Còn cụm 6 đèn chiếu sáng phía trước cổng chính cũng đã ngừng hoạt động từ lâu.
Hệ thống điện ngầm đã bị hư hỏng hoàn toàn. Hiện nay toàn bộ điện của khu tưởng niệm chỉ nhờ vào "mảnh" dây trần mà ông Tín mắc tạm.   

Chúng tôi thử kiểm tra một chiếc còn nguyên vẹn, nhưng mới chạm nhẹ vào đã thấy vỡ vụn ra thành từng mảnh nhỏ. “Ban đầu họ đổ lỗi do trẻ con quanh đây phá, nhưng các chú xem, toàn đồ đểu giống như bánh đa nướng thì lấy gì mà không hư” - một người dân sống gần đấy cho biết.

Ông Hà Huy Tín, người bảo vệ khu tưởng niệm từ khi khu đi vào hoạt động đến nay thông tin thêm: “Toàn bộ đường điện chạy dưới lòng đất dùng cho hệ thống đèn bảo vệ, đèn chiếu sáng cũng đã tê liệt. Nguyên nhân dẫn đến việc này là do các nhà thầu mua phải loại dây kém chất lượng nên dẫn đến chạm chập, đứt ngầm bên trong. Để khắc phục tạm thời tôi phải mua dây điện về đấu nối trực tiếp bên ngoài".

Hệ thống vòi tưới nước trong khu tưởng niệm đã bị hỏng trước khi công trình này được bàn giao.
Chưa kể, hệ thống cấp thoát nước khu tưởng niệm được đầu tư hàng trăm triệu đồng thì hầu như không sử dụng được ngày nào. Theo thiết kế, hệ thống cấp nước gồm một bể đặt trên cao, một bể chứa nước ngầm và đường ống dẫn phục vụ tưới tiêu, sinh hoạt.

"Các chú xem, cái vòi này dùng để tưới cho cây nhưng chưa sử dụng lần nào mà đã hoen gỉ gần hết. Thú thật, nếu có hoả hoạn xảy ra cũng không biết lấy đâu nước để chữa cháy. Còn hệ thống thoát nước, tôi chẳng biết họ làm như thế nào nhưng khi mưa xuống, nước dâng ngập cả khuôn viên rồi chảy băng qua đường, đổ xuống nhà dân" - ông Tín phàn nàn.
 
Ngoài hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước, khu nhà trưng bày cũng có nhiều dấu hiệu hư hỏng nghiêm trọng ngay từ khi mới đưa vào sử dụng.

Trần nhà khu trưng bày bị thấm nên mỗi khi trời mưa ông Tín lại phải dùng thau hứng nước.

Qua quan sát, phần trên mái nhà trưng bày xuất hiện nhiều vết nứt dài vài ba mét. Nhiều chỗ nước thấm xuống làm hoen ố cả một khoảng lớn. Còn xung quanh tường, hiện tượng bong rộp từng mảng lớn xảy ra khá phổ biến.

“Cứ hễ trời mưa, tôi lại phải bê xô chậu đến hứng, mà hứng cũng không xuể. Bởi chỗ nào cũng dột, mà chẳng phải ít đâu, nước chảy thành dòng. Nếu cứ để thế này mãi thì e tất cả đồ trưng bày bên trong hư hỏng hết” - ông Tín cho biết thêm.

Hỏng là bình thường?

Ông Cao Ngọc Tân - Giám đốc Trung tâm VHTT huyện Cẩm Xuyên cho biết: “Mặc dù là cơ quan trực tiếp quản lý khu lưu niệm nhưng chúng tôi không được biết về chất lượng của công trình này như thế nào.

Tuy nhiên, khi nhận bàn giao chúng tôi thấy chất lượng công trình này có một số vấn đề không ổn, ví như cổng chính là nơi trang nghiêm nhất nhưng họ lại chỉ làm bằng loại sắt kém chất lượng nên chỉ sau một thời gian ngắn đã bị hoen gỉ”.

Ông Bùi Quang Mai - Phó Chủ tịch UBND huyện Cẩm Xuyên: "Công trình không phải bị xuống cấp mà chỉ hỏng theo đúng quy luật"

Mặc dù, trên thực tế nhiều hạng mục của công trình khu tưởng niệm cố TBT Hà Huy Tập bị hư hỏng nặng và đã có nhiều người lên tiếng phản ánh nhưng ông Phó Chủ tịch UBND huyện Cẩm Xuyên Bùi Quang Mai lại có cách giải thích riêng: “Công trình này được đưa vào sử dụng từ năm 2006 đến nay đã hơn 3 năm cho nên không thể nói là nó bị xuống cấp mà nó hỏng theo quy luật bình thường thôi”.

Ông Mai còn giải thích: “Hệ thống điện ngầm bị hỏng, bóng đèn bị vỡ là do các múi nối bị ô xy hóa và thời tiết vùng này quá khắc nghiệt. Còn nhà trưng bày bị thấm nước là do khu nhà này không phải được xây dựng mới mà chỉ cải tạo lại nên nước thấm cũng là điều hết sức bình thường. Hơn nữa, khi các hạng mục bị hư hỏng nhưng cấp dưới không kịp thời báo cáo nên UBND huyện không biết để khắc phục”.



Trăm kiểu "bòn rút"

Anh Ân tính chỉ riêng việc thay đổi loại sắt, mỗi cọc móng nhà thầu “kiếm” hơn 3 triệu đồng. Căn nhà năm cọc móng, nếu không phát hiện kịp, nhà thầu “bỏ túi” hơn 15 triệu đồng. Đó là chưa kể việc thay đổi mác xi măng.

Với kinh nghiệm nhiều năm làm trong ngành xây dựng, kỹ sư Phan Phùng Sanh, phó chủ tịch Hội Khoa học - kỹ thuật xây dựng TP ****, khẳng định nếu phải xây 10 bao xi măng mà rút bớt một bao, chủ nhà rất khó phát hiện.

Công trình có tuổi thọ hàng chục năm nhưng theo quy định chỉ bảo hành một năm, sau đó nhà thầu xong trách nhiệm. Cho dù có giảm 4-5 năm tuổi thọ công trình do thay đổi hoặc bớt vật tư thi công thì cũng khó kiểm tra để xác định chất lượng công trình...

(Theo TTOL)





 

(trả lời: Lotus)
Bài số: 5
RE: Giáo dục ở CHXHCN VN - 10/24/2009 2:09:45 PM   
Lotus

 

Bài: 728
Ai cho tôi sống trung thực?


Albert Einstein đã cảnh báo rằng nếu không suy nghĩ độc lập thì người ta có thể trở thành một cái máy khả dụng, nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá. Thế nên, suy cho cùng, nếu sống trung thực thì ta sẽ được là …ta. Thế thôi, ta sẽ là một con người có tư duy độc lập với đầy đủ phẩm giá.

Thế nhưng bạn sẽ hỏi, làm sao để bạn biết suy nghĩ độc lập và biết sống trung thực?

Câu hỏi đó liên quan đến vai trò của giáo dục.

Vai trò của giáo dục ở đâu khi đối diện với những con số nhức nhói sau: 89% sinh viên từng sử dụng tài liệu trong phòng thi, 85% từng quay cóp, 42% sao chép luận văn, đồ án, 36% từng xin hoặc mua điểm (theo một khảo sát, điều tra của Bộ Giáo dục – Đào tạo trên 1.827 sinh viên ).

Giáo dục sai ở đâu?

Câu trả lời của tôi đối với câu hỏi trên là: Giáo dục sai ở chỗ đã giả thuyết rằng chỉ có một đáp án đúng cho mọi vấn đề.

Học sinh từ nhỏ thường được dạy là chỉ có một đáp án đúng, hoặc ở trong sách giáo khoa, hoặc do thầy nói thế thì phải thế. “Cãi thầy thì núi đè” vì thầy luôn luôn đúng.

Lớn lên khi đi thi đại học thì học sinh được đưa vào “lò luyện thi” để học nằm lòng cách giải toán hay cách làm văn theo mẫu.

Học sinh từ nhỏ thường được dạy là chỉ có một đáp án đúng, hoặc ở trong sách giáo khoa, hoặc do thầy nói thế thì phải thế.


Nhiều người đọc đến đây có lẽ sẽ than: Biết rồi khổ lắm nói mãi.

Tuy nhiên, mục đích của tôi không phải là tường trình hậu quả của cách giáo dục tư duy một chiều. Những con số điều tra nêu trên đã phần nào phản ánh hiện trạng tiêu cực trong giáo dục hiện nay. Bên cạnh đó có lẽ đã có nhiều bài viết về gian lận trong thi cử.

Bài viết này nhằm đặt lại vấn đề đối với giả thuyết ban đầu của cách giáo dục tư duy một chiều: chỉ có một đáp án đúng trong mọi vấn đề.

Liệu có luôn có một đáp án đúng chăng?

Nếu có thì có lẽ học sinh không cần phải suy nghĩ nhiều nữa. Họ chỉ cần học theo đáp án của sách giáo khoa, của giáo sư, v.v.

Nếu không thì học sinh Việt Nam đang bị “ép” phải suy nghĩ một chiều. Họ không có sự lựa chọn nào khác. Bất chợt tôi nhớ tới lời than của Chí Phèo: “Tôi muốn lương thiện, ai cho tôi lương thiện?”

Giả sử nếu có hai cách nghĩ về một vấn đề và cô học sinh A muốn chọn cách nghĩ B. Tuy nhiên đáp án của ngành giáo dục là A. Trong trường hợp đó, có lẽ cô học sinh ấy sẽ than, tôi muốn trung thực, ai cho tôi trung thực?


Mỹ Xuân

viết cho BBCVietnamese


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2009/07/090729_honesty_education.shtml 



Giáo dục: Muốn trung thực cũng khó



Nguyễn Hưng Quốc
24/09/2009

Một đề thi Văn trong kỳ thi đại học tại Việt Nam cách đây mấy tháng gây khá nhiều xôn xao trong dư luận.

Đó là câu hỏi số 2: “Trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, Tổng thống Mĩ A. Lin-côn (1809-1865) viết: ‘Xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi thi.’ (Theo Ngữ văn 10, Tập hai, NXB Giáo dục, 2006, tr.135). Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về đức tính trung thực trong khi thi và trong cuộc sống.”

Xôn xao, trước hết, vì người ta khám phá bức thư nói là gửi cho thầy hiệu trưởng ấy, thật ra, không phải do Abraham Lincoln viết. Xôn xao vì một lẽ khác nữa: vấn đề đặt ra trong đề thi trái ngược hẳn với thực tế cuộc sống tại Việt Nam, và do đó, chắc chắn sẽ gây khó khăn không ít cho học sinh.

Tôi không đề cập đến khía cạnh thứ nhất; chỉ xin tập trung vào khía cạnh thứ hai.

Ai cũng biết gian lận là một thói xấu.

Gian lận trong thi cử lại càng là một thói xấu cần được ngăn chận và trừng phạt.

Không phải gian lận trong thi cử gây tác hại cho xã hội nhiều hơn các hình thức gian lận khác. Mà, lý do chính là vì gian lận trong thi cử, ở lứa tuổi học trò, lúc các em đang trong quá trình được uốn nắn về đạo đức, sẽ có tác hại lâu dài trong việc hình thành tính cách của các em về sau. Có thể nói một thanh thiếu niên gian lận trong việc học tập và thi cử rất khó có thể trở thành một người ngay thẳng ở tuổi trưởng thành được.

Bởi vậy không ai có thể phàn nàn về một đề thi nhằm phê phán sự gian lận. Càng không ai có thể phàn nàn nếu trong lớp học, học sinh được dạy dỗ về tính trung thực.

Có lẽ ở đâu người ta cũng dạy như thế. Tại Úc, ở tất cả các trường đại học, mỗi lần sinh viên nộp bài, họ đều phải ký tên xác nhận về sự trung thực của họ: không đạo văn và không sử dụng bài làm cũ đã từng nộp ở đâu đó rồi.

Có lẽ không phải chỉ ở Úc. Ở hầu hết các nước Tây phương đều thế. Chỉ có điều là, việc giáo dục trong nhà trường không thể tách rời với môi trường đạo đức trong xã hội.

Cái khó đối với các em học sinh ở Việt Nam khi học bài học về tính trung thực là ở chỗ này: Ở đâu các em cũng thấy sự giả dối và gian lận. Hơn nữa, ở đâu sự giả dối và gian lận cũng chiến thắng. Chiến thắng hiểu theo nghĩa là thành công về cả vật chất lẫn tinh thần, vừa có tiền vừa có quyền lại vừa được tôn trọng.

Trong một bài viết được đăng rộng rãi trên nhiều trang mạng, Bùi Hoàng Tám đóng vai học trò viết bài luận văn về đề tài nêu trên. Ông phân tích: “Vâng. Giả dối là nỗi quốc nhục nhưng buồn thay, chúng ta đang phải sống chung với sự giả dối dù trong sâu thẳm, mỗi người đều khao khát được sống trung thực với mọi người, trung thực với chính mình. Thế nhưng ai cho họ sự trung thực? Làm sao có thể sống trong sự trung thực khi xung quanh tràn lan sự lọc lừa, dối trá?”

Ông nêu dẫn chứng: Ngay khi đứa bé còn nằm trong bụng mẹ, nó đã biết đến sự gian lận qua việc bố mẹ lo lót cho bác sĩ siêu âm đế biết bào thai là trai hay gái; mới chào đời, còn nằm trong bệnh viện, bố mẹ đã phải lo lót cho y tá để cô ta tắm đứa bé nhẹ nhàng; lên hai tuổi, muốn đi nhà trẻ, bố mẹ cũng phải hối lộ; lớn lên, đi học, từ tiểu học đến đại học, ở đâu cũng có cảnh đưa “phong bì”. Cả đến chung sự, cũng cần đưa “phong bì” để có được một chỗ nằm trong nghĩa địa.

Bùi Hoàng Tám kết luận: “Hành trình làm người là hành trình giả dối.”

Trong xã hội, ai cũng giả dối.

Nhưng giả dối nhất là ai?

Ở Việt Nam, người ta thường nói: đó là cái loa ở góc phố, cái loa suốt ngày đêm ra rả những điều không thực.

Gần đây, số lượng những cái loa ấy giảm dần. Nhưng chúng không biến mất. Chúng vẫn còn chình ình trên ti vi, trên mặt báo. Chúng vẫn còn chói lói trên các đài phát thanh từ trung ương xuống địa phương. Chúng hoá thân thành trang mạng. Chúng cũng nét-hoá. Cũng blog-hoá. Cũng rất hiện đại.

Chúng tràn vào sách giáo khoa. Chúng trào ra từ miệng các thầy cô giáo. Chúng ngập ngụa trong các bài diễn văn chính trị đọc long trọng trong các hội trường.

Dưới nhan đề “Giá alexa.com biết nói dối”, Anh Hoàng, trên trang mạng Bauxite Việt Nam đã vạch trần sự giả dối của tờ báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, cơ quan ngôn luận có quyền uy nhất nước.

Nguyên văn bài viết như sau:

Giá alexa.com biết nói dối!


Anh Hoàng

Ngày 3/4/2006, khai trương trang tiếng Trung Quốc của báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, báo này khoe rằng: “Bình quân mỗi tháng, báo có trên dưới 25 triệu lượt người truy cập.”

Trang mạng báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam được cấp giấy phép ngày 01/12/2005, tức có hơn 3 năm rưỡi hoạt động, nếu số lượng người truy cập không đổi, thì đến nay số lượng truy cập lên đến hơn 1 tỷ!!!

Nếu quả thực báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thu hút “đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước” như thế thì thật đáng mừng cho sự nghiệp tuyên giáo của Đảng, cho nền báo chí nước nhà.

Ngày hôm nay, 11 tháng 9, alexa.com – trang mạng chuyên xếp hạng các website trên thế giới – cho biết báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đứng thứ 116.901 trên thế giới. Còn bauxitevietnam.info, đến nay, sau chưa đầy 5 tháng, tuy chỉ có tổng số 6,5 triệu lượt người truy cập, nhưng đã chiếm vị trí thứ 54.235, cao gấp đôi báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam!

Than ôi! Giá alexa.com biết nói dối thì tiện cho ông Tổng biên tập Đào Duy Quát biết mấy! Hay ông Tổng lại nói con số 25 triệu là “lỗi kỹ thuật”?!


A. H.

Trên báo Diễn Đàn tại Pháp, cũng có một bài viết tương tự của H.V. với đoạn kết luận như sau:

“Trong lá thư nhân gửi thầy, cô giáo, cha mẹ học sinh... nhân ngày thầy giáo 20.11.2008, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thiện Nhân bày tỏ : “Chúng ta rất lo lắng khi tiêu cực, bệnh thành tích, hay rộng hơn là sự giả dối vẫn đang tồn tại trong ngành và xã hội.”. Phó thủ tướng còn là người phụ trách chung các mảng văn hoá, báo chí trong chính phủ. Rành rành dưới mắt ông, trên tờ báo của chính Đảng của ông, là một lời nói dối trắng trợn, đang bị cả nước phê phán mạnh mẽ. Rõ ràng, chiếu theo điều 10 của Luật Báo chí thì là một thông tin “sai sự thật, xúc phạm nghiêm trọng danh dự của một tổ chức” (Đảng Cộng sản VN), nếu ông vẫn ngoảnh mặt làm ngơ thì ai có thể tin vào “lo lắng” của ông trước bệnh giả dối trong xã hội? Câu hỏi đặt ra nhân đầu năm học mới, làm sao ông vực dậy được một nền giáo dục chìm sâu trong bùn đen của giả dối đó?”http://www.diendan.org/viet-nam/bao-111ien-tu-111csvn/

Kết luận của H.V. rất sâu sắc.

Nhưng có lẽ ai cũng biết là nó không mới. Hầu như người nào có chút lương tri cũng đều thấy rõ điều đó.

Ủa, mà nói như vậy có chắc đúng không?

Nhìn vào chính sách cũng như việc làm của giới lãnh đạo, từ lãnh đạo chính trị đến lãnh đạo giáo dục ở Việt Nam hiện nay, không có gì chắc là có nhiều người thấy rõ sự thực ấy cả.



http://www.voanews.com/vietnamese/2009-09-24-voa13.cfm



< Sửa đổi: Lotus -- 10/24/2009 2:12:07 PM >

(trả lời: Lotus)
Bài số: 6
RE: Giáo dục ở CHXHCN VN - 10/24/2009 2:17:48 PM   
Lotus

 

Bài: 728
Phúc Trình của Đại Học Harvard về Hiện Trạng Nền Gíáo Dục Cao Đẳng-Đại Học tại Việt Nam: Khủng Hoảng Suy Sụp và Phản Ứng


Hồng Lĩnh tổng lược

Trích tin trong nước: Xây dựng công viên Văn Miếu đương đại: “Công viên Văn Miếu đương đại đậm đà nét dân tộc và thời đại được coi là hạt nhân của Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn di sản tiến sĩ VN” – PGS.TS Nguyễn Văn Huy, giám đốc chuyên môn của Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn di sản tiến sĩ VN, khẳng định như vậy tại hội nghị khởi động dự án diễn ra ngày 27-9 ở Hà Nội.

Ông Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh: đây là lần đầu tiên VN có công viên Văn Miếu đương đại nhằm lưu giữ một cách đầy đủ, có hệ thống và khoa học những di sản của các nhà khoa học, các vị tiến sĩ đương đại. Sự trường tồn của các văn miếu trong cả nước mà tiêu biểu là Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội chỉ lưu giữ được thông tin về các tiến sĩ những thế kỷ trước. Sự ra đời của công viên Văn Miếu đương đại chính là nhằm tiếp bước cha ông, tôn vinh nhân tài đất nước và khơi nguồn nguyên khí quốc gia.

Ngay trong giai đoạn 1 của dự án 2008-2010, công viên Văn Miếu đương đại sẽ bước đầu được xây dựng tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình theo hướng đa chức năng cùng với Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn di sản tiến sĩ VN.

Công viên Văn Miếu đương đại sẽ gồm các khu tưởng niệm, mô phỏng Văn Miếu cũ và hệ thống văn bia mới dành cho các nhà khoa học, các tiến sĩ thời cận, hiện đại. Quy hoạch kiến trúc của các công trình trong công viên dựa trên ý tưởng biểu trưng linh vật là Kim quy. (Theo TTXVN)

I. Dẫn nhập:

Vào đầu năm nay các Uỷ Viên Hoa Kỳ thuộc Ủy Ban Đặc Nhiệm song phương về Giáo Dục Cao Đẳng tại Việt Nam đã nhận được phúc trình của các chuyên gia nghiên cứu từ Harvard Kennedy School về hiện trạng khủng hoảng suy sụp của nền giáo dục cao đẳng – đại học tại Viêt Nam.

Phúc trình này tập trung vào hai phạm vi:

1. Phân tích tầm mức nghiêm trọng của hiện trạng khủng hoảng suy sụp và các nguyên nhân gốc rễ tạo ra khủng hoảng;

2. Lượng định về phương cách phản ứng của các tác nhân chủ động để đối phó với khủng hoảng: từ chính quyền Nhà Nước, từ nhân dân Việt Nam và từ cộng đồng quốc tế.

Phúc trình này kết luận bằng cách nhấn mạnh vào tầm quan trọng của sự canh tân mọi thể chế của hệ thống giáo dục đại học là yếu tố tối cần để làm nền tảng cho một công cuộc cải tạo có hiệu quả.

II. Tầm mức của hiện trạng khủng hoảng suy sụp:

Bản phúc trình thú nhận rằng, quả thật khó mà phóng đại hơn được nữa mức độ sâu rộng và nghiêm trọng của hiện trạng khủng hoảng suy sụp trong hệ thống giáo dục cao đẳng mà Việt Nam đang đối đầu.

Các chuyên gia nghiên cứu tin rằng nếu không có một công cuộc cải tổ cấp thời từ thể chế cho hệ thống giáo dục đại học thì Việt Nam sẽ thất bại hoàn toàn trong mục tiêu đạt đến các tiềm năng to lớn của quốc gia này.

Sự phát triển kinh tế của vùng Đông Á và Đông Nam Á cho thấy một mối liên hệ mật thiết giữa sự phát triển quốc gia và nền giáo dục cao đẳng.

Mặc dầu mỗi một quốc gia phồn thịnh trong vùng như Nam Hàn, Đài Loan, Singapore và gần đây hơn nữa là Trung Quốc đã đi theo những đường lối phát triển cá biệt, nhưng chủ đề chung trong sự thành công của họ là công cuộc chuyên tâm đeo đuổi sự ưu việt trong lãnh vực khoa học và nền giáo dục cao đẳng-đại học.
Các quốc gia tương đối kém thành công trong vùng như Thái Lan, Philippines và Indonesia cho thấy một sự kiện cần lưu ý. Những quốc gia này, môt cách tổng quát, không đạt được sự xuất sắc trong nền giáo dục cao đẳng và đã thất bại trong công cuộc phát triển kinh tế tân tiến.

Thực là một điều chẳng lành cho tương lai Việt Nam vì các đại học ở Việt Nam còn sa sút quá xa đàng sau ngay cả đối với những nước lân cận kém mở mang.

Bảng Tổng Kê bên cạnh lượng định tiềm năng của hệ thống giáo dục đại học tại các quốc gia trong vùng:

Việt Nam thiếu ngay cả MỘT đại học đơn lẻ có phẩm chất được công nhận.

Không có một đại học nào ở Việt Nam xuất hiện trên bất kỳ các bảng xếp hạng phổ thông thường kỳ nào của các đại học có phẩm chất tại Á Châu.

Về phương diện này, Việt Nam thua sụt đối với ngay cả các quốc gia ở Đông Nam Á. Phần lớn các quốc gia này cũng khoa trương ít nhất một vài học viện đứng đầu của họ trong các bảng xếp hạng này.

Đại học Việt Nam phần lớn bị tách biệt ra khỏi các dòng kiến thức quốc tế, như số liệu nghèo nàn tồi tệ của ĐH Việt Nam về các công trình khảo cứu được xuất bản từ Bản Tổng Kê (Table 1).




Đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có giáo dục để đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam.

Các cuộc khảo sát do các cơ quan liên hệ với Nhà Nước cho thấy có tới 50 phần trăm các chuyên viên VN tốt nghiệp ĐH không thể tìm được việc làm trong ngành nghề chuyên môn của họ, bằng chứng cho thấy một sự gián đoạn to lớn giữa lớp học và thị trường công việc.

Với mức độ 25 phần trăm giáo trình ĐH bị bắt buộc tập trung vào giáo điều chính trị (political indoctrination) thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi sinh viên Việt Nam chỉ được chuẩn bị một cách tồi tệ cho cuộc sống chuyên viên hoặc cho các học trình cao đẳng ở nước ngoài.

Sự kiện Công ty Intel đã phải lăn lộn vất vả để mướn các kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở TP **** là một ví dụ điển hình. Khi Công ty này tiến hành một cuộc khảo hạch cho 2,000 ứng viên IT của Việt Nam thì chỉ có 90 ứng viên, tức 5%, đạt tiêu chuẩn. Và trong nhóm này, chỉ có 40 ứng viên vừa hội đủ trình độ Anh ngữ để có thể mướn được.

Công ty Intel “khẳng định” rằng đây là kết qủa tồi tệ nhất mà họ gặp phải trong bất kỳ quốc gia nào mà họ đầu tư vào.
Các doanh gia quốc tế đều than phiền là sự thiếu hụt quản trị viên và công nhân lành nghề là trở ngại chủ yếu cho sự phát triển bành trướng của các công ty.

Sự nghèo nàn về phẩm chất của nền giáo dục ĐH Việt Nam còn mang lại nhiều tai hại khác nữa: trái ngược với sinh viên Ấn Độ hoặc Trung Quốc, sinh viên VN không thể cạnh tranh nổi để được thâu nhận vào những chương trình cao học tinh túy tại Hoa Kỳ và Âu Châu.
phiền là sự thiếu hụt quản trị viên và công nhân lành nghề là trở ngại chủ yếu cho sự phát triển bành trướng của các công ty.




(Bên trái là bảng tổng kê số Bằng Phát Minh của các quốc gia trong vùng Đông Á – với Việt Nam nằm ở hàng cuối cùng mang con số zero)


III. Nguyên nhân tạo ra khủng hoảng suy sụp:

A. Di sản lịch sử:

Những vấn nạn Việt Nam đang đối đầu trong hệ thống giáo dục cao đẳng ngày nay một phần là do hậu quả từ một lịch sử cận đại bi thảm của đất nước.

Chế độ thực dân Pháp trong hậu bán thế kỷ 19 cho đến năm 1945 đã đầu tư rất ít vào hệ thống giáo dục cao đẳng, ngay cả khi đem so sánh với các thế lực thực dân khác như Anh và Tây Ban Nha. Hậu quả là Việt Nam đã vuột mất cơ hội khi làn sóng canh tân thể chế giáo dục cao đẳng tràn quét phần lớn lục địa Châu Á, trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Đây là thời gian rất nhiều học viện hàng đầu được thành lập tại vùng này.

Hậu quả là sau khi thu hồi độc lập, VN chỉ có một thể chế giáo dục cao đẳng rất yếu kém để làm căn bản xây dựng. Đây là một điểm tương phản rõ rệt so với Trung Quốc, nơi mà, cho đến ngày nay, phần lớn các trường ĐH hàng đầu đã được thành lập rất lâu trước cuộc cách mạng Cộng Sản. Trong thời kỳ này tại Việt Nam, sự tổn hại trước hết do chiến tranh, và kế đến là do giai đoạn cai trị độc tài nặng nề của chế độc xã hội chủ nghĩa, đã không có chỉ đạo trong việc xây dựng những học viện có phẩm chất cao cho nền giáo dục cao đẳng.

B.Đường lối cai trị của Nhà Nước:

Nguyên nhân cận kề tức khắc tạo nên khủng hoảng suy sụp của nền giáo dục đại học ngày nay là sự thất bại sâu rộng trong chính sách cai trị của Nhà Nước.

Các đại học có phẩm chất cao từ Boston cho đến Beijing đều được thụ hưởng những đặc quyền nhất định mà Việt Nam hiện nay không có.

Vấn đề tự trị và tự quản tại đại học:

Tất cả mọi học viện cao đẳng và đại học tại Việt Nam đều lệ thuộc vào một hệ thống tập quyền trung ương với sự kiểm soát cao độ. Chính Nhà Nước quyết định con số sinh viên được tuyển nhận, và tại các trường công lập, mức lương của các giảng viên. Ngay cả những quyết định về điều hành cũng như việc thăng thưởng của các Khoa Ban đều lệ thuộc vào sự kiểm soát trung ương. Hệ thống kiểm soát này gạt bỏ ra ngoài những khuyến khích cần thiết cho việc cải tổ và tiến thủ của các đại học.

Lương thưởng được dựa trên thâm niên và lương chính thức thấp kém đến nỗi các giảng viên phải làm việc phụ trội vượt mức mới đủ sống. Ngược lại với Trung Quốc, Việt Nam chưa có chế độ hậu đãi những chuyên viên tốt nghiệp từ nước ngoài.

Cơ cấu tuyển chọn dựa vào thành quả:

Tham nhũng tràn lan và việc mua bán bằng cấp, tước vị là điều quá phổ biến. Hệ thống nhân viên cán bộ thì mập mờ và mọi sự thăng thưởng đều dựa trên những tiêu chuẩn bên ngoài khả năng học thuật, như mức độ thâm niên, lai lịch chính trị, lai lịch gia đình, cũng như sự móc nối cá nhân.

Giảng viên các Khoa và Ban quản trị cao cấp của hệ thống đại học có khuynh hướng bị thống trị bởi những cá nhân được huấn luyện từ Liên Sô hoặc Đông Âu, không nói được Anh ngữ và thường có ác cảm với các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn được giáo dục từ Tây Phương.

Tiêu chuẩn quốc tế và sự liên kết quốc tế:

Phát sinh kiến thức là một công trình không biên giới, nhưng các học viện tại VN thiếu hẳn những mối liên hệ quốc tế. Thực tế là các học giả trẻ, được đào tạo từ nước ngoài thường viện dẫn mối lo ngại là họ không thể giao lưu được với những nguồn kiến thức đương thời, khiến họ tránh né các ngành nghề giảng dạy tại ĐH Việt Nam.

Như GS Hoàng Tụy (một nhà toán học lỗi lạc của Việt Nam và cũng là nhà phê bình thường xuyên chỉ trích thẳng thắn hệ thống ĐH Việt Nam) mô tả, các học viện tại VN rất hướng nội và không lượng giá chính mình dựa trên tiêu chuẩn quốc tế.

Giám định và Thanh tra:

Đại học VN không phải báo cáo hoặc chịu trách nhiệm trước các cơ quan thanh tra từ bên ngoài. Trong hệ thống ĐH công cộng, các nguồn tài trợ không dựa vào phẩm chất hoặc thành qủa của ĐH. Tương tự như thế, tài trợ của Nhà Nước cho các công trình nghiên cứu được phân phát không dựa trên khả năng nhưng như là một hình thức lương bổng phụ trội.

Bởi vì số chỗ dành cho tuyển sinh trong các ĐH rất thấp nên chỉ có 1 trong 10 học sinh thuộc lứa tuổi ĐH được nhận vào ĐH. Do đó, ĐH Việt Nam không bị ép buộc phải cải tổ.

Tự do trong giáo trình:

Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, ĐH Việt Nam rất nổi bật về mức độ thiếu sót trầm trọng trong lãnh vực năng động tri thức. Ngay cả khi các viện đại học VN được dần dà cởi mờ hơn, một mạng lưới kiểm soát chính thức cũng như trá hình vẫn còn vây bọc, khiến các ĐH Việt Nam vẫn ở trong tình trạng suy tàn về tri thức.

Có rất nhiều hàm ý xuất phát từ những tham luận trên đây:

Thứ nhất, chướng ngại chủ yếu cho sự cải tiến trong nền giáo dục cao đẳng không nhất thiết là vấn đề tài chánh. Thực ra, như là bách phân của GDP, Việt Nam tiêu dụng nhiều hơn các quốc gia khác trong vùng cho giáo dục. Nhưng cách sử dụng các nguồn tài chánh đó như thế nào là một vấn đề khác.

Thứ hai, đầu tư vào du học nước ngoài không đủ để cải tiến hệ thống. Trừ khi môi trường sinh sống và làm việc cho chuyên viên được cải tổ, thật là khó mà quy tụ được hơn một nhúm chuyên viên được đào tạo tại nước ngoài muốn trở về làm công tác giảng dạy ĐH.

IV. Phản Ứng

A. Chính Sách của Nhà Nước:

Phần lớn thời gian trong giai đoạn từ 1986 khi VN bước vào giai đoạn Đổi Mới, quá trình cải cách kinh tế và mở cửa, tốc độ của việc cải tổ nền giáo dục cao đẳng vẫn ở trong tình trạng đóng băng. Trong giai đoạn này, phẩm chất giáo dục của những môn khoa học căn bản đã bị tụt hậu.

Trong ba năm vừa qua, Nhà Nước đã đưa vấn đề cải tổ giáo dục cao đẳng vào ưu tiên cao hơn. Năm 2005 Nhà Nước nêu lên chủ trương áp dụng Nghị Quyết 14 cho việc cải tổ toàn diện nền giáo dục cao đẳng vào năm 2020. Đây là một bước ngoặt kêu gọi cải cách trong việc điều hành, bao gồm mức độ cao hơn cho việc tự trị và hệ thống tuyển chọn dựa vào thành quả. Mặc dầu rất khó để theo dõi diến tiến của quá trình này, nhưng tốc độ thay đổi vẫn rất chậm.

Gần đây hơn, chính quyền đã loan báo những dự kiến để thiết lập những học viện với các đối tác quốc tế với nguồn tài chánh được chính quyền vay mượn từ World Bank. Trong khi những hoạch định này là dấu hiệu tốt trong việc nhận ra nhu cầu thiết yếu của các học viện cao đẳng, rất nhiều vấn nạn vẫn tồn tại.

Thứ nhất, Các chức quyền giáo dục tại VN vẫn còn ôm giữ quan niệm Nhà Nước là trọng tâm trong các công trình đối tác này, lẽ ra phải là các học viện. Tiến trình tiếp cận này rất khó phù hợp để đối tác với hệ thống phân quyền cao độ của hệ thống đại học Hoa Kỳ, trong đó, các học viện là nhân tố chính và chính quyền chỉ giữ một vai trò rất hạn chế.

Thứ hai, Nhà Nước vẫn phô bày một não trạng “kế hoạch trung ương” trong việc hoạch định những chương trình này, ngay cả các Khoa Ban và chuyên ngành mà các học viện này sẽ phát triển. Dự án khởi đầu gợi ý về các ngành liên quan đến khoa học và kỹ thuật, loại trừ các khoa Nhân Văn và rất nhiều các ngành Xã Hội Học.

Thứ ba, mặc dầu các dự án được hoạch định trên căn bản là các đối tác quốc tế sẽ cung cấp các quản trị viên và nhân viên giảng huấn, nhưng cách thức phân phối các nguồn tài chánh như thế nào thì không được xác định, không ai biết các đối tác quốc tế có được dành ra những khoản tiền vay mượn này hay không. (Phần lớn các các học viện này vẫn chỉ có phẩm chất đồng bộ rất thấp).

Cuối cùng, phải chờ xem mức độ tự trị và tự quản mà các học viện này thực sự được cho phép như thế nào. (“Vietnam Germany University” là một trong những học viện mới này.)

B. Trao Đổi Sinh Viên:

Sinh viên VN đã ra du học nước ngoài với con số gia tăng lớn từ năm 1986. Trong những năm đầu của Đổi Mới, phần lớn các sinh viên du học qua các chương trình học bổng song hoặc đa phương như các chương trình Fullbright hoặc chương trình World Bank… Với xã hội VN trở nên khá giả hơn, gia đình VN đã bắt đầu cho con cái đi du học với phương tiện tự túc. Những năm gần đây, con số sinh viên VN đi du học tại Mỹ gia tăng nhanh chóng một cách đặc biệt. VN nằm trong số 20 quốc gia hàng đầu gửi SV đến Hoa Kỳ du học. Các kinh tế gia VN ước lượng các gia đình VN đang tiêu dùng ít nhất 1 tỷ đô-la mỗi năm cho việc du học.

Du học nước ngoài là một phản ứng quan trọng trước khủng hoảng của nền giáo dục cao đẳng tại VN, nhưng nó không thể nào là một giải pháp được.

Trước tiên và chính yếu nhất đó chỉ là một lựa chọn cho một thiểu số cực nhỏ cho những gia đình có khả năng trang trải hoặc những ai may mắn trúng được học bổng. Đang có một sự chênh lệch to lớn và ngày càng gia tăng giữa thành thị và nông thôn, giữa một thiểu số giàu có tột đỉnh và một tuyệt đại đa số dân chúng vẫn còn nghèo túng. VN là một nước lớn và không thể nào “khoán trắng” nền giáo dục cao đẳng cho các trường ĐH nước ngoài.

Thứ hai, ngày nào mà các ĐH tại VN vẫn còn tiếp tục duy trì tình trạng làm việc thảm hại thì các chuyên viên được đào tạo từ nước ngoài vẫn tránh né các ngành nghề giảng huấn tại ĐH.

C. Nhân Tố Quốc Tế:

Các cơ quan tài trợ quốc tế đã hỗ trợ các chương trình trao đổi SV trong nhiều năm qua. Do yêu cầu của chính phủ VN, các cơ quan này đã đầu tư rất nhiều vào hê thống giáo dục cao đẳng.

Các chuyên gia tại Harvard cho rằng, các nỗ lực của các cơ quan nói trên trong lãnh vực này không có hiệu quả, bởi vì các cơ quan này không đả động gì đến vấn đề điều hành và quản trị ĐH. Các khoản tài trợ này đã không được phân phối trên tiêu chuẩn khả năng và các học viện cũng không được tham khảo về thể thức các tài khoản này được sử dụng.

Các ĐH quốc tế đã được khuyến khích để thiết lập các chương trình huấn luyện tại VN, hoặc độc lập hoặc bằng cách đối tác với các học viện trong nước. Với một vài ngoại lệ, các dự án này chỉ nhằm mục tiêu trục lợi và do đó chỉ nhắm vào những ngành thực dụng đã sẵn có nhu cầu. Việc tuyển lựa SV phần lớn dựa vào khả năng trả học phí và phần lớn vượt quá tầm tay của đại chúng. Những học viện này không đáp ứng được nhu cầu giáo dục cao đẳng có phẩm chất cao.

Chính quyền VN rất nhạy bén trong việc thu hút sự tham gia hợp tác của những đại học hàng đầu trên thế giới, đặc biệt là các ĐH tại Hoa Kỳ. Các chuyên gia nghiên cứu tranh luận rằng có ít nhất ba chìa khóa để đạt được mục tiêu này.

Thứ nhất, chính quyền phải nhận ra rằng, các ĐH có phẩm chất cao sẽ không vào VN như là những công ty đầu tư. Hơn nữa, trong cuộc chạy đua toàn cầu để tìm tài năng xuất sắc, các ĐH Hoa Kỳ luôn luôn là những đối tác được đeo đuổi. Nói thẳng ra là, VN phải chấp nhận trả giá cao.

Thứ hai, cũng quan trọng không kém, các chuyên gia Harvard nhấn mạnh rằng, các trường ĐH danh tiếng sẽ không tự làm hại hạ thấp tiêu chuẩn của họ nếu chính quyền VN không có quyết tâm đạt tới quy cách điều hành tồt cho hệ thống giáo dục ĐH, bao gồm sự cho phép tự do trong giáo trình và chế độ tự quản tự trị cho ĐH mà hiện nay không có.

Thứ ba, bởi vì hệ thống giáo dục đại học cao đẳng tại Hoa Kỳ mang bản chất phân quyền cao độ, chính phủ Hoa Kỳ chỉ đóng một vai trò hạn chế trong việc cổ võ cho sự tham gia hợp tác từ các viện ĐH Hoa Kỳ vào vấn đề này.

IV. Kết Luận:

Nhu Cầu thiết yếu cho công cuộc Cải Tạo từ Thể Chế hệ thống Giáo Dục Đại Học-Cao Đẳng

Cải tổ toàn bộ thể chế điều hành của hệ thống là chìa khóa để cải tiến nền giáo dục cao đẳng tại VN. Tuy nhiên, cải tổ các học viện giảng huấn ở bất cứ nơi đâu là một tiến trình lâu dài. Đây là lý do các chuyên gia Harvard xác quyết rằng, VN bắt buộc phải xây dựng một học viện kiểu mẫu mới với thể chế điều hành tốt nằm trong DNA của nó. Những nỗ lực như thế sẽ tạo nên những tác động chuyển biến vào hệ thống giáo dục cao đẳng.

Một học viện mới như thế sẽ cung cấp một cái “nhà” cho các học giả và khoa học gia trẻ mà hiện nay chẳng có tha thiết gì trong việc đeo đuổi các ngành nghề giảng huấn tại VN.

Thứ hai, một học viện mới như thế sẽ là kiểu mẫu cho các học viện khác học hỏi và thi đua cũng như là nguồn cho sự cạnh tranh tốt đẹp đang rất mực cần thiết.

Các chuyên gia Harvard tin rằng Ủy Ban Đặc Nhiệm về giáo dục cao đẳng có một vị trí độc nhất vô nhị cả về mặt xúc tiến khóa trình cải cách cũng như việc phát triển một lược đồ toàn diện cho công cuộc cải tạo toàn bộ thể chế cho hệ thống tại Việt Nam.


1. Vietnam Higher Education: Crisis and Response. Thomas J. Vallely- Ben Wilkinson. Harvard Kennedy School
2. Peril and Promise: The Challenge of Higher Education in Developing Countries. Henry Rosovsky


http://www.hks.harvard.edu/innovations/asia/Documents/HigherEducationOverview112008.pdf

http://nguoivietboston.com/?p=14547&cpage=1

< Sửa đổi: Lotus -- 10/24/2009 2:23:35 PM >

(trả lời: Lotus)
Bài số: 7
RE: Giáo dục ở CHXHCN VN - 10/24/2009 2:31:21 PM   
Lotus

 

Bài: 728
ĐH kém chất lượng: Con hư tại mẹ!

Những sai phạm của trường ĐH Phan Thiết không thể không có vai trò của Bộ GD-ĐT. Thay vì phấn đấu chúng ta sẽ có trường ĐH vào top 200 của quốc tế vào năm 2020, hãy thay thế bằng lời cam kết quyết liệt không để trường ĐH, CĐ kém chất lượng.

Nguồn tài nguyên quý giá nhất của một quốc gia chính là những người tài đức. Nơi cung cấp chủ yếu nguồn tài nguyên ấy là các trường đại học. Với những khởi thuỷ mà đã chứa nhiều giả tạo, trong tương lai khi triển khai các hoạt động của mình, người ta rất băn khoăn, trường Đại học Phan Thiết (ĐHPT) có tiếp tục sử dụng những quan điểm chết người như vậy nữa không trong quy trình tạo ra nguyên khí cho đất nước.

 Chạy ngược chiều

Nếu đối chiếu với cuộc vận động hai không của Bộ GD-ĐT: nói không với tiêu cực và nói không với đào tạo không theo nhu cầu xã hội thì các sự việc liên quan đến ĐHPT trong thời gian qua đều ngược chiều. Việc tạo ra các hồ sơ giáo viên ảo trong hồ sơ thành lập trường, có tên gọi chính xác là tiêu cực. Và hình ảnh một nhà trường như thế, không tồn tại trong tâm nguyện của bất cứ một sinh viên nào, phụ huynh nào, xã hội nào. Giả sử nếu có, thì đó không phải là nhu cầu của đại đa số.
Hơn nữa, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước chỉ rõ bốn yếu tố cơ bản có quyết định đến chất lượng giảng dạy là: trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy của giáo viên; nội dung chương trình, nội dung các môn học; cơ sở vật chất hạ tầng và các trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy; phương thức quản lý (bỏ qua yếu tố của sinh viên).
Những yếu kém liên quan đến trường ĐHPT mà báo chí đề cập trong những ngày qua có ảnh hưởng trực tiếp đến ba trong số bốn yếu tố cơ bản trên. Cách đây khoảng hai tuần, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT nói rằng, không duy trì các trường ĐH kém chất lượng, vậy trường ĐHPT hay những trường ĐH, CĐ tương tự có nên tồn tại không?

Mọi việc đã rõ, nghĩa là phương trình có nghiệm, nhưng sau khi kiểm tra e rằng việc xử lý lại một lần nữa bị vô nghiệm. Vì sao? Vì chính Bộ GD-ĐT là người ký quyết định thành lập, nay chính Bộ GD-ĐT lại là đơn vị kiểm tra!

Những hệ luỵ lâu dài

Chúng ta cũng thông cảm với tỉnh Bình Thuận, một trong số ít những tỉnh chưa có trường ĐH. Chúng ta cũng thông cảm cho hội đồng sáng lập trường khi tìm nhân sự cho một trường ĐH mà nguồn tìm kiếm dồi dào là ở tận TP H CM.
Nhưng họ cũng cần phải biết, nỗi buồn của 750 sinh viên như thế nào, khi được học trong ngôi trường như thế. Các em (và cả bố mẹ các em) sẽ có những mặc cảm gì, tự hào gì khi mang chiếc áo có khắc cụm từ ĐHPT để nói chuyện với bạn bè, họ hàng. Các nhà tuyển dụng sẽ nhìn sản phẩm từ một trường như thế với con mắt như thế nào.
Không phải các em chỉ chịu đựng trong bốn năm học, mà còn chịu đựng cả đời về thương hiệu mà các em đã chọn ở quá khứ vì sự bất bình đẳng trong thông tin. Các vị trong hội đồng quản trị nếu có con em, họ có chọn những trường như thế để gởi gắm một mầm non ruột thịt của chính mình không? Cho dù Bộ GD-ĐT chưa xếp loại thứ bậc các trường ĐH, thì trong tâm trí những người quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, các nhà tuyển dụng thì thứ hạng đó cũng đã được hình thành từ những thông tin nhỏ như trên.

 Vai trò của Bộ Giáo dục ở đâu?

Những sai phạm của trường ĐHPT không thể không có vai trò của Bộ GD-ĐT. Thay vì phấn đấu, chúng ta sẽ có trường ĐH vào top 200 của quốc tế vào năm 2020, hãy thay thế bằng lời cam kết quyết liệt không để trường ĐH, CĐ nào tồn tại với các tình trạng trên thì e rằng dễ khả thi và người dân dễ tin hơn. Vì chuyện trong tầm tay mà ta còn lúng túng trong thực hiện, thì việc làm những chuyện lớn lao chỉ là giấc mơ.


Với những lời hứa có cánh, chúng ta có thể phỉnh được những người non dạ. Nhưng với những người có trí, nếu muốn khẳng định, chúng ta không phải chỉ có nói hay, mà phải làm, làm đúng, thậm chí phải làm đúng với số lần lặp lại là khá lớn.


Ước mơ đưa dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu muốn là hiện thực, buộc ta phải trả lời cho một câu hỏi gián tiếp: chúng ta muốn làm trò, làm bạn với những kẻ trí hay chúng ta tự hào vì là thầy của những kẻ dại? Chìa khoá của bài toán chính là giáo dục!



(trả lời: Lotus)
Bài số: 8
RE: Giáo dục ở CHXHCN VN - 10/25/2009 10:07:26 AM   
Lotus

 

Bài: 728
Nông dân ĐBSCL “đói” nhiều loại thông tin
Theo kết quả điều tra xã hội do Viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng sông Cửu Long thuộc Trường ĐH Cần Thơ, chỉ có 13% nông dân nắm được thông tin đầy đủ, 23% nắm được một phần, số còn lại chưa thể tiếp cận đầy đủ các loại thông tin cần thiết.
Ở vùng sâu, nơi điều kiện kinh tế - xã khó khăn, trình độ dân trí thấp, trình độ học vấn không cao lại càng thiếu thông tin. Các loại thông tin về kỹ thuật sản xuất, thị trường, đời sống, môi trường bị thiếu nhiều nhất. Trong đó thiếu trầm trọng thông tin về chất lượng, giá cả vật tư nông nghiệp, nguồn cung cấp cây con giống, nơi tiêu thụ nông thuỷ sản, qui định về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
Thông tin được phổ biến tới người dân nông thôn chủ yếu qua kênh truyền hình và hệ thống loa truyền thanh công cộng, hiện còn thiếu, chưa phong phú. Tính hấp dẫn, thiết thực của thông tin chuyển tới người dân chưa cao, chưa thực sự phù hợp với trình độ của họ.

Tỷ lệ người dân nông thôn tiếp cận thông tin qua mạng internet còn rất thấp, đại đa số nông dân thiếu kiến thức về internet do tại vùng nông thôn mạng internet không ổn định, chi phí lắp đặt chưa phù hợp, các dịch vụ internet được cung cấp chưa phong phú.

Các xã nằm gần giáp trung tâm huyện, tỉnh, thành phố mới có từ 5- 15 điểm truy cập internet với số lượng máy từ 10 – 20 máy/điểm. Các nơi khác mỗi xã chỉ có 1-2 điểm truy cập với số lượng từ 4-10 máy. Số người truy cập thông tin trên mạng ở nông thôn chủ yếu là học sinh cấp II, III với nội dung truy cập chủ yếu phục vụ nhu cầu giải trí, học tập.

Nguyên nhân của tình trạng trên do các tỉnh ĐBSCL chưa có chiến lược cụ thể về công tác đưa thông tin cần thiết về nông thôn, nhất là đến nông dân. Chưa có địa phương nào tại ĐBSCL tổ chức điều tra khoa học về nhu cầu được thông tin cụ thể của người dân nông thôn, trong khi tại đây có 75% số dân sống dựa vào nghề nông.

Do vậy, vấn đề chuyển đến người dân nông thôn và nông dân thông tin gì, với số và chất lượng ra sao, phương tiện, hình thức nào phù hợp nhất để khắc phục được tình trạng này vẫn còn là bài toán chưa có đáp số.


http://tintuc.xalo.vn/00-1929633547/nong_dan_dbscl_doi_nhieu_loai_thong_tin.html


(trả lời: Lotus)
Bài số: 9
Trang:   [1]
Các Diễn Đàn >> [Đời Sống - Xã Hội] >> Giáo Dục >> Các bài báo vê` giáo dục Trang: [1]
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết


Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 6-10/2009:
Mai Dang, Bao Cuong, vann, Tương Kính

Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh

Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.

Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode