Linh Tinh Phố Rùm Bài Viết Gia Chánh Lời Tình K Truyện Chọn Lọc Thơ Tình
Trở lại trang đầu
Đi Vào Phố Hồ Sơ Cá Nhân Thư Riêng (Private Message) Các Bài Đăng Từ Lần Cuối Bạn Vào Các Bài Đăng Ngày Hôm Nay Lịch Sinh Hoạt Ghi Danh Trở Thành Thành Viên của Phố Rùm Những Câu Hỏi Thường Gặp Danh Sách Các Thành Viên
Phố này chỉ để xem lại bài cũ, không còn đăng bài mới lên được. Xin mời các bạn qua thăm Phố Rùm mới .
Phòng ẢNH

RE: Lý Thường Kiệt

 
Xem những đề mục liên hệ: (trong diễn đàn này | trong mọi diễn đàn)

Tham gia dưới tên: Guest
  In Ra
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Lịch Sử (trước 1930) >> RE: Lý Thường Kiệt Trang: <<   < phần trước  10 11 [12] 13 14   phần sau >   >>
Tên login:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
RE: Lý Thường Kiệt - 11/19/2009 10:00:00 AM   
Nokian92


Bài: 904
quote:

Từ đó em suy rộng ra là ... chúng ta chẳng có gì cả. Tranh họa, không. Cổ thư, không. Bút pháp, không. Triết lý, không. Ngay cả chữ viết có hệ thống chúng ta cũng không có nốt. Chúng ta chỉ là những bộ lạc man rợ ở phía Nam của TQ (Nam Man), không khác với những nhóm lẻ tẻ Bắc Địch, Đông Di, Tây Nhung, là bao nhiêu...
...
Vì lý do nào mà chúng tại tự ti đến nỗi phải gồng mình thổi phồng lên những thứ mà chúng ta không có đến như thế? Em các bác nghĩ rằng tại vì địa lý chúng ta ở ngay bên cạnh Tàu nhưng chúng ta không có những gì dân Tàu có cho nên chúng ta phải tự thỏa mãn mình bằng cách tưởng tượng ra thế này thế kia. Cái đó dường như y học gọi là relative deprivation thì phải. Tàu có thiên tử dùng hình rồng, vua của chúng ta cũng dùng hình rồng. Tàu có văn quan, võ quan, chúng ta có lạc hầu, lạc tướng. Tàu ăn tết Nguyên Đán, chúng ta có Tết Nguyên Đán. Tàu ăn bánh Moon cake trong ngày Trung Thu, chúng ta cũng ngắm trăng ăn Trung Thu. Không có gì Tàu có mà chúng ta không bắt chước. Tàu theo CS ngày hôm qua, ngày hôm nay bên VN cũng theo CS. 
Bác Bắc Thần,

Chịu lỗi cùng bác, đến nay tôi mới thấy cái post của bác...

Tôi chịu, những gì bác trình bày đều có cơ sở mà tôi không thể nói khác được. Hẳn bác cũng biết là tôi sinh ra ở miền Nam tự do trước 75, điều kiện sống, phong tục, tập quán, văn hóa, giáo dục mà tôi tiếp thu hoàn toàn không giống như người ở ngoài Bắc dù bố tôi sinh ra từ ngoài ấy. Tuy không biết nhiều về cái nôi của người Việt mình nhưng tôi lớn lên trong khu vực Chợ lớn, sống chung và sinh hoạt với người Hoa từ nhỏ, tôi biết khá nhiều về họ, những người Quãng Đông đã nhiều đời đên lập nghiệp ở miền Nam...

Bỏ qua những tự ái dân tộc không giúp ích gì cho việc trao đổi, tôi đồng ý với bác là có rất nhiều điều người Hoa có mà mình không có nhưng tôi không đồng ý với bác khi bác nói "Chúng ta chỉ là những bộ lạc man rợ ở phía Nam của TQ...". Như đã nói ở trên, tôi không có điều gì để chứng minh với bác so với những gì bác đưa ra. Cái duy nhất mà tôi có thể nói với bác là chúng ta nhất định không phải là những người man rợ, không có gì. Quá trình chinh phục người Việt của người Hoa đã trãi qua hằng ngàn năm rồi đến nay vẫn chưa kết thúc, cái gì đã giử cho người Việt sau bao nhiêu năm và bao nhiêu lần bị cai trị bởi người Hoa vẫn duy trì được sự hiện hửu của mình chưa trở thành một bộ phận người Hoa ?

Nhất định những người man di mọi rợ vô văn hóa như bác nói không thể nào tồn tại nỗi qua những năm tháng bị đồng hóa một cách có hệ thống của người Hoa. Nhưng nếu bác hỏi tôi hãy chỉ cho bác thấy những gì người Việt mình có ngoài người Hoa thì tôi chịu, đang tìm mà chưa thấy đấy bác ạ...

Những ngày còn trẻ, trong xóm tôi có một anh Việt và một cô Hoa thương nhau. Mối tình của họ dĩ nhiên là bị triệt từ trong trứng nhưng điều làm tôi nhớ mãi là câu nói của bà ngoại cô Hoa bằng tiếng Quãng Đông:" thà tao đễ mày ế hơn là chấp nhận cho mày lấy một thằng Nam man...". Bà ấy không biết tôi nghe được tiếng Hoa... kể cho bác nghe để thấy cái suy nghĩ của người Hoa đối với người Việt mình là như thế dù họ là người đến ăn nhờ ở đậu nhà mình nhiều đời... Bác là người Việt như tôi, sao không thấy nỗ lực cha ông đã chịu mất mác không chỉ là tài sản, sinh mệnh mà đến cả văn hóa đặc thù cũng không còn, chỉ để được tồn tại một tổ quốc Việt ngày nay thôi - dù là một tổ quốc trống không - mà bác lại lập lại cái điều mà tôi nghe từ một bà già Trung Hoa thất học vô ơn đã nói hằng bao nhiêu năm trước ?

Sau 75, dù chỉ ở lại trong nước có vài năm nhưng tôi cũng nhận thấy it nhiều cái nét văn hóa Việt đến từ miền Bắc. Cuộc chiến biên giới năm 79 cho tôi cái lý do đễ hy vọng vào sự tồn tại của một dân tộc Việt trước tham vọng bành trướng dù dân tộc đó đang đi theo con đường mà tôi không tin tưởng lắm. Đáng tiếc, với tôi cái lý do đó đến nay trở nên mờ nhạt, chính quyền Việt Nam ngày nay hành xử như là một lủ thái thú Tàu gốc Việt và không it người Việt ngày nay chỉ còn là cái vỏ người Việt chứ ruột thì đã là Tàu mất rồi ...

Cám ơn bác đã cho tôi cái dịp tâm tình, đã lâu rồi tôi thật không có dịp viết nhiều như thế. Có lời nào không phải mong bác xá cho... Chúc bác vui luôn nhé ...

Nokian92

(trả lời: Bắc Thần)
Bài số: 111
RE: Lý Thường Kiệt - 11/19/2009 8:19:48 PM   
con ong


Bài: 1429
Từ: Home Depot
 
Anh Nokia không nói thì thôi, nhưng anh nói thì tôi nghĩ tôi cũng cần có vài lời với anh Bắc Thần và cũng để anh rõ. Vì anh Bắc Thần nói những chữ như dân ta tự sướng như giọng của tên Tầu lai nên tôi không buồn nói

Ở trên bác nói đến việc bọn Tàu sang VN rồi trấn lột tài sản, vừa trí tuệ vừa hiện vật, đem về Tàu làm của riêng. Em suy nghĩ và vẫn thắc mắc chẳng lẽ nó lấy sạch, quét sạch những gì của chúng ta có? Chẳng lẽ chúng nó có bộ phận đặc biệt cứ lâu lâu lại sang VN cướp bóc hết đem về Tàu? Cứ cho là chúng nó đã lấy sạch, quét sạch đi, chẳng lẽ ông cha ta không tái tạo lại được, không ghi lại được là chúng ta đã có gì, mất gì? Từ đó em suy rộng ra là ... chúng ta chẳng có gì cả. Tranh họa, không. Cổ thư, không. Bút pháp, không. Triết lý, không. Ngay cả chữ viết có hệ thống chúng ta cũng không có nốt.
 
  Ngay từ câu đầu đã thấy nói em suy nghĩ, mà không nghĩ, suy bậy bạ .Bọn Tàu tham vọng đẻ lắm tự giết nhau cũng nhiều, chúng không có bộ phận mỗi năm qua bóc lột nhưng chúng bóc lột hàng ngày hàng tháng qua gần ngàn năm đô hô và bóc lột. Sai từ đầu rồi mà con suy rộng ra càng hỏng toét. Không biết có đọc Bình Ngô Đại Cáo chưa ?
Bon Tàu là giống ăn cướp lấy của người khác rồi ghi lại nhận của mình. Nhìn bây giờ thì biết đám Tầu có cái gì ? Dân ta khi xưa bị đô hộ thì phải theo. Bút pháp là cái gì ?, cổ thư là cái gì ? Ngày nay bọn Tầu vẫn còn máu ăn cắp, nước lớn thế mà có cái gì, Hỏa Tiễn, Nguyên Tử, Monitor, Ti Vi ?, ngay cả software nước khác cũng ăn cắp làm đồ giả mang về dùng ? May là bây giờ có tài liệu rồi chứ không sử Tầu cũng ghi của Tầu. Hãnh diện cái gì to đầu thế kia mà làm xe ô tô cũng không lại Đại Hàn, Nhật Bản. Hệ thống ăn cắp di truyền từ đời xưa nên không những dân ăn cắp, chính phủ cũng ăn cắp .

Đang theo đuôi người ta, ngay cả chuyện bây giờ cũng còn không biết, tính cả cái công theo chế độ cộng sản. Tàu theo cộng sản ta cũng theo cộng sản, **** theo cộng sản trước bác Mao, cũng theo đuôi thằng Nga thôi.
Giống Tầu bắt trước ăn cắp đã từ lâu, đồ giả Made In Cho Lon có từ đời nào. Hãnh diện cái gì ngày nay, hãnh diện bút pháp cổ thư à ? Nước Mỹ không tiếng nói không chữ viết thì sao ?, Việt Nam ít ra có tiếng nói và chữ viết để ta viết bây giờ . Chữ Tầu biết đâu cũng từ một nước nào mà tàu xâm chiếm rồi ăn cắp. Nam Man ít ra cũng không man rợ bẩn thỉu tuột quần chổng đít vào tàu Mỹ như đám tàu bây giờ. Đó là cái giống khỉ bắt chước gọi là "Hán Tộc" mà họ hãnh diện, thủy tổ là ông nhà Hán Lưu bị  lai đười uơi tay dài quá gối và đám ghẻ Mã Viện thời xưa.
 Có hãnh diện là cái tài đẻ lắm đi đâu cũng để lại đám đười uơi con như đám ký sinh trùng chui nhủi, chỗ nào có ruồi là có tầu. Đám ký sinh trùng đợi người ta lúc bệnh tật hoạn nạn là đứng ra chê bai, xưng Hán tộc lòi cốt khỉ. Có đám hãnh diện nhờ ông bà được mấy thằng Tầu cho sướng xưng cốt khỉ. Chứ còn con người tiến hóa ở đâu thì cần biết biết ơn đó, từng nnho'm người có tài sản nhà cửa chung với nhau, lập gia đình với nhau, cũng bị xâm lăng đô hộ thì phải biết bảo vệ, đùm bọc nhau, chứ đâu ở trong nhà người ta cứ chờ có biến thì hôi của, xưng Hán tộc, Hán tộc gì giống vô ơn ăn cắp.

Chúng ta khác Bắc địch Tây Nhung ở chỗ chúng ta còn, đám kia mất, chúng ta có chữ Viết, văn hóa cũng từ từ thay đổi tách ra đám Tầu mà theo chiều hướng tây phuơng rồi, không khéo nói tàu theo tây mình cũng theo tây.

Khi về Việt Nam thấy dân VN trừ mấy người nghèo quá phải chịu thôi, họ khi nào có thể họ tránh đồ tầu như tránh hủi. Không như mấy chú ba lai có chút hãnh diện bên này khoe mẽ. Quần áo tránh đồ Trung quốc, đám con buôn phải nói đồ Hàn Quốc, Sing, đồ Saigon; đám Tàu thì theo thói cũ ăn cắp kiểu rồi in Made in toán loạn để giả mạo. Trái cây Trung quốc, xe thì dân nghèo phải mua mà dùng thôi, quả Hồng để cả tháng không héo, không chín.
Nếu anh Nokian nhìn thì thấy không ít gái tàu lấy trai Việt, có điều họ nhìn như mấy cô gái Việt, còn mấy cô xẩm thì trai VN chê không ít nếu anh là dân Việt thì tôi nghĩ anh không nên bi quan quá vậy. Viêt sử nước nào chẳng hãnh diện tuy theo thói xưa đôi khi viết quá chứ đâu có chuyện hoàn toàn bịa đặt mà bôi bác bác bằng những danh từ thiếu giáo dục khi nói về sử nước mình như tự sướng, tự thỏa mãn.

 Lấy gái tàu cũng chẳng béo bổ gì, tất cả cũng kinh tế thôi, bây giờ anh Nokian vào thử Chợ Lớn xem, khối đám xẩm cái muốn lấy anh, lo trọn gói cho anh, đói rồi muốn qua Mỹ đổi chút tên họ làm America đám dân chẳng có bút pháp cổ thư gì cả.



 

< Sửa đổi: con ong -- 11/20/2009 4:24:40 AM >



_____________________________

Em đã sống, em đã sống trong ân tình kẻ lạ
để mình anh, để mình anh trong thương nhớ không nguôi
Em bay đi bằng cánh bướm giữa đêm dài
bằng hương ngát cánh hoa thơm rồi nhạt phai

PD

(trả lời: Bắc Thần)
Bài số: 112
RE: Lý Thường Kiệt - 11/20/2009 8:40:15 AM   
tabalo


Bài: 2111
Nhất định những người man di mọi rợ vô văn hóa như bác nói không thể nào tồn tại nỗi qua những năm tháng bị đồng hóa một cách có hệ thống của người Hoa. Nhưng nếu bác hỏi tôi hãy chỉ cho bác thấy những gì người Việt mình có ngoài người Hoa thì tôi chịu, đang tìm mà chưa thấy đấy bác ạ... (Nokia92)
Chào Anh Nokia
Tui thấy  tui qua Tàu nói tiếng Việt nó không hiểu , nó viết gì tui cũng tưởng nó viết bùa , tui có Lý thường Kiệt , Trần hưng Đạo , Nguyễn Du ... nó có Tôn sĩ Nghị , Sầm nghi Đống , Tần thủy Hoàng... tui có Bà Triệu , Hai bà Trưng , nó có Từ hy thái Hậu , Võ tắc Thiên ... Cần thêm không anh

(trả lời: Nokian92)
Bài số: 113
RE: Lý Thường Kiệt - 11/20/2009 11:50:00 AM   
nhunguyen

 

Bài: 1158
...

Mèn , hiếp người quá đáng !

Nhưng …còn thứ dân “ăn cháo đá bát “ thì  phải ….” đá  sặc gạch “ a !


_____________________________

...tình nhị hồ vẫn yêu âm xưa !

(trả lời: tabalo)
Bài số: 114
RE: Lý Thường Kiệt - 11/24/2009 9:08:39 AM   
Bắc Thần


Bài: 195
Từ: Fansipan
quote:

Bỏ qua những tự ái dân tộc không giúp ích gì cho việc trao đổi, tôi đồng ý với bác là có rất nhiều điều người Hoa có mà mình không có nhưng tôi không đồng ý với bác khi bác nói "Chúng ta chỉ là những bộ lạc man rợ ở phía Nam của TQ...". Như đã nói ở trên, tôi không có điều gì để chứng minh với bác so với những gì bác đưa ra. Cái duy nhất mà tôi có thể nói với bác là chúng ta nhất định không phải là những người man rợ, không có gì. Quá trình chinh phục người Việt của người Hoa đã trãi qua hằng ngàn năm rồi đến nay vẫn chưa kết thúc, cái gì đã giử cho người Việt sau bao nhiêu năm và bao nhiêu lần bị cai trị bởi người Hoa vẫn duy trì được sự hiện hửu của mình chưa trở thành một bộ phận người Hoa ?




Chào bác nokia,

VN chưa bao giờ có độc lập thật sự. Đó chỉ là một sự ngộ nhận. Em sẽ bổ túc vấn đề này sau.

Bác kể là ở VN có người Hoa thất học vô ơn? Chuyện thường. Em biết hiện ngay bây giờ ở chỗ em ở có tất cả trước sau là hai mươi bẩy người VN có bằng đại học nhưng mà vô ơn còn hơn là bà già Tàu mà bác kể nữa. Họ ở đây bao nhiêu năm, được cưu mang, được giúp đỡ, hướng dẫn, được tương trợ ngay từ những ngày đầu chân ướt chân ráo từ trại tị nạn mới qua, họ tuyên thệ xin vào quốc tịch Hoa kỳ, hứa từ bỏ quốc tịch mẹ đẻ nhưng cho đến bây giờ họ vẫn không xem Hoa kỳ là quê hương tổ quốc của họ. Đối với họ Hoa kỳ chỉ là nơi tá túc, là nơi để họ trục lợi làm giàu, để hưởng thụ. Con cái của họ bị ép buộc uốn nắn từ nhỏ để ... tiếp tục thành người Việt Nam! Ngay trên đất Mỹ!

Em đã nói ở trên: Tàu với ta không khác nhau là bao nhiêu. Ta còn kém họ là khác. Ta có đầy đủ những đức tính xấu mà họ có nhưng lại thiếu những cải tiến mà họ đã hoàn thiện. Cuốn Người Trung Hoa Xấu Xí của Bá Dương, nếu chúng ta cứ đổi tên họ và địa phương là có thể hoàn thành cuốn Người Việt Nam Xấu Xí không cãi vào đâu được.

(trả lời: con ong)
Bài số: 115
RE: Lý Thường Kiệt - 11/24/2009 1:55:22 PM   
hoaiviet

 

Bài: 473
Thôi bác Bắc Thần ơi, nội thấy cái tên bác là biết bác người gì rồi ....

Bắc Thần = Thần phục phương Bắc

Bác có biết là cỡ chiến hạm như của Trung Tá Lê Bá Hùng khoảng 800 triệu đô một chiếc .

Cho tui mà làm lãnh đạo  VN hả, chỉ với số tiền 5 tỉ việt kiều gửi về mỗi năm, và cho tui chừng 5 năm thôi , tui sẽ thống lãnh một hạm đội gồm 30 chiếc chiến hạm như chiến hạm của Lê Bá Hùng và một chiến đoàn NAVY SEAL chừng 100,000 quân, ra Hòang Sa chơi cho thằng ghẻ một trận coi mèo nào cắn mỉu nào ......

Xin lỗi bác Bắc Thần, hồi chiều tui đưa thông tin sai, vào đính chính lại

< Sửa đổi: hoaiviet -- 11/24/2009 5:08:58 PM >

(trả lời: Bắc Thần)
Bài số: 116
RE: Lý Thường Kiệt - 11/25/2009 9:09:10 AM   
Nokian92


Bài: 904
quote:

VN chưa bao giờ có độc lập thật sự. Đó chỉ là một sự ngộ nhận. Em sẽ bổ túc vấn đề này sau...
Bác Bắc Thần...

Tôi thì hiểu khác bác: VN chưa bao giờ lệ thuộc Trung Hoa thật sự và đó là sự thật chứ không phải là ngộ nhận. Nếu bác định bổ túc vấn đề này bằng văn bản tư liệu thì tôi xin bác, chỉ mất thì giờ của bác thôi. Vấn đề phải hiểu như thế này bác ạ: Bác thì như thế nào tôi không biết chứ riêng tôi, tôi không cần những lý lẻ, chứng cớ lich sử và cả những biểu hiện bên ngoài của đồng bào tôi hiện nay đễ tự cho mình là người Trung Hoa, thậm chí nếu nước Việt vì lý do nào đó bị sáp nhập vào Trung Hoa không còn tồn tại nữa, những cái đó vẫn không thay đỗi được cái tư duy của tôi là người Việt. Tôi tin rằng cái tinh thần đó là cái đã giử cho người Việt nước Việt còn tôn tại đến ngày nay. Đó cũng là cái mà tôi chịu không thể chỉ ra cho bác hay bất kỳ ai đó thấy được.

Bác đưa ra cái thí dụ về những người Việt ở Mỹ để so với câu nói của bà già Quãng Đông tôi e không chính xác lắm. Người Việt hay Trung Hoa hay bất cứ sắc dân nào khi bỏ xứ ra đi sống ở nước ngoài ai cũng có lòng hoài hương, nhất là những người thế hệ đầu tiên, tôi không thấy có gì sai trái trong chuyện cố gắng gìn giữ bản chất dân tộc bằng cách truyền đạt phong hóa đến thế hệ kế thừa. Vấn đề đặt ra là sống nương thân xứ người thì phải biết ơn người trước, tối thiểu phải là tôn trọng luật pháp, làm ăn chân chính và có nghĩa vụ với quốc gia mình đang nương nhờ trước. Người Việt có câu "cha sinh không bằng mẹ dưỡng" là ở cái ý này. Người Quãng Đông nói riêng hay người Trung Hoa nói chung luôn luôn tự cho là họ trên hết nên khi đến ở xứ người họ không có sự tôn trọng hay lịch sự tối thiểu đối với người bản xứ, ở người Trung Hoa tôi thấy không có sự công bằng hay nói thẳng hơn là họ ăn ở không biết điều, vì vậy họ mới có cái câu nói khinh mạn như người đàn bà Quãng Đông như trên.

Còn những người Việt mà bác đề cập đến thì tôi đã từng thấy qua. Đúng vậy, họ cũng như tôi nay mang quốc tịch Mỹ nhưng đâu có gì sai khi nói mình xuất thân từ Việt nam? họ kiếm tiền hợp pháp, thực hành nghĩa cụ thuế má đầy đủ thì chuyện họ muốn duy trì bản chất Việt của họ có gì là phạm pháp đâu ? và nhất là tôi chưa nghe ai trong họ tỏ ý khinh khi người Mỹ bản xứ như những người Trung Hoa ở Việt Nam cả... bác không thấy sự khác biệt giửa hai chuyện đó sao ?

Cám ơn bác đã trao đổi ý kiến với tôi, đây là một vấn đề nhậy cảm nên theo tôi như thế này là quá đủ rồi, mình không nên kéo dài nữa, bác vui vẻ luôn nhé.
___

Bác Con Ong, Tabalo, Hoaiviet.



Nokian92 

(trả lời: Bắc Thần)
Bài số: 117
Đại Nạn Trung Hoa Thời Cổ Sử. - 11/25/2009 11:44:34 AM   
Mme Ngo

 

Bài: 777
Từ: Tiếng Nói Phố-Rùm Broadcasting Corporation
Nguồn : talawas-Blog
 
Đại nạn Trung Hoa thời cổ sử

Trần Gia Phụng
 
 
Việt Nam nằm về phía nam Trung Hoa, một nước lớn so với Việt Nam. Vị trí địa lý nầy là một đại nạn thường trực cho Việt Nam, vì các nhà lãnh đạo Trung Hoa qua mọi thời đại, luôn ỷ thế nước lớn, kiếm cách xâm lăng các nước nhỏ láng giềng, trong đó có Việt Nam.  Bài nầy trình bày đại nạn Trung Hoa thời cổ sử.

1.   Trung Hoa xâm chiếm cổ Việt

Ở phương bắc, lúc mới lập quốc, người Trung Hoa quần tụ sinh sống chung quanh lưu vực Hoàng Hà (Huang He), phía bắc Dương Tử Giang (Yang Zi Jiang), khá xa cổ Việt. Các triều đại Trung Hoa đầu tiên theo chế độ phong kiến, tức phong hầu (phong chức) và kiến địa (cắt đất) để cai trị. Hoàng đế Trung Hoa nắm giữ chính quyền trung ương. Các vương hầu đứng đầu các tiểu quốc chung quanh gọi là chư hầu. Vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên (TCN), nhà Châu (Chou) suy yếu. Trong các chư hầu, lúc đó nước Tần mạnh nhất.

Năm 221 trước TCN, vua nước Tần là Tần Chính tiêu diệt các chư hầu, thống nhất Trung Hoa, lên ngôi hoàng đế tức Tần Thủy Hoàng (Ch’in Shih Huang, trị vì 221-210 TCN), lập ra nhà Tần (Ch’in). Tần Thủy Hoàng bỏ chế độ phong kiến, xóa các nước nhỏ, chia Trung Hoa thành 36 quận, đặt quan cai trị, thuộc quyền hoàng đế.
Ổn định xong trung nguyên Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư (Tu Shu) và Sử Lộc (Shi Lu) cầm quân vượt qua sông Dương Tử năm 214 TCN (đinh hợi), mở mang bờ cõi xuống phương nam, chiếm vùng đất mà người Trung Hoa gọi là vùng Bách Việt, lập thành ba quận là Quế Lâm (Kueilin), Nam Hải (Nanhai), và Tượng Quận (Hsiang).

Quế Lâm nay là vùng bắc và đông Quảng Tây. Nam Hải là vùng Quảng Đông. Tượng Quận là đất cổ Việt, tức vùng Bắc Việt ngày nay. Trong ba quận nầy, Tượng Quận ở xa xôi nhất đối với Trung Hoa. Phía bắc Tượng Quận, núi non hiểm trở bao bọc, ngăn cách với Nam Hải, Quế Lâm, và trung nguyên Trung Hoa.
Đồ Thư bị người địa phương kháng cự và giết chết. Nhà Tần cử Nhâm Ngao (hay Nhâm Hiêu) làm hiệu uý quận Nam Hải và Triệu Đà (Chao T’o) làm huyện lệnh Long Xuyên (Lung-Chuan), thủ phủ của quận Nam Hải.

Năm 210 TCN (tân mão), Triệu Đà đem quân sang đánh Tượng Quận hay cổ Việt. Theo truyền thuyết, vua cổ Việt là An Dương Vương, nhờ có nỏ thần nên đã đẩy lui quân Triệu Đà. Triệu Đà liền giảng hòa và cho con trai là Trọng Thủy sang kết hôn với con gái của An Dương Vương là Mỵ Châu. Trọng Thủy lén bẻ gãy nỏ thần, thay bằng một nỏ giả, rồi về nước. Năm 208 TCN (quý tỵ), Triệu Đà tấn công An Dương Vương lần nữa, và chiếm được khu vực cổ Việt.[1]

Lúc đó, Nhâm Ngao bị bệnh qua đời. Trước khi từ trần, Nhâm Ngao khuyên Triệu Đà nên dựa vào địa thế xa xôi hiểm trở của quận Nam Hải, thành lập một nước độc lập. Năm 207 TCN (giáp ngọ), Triệu Đà chiếm Nam Hải và tự xưng vương, tức Triệu Võ Vương, đặt quốc hiệu là Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (có tài liệu gọi là Phan Ngu hay Phan Ngung). Năm 198 TCN (quý mão), Triệu Võ Vương cử người sang cai trị cổ Việt. (Cương mục, bd. tập 1, sđd. tr. 89.)

Bên Trung Hoa, sau khi nhà Tần bị lật đổ, Hạng Võ (Xiang Yu) cùng Lưu Bang (Liu Bang) tranh hùng. Lưu Bang thành công, lên ngôi hoàng đế, tức Hán Cao Tổ (Han Kao Tsu, trị vì 202-195 TCN), lập ra nhà Hán (202 TCN – 220). Lúc đầu, Hán Cao Tổ vẫn để họ Triệu làm vương đất Nam Việt. Gần 100 năm sau, Hán Võ Đế (Han Wu Ti, trị vì 141-87 TCN) sai Lộ Bác Đức (Lu Bo De) đem quân đánh nhà Triệu năm canh ngọ (111 TCN), giết vua Triệu Dương Vương và thái phó Lữ Gia, chiếm nước Nam Việt.

Cần chú ý là Triệu Đà vốn là tướng của nhà Tần, vâng lệnh nhà Tần làm huyện lệnh Long Xuyên, thủ phủ của quận Nam Hải, nhân cơ hội xáo trộn ở Trung Hoa, đứng lên chiếm quận Nam Hải, lập ra nước Nam Việt. Triệu Đà không phải là người địa phương Bách Việt. Triệu Đà xâm lăng cổ Việt và sáp nhập cổ Việt vào nước mới của ông là Nam Việt.
Theo sử gia Ngô Thời Sỹ (thế kỷ 18), tác giả bộ Việt sử tiêu án, vì Triệu Đà sáp nhập cổ Việt vào nước Nam Việt, nên khi Nam Việt bị Lộ Bác Đức sáp nhập vào nước Trung Hoa năm 111 TCN, vùng cổ Việt cũng bị sáp nhập luôn vào Trung Hoa, chứ trước kia quân đội của triều đình Trung Hoa không xuống tận miền biên viễn xa xôi nầy. Do đó, theo Ngô Thời Sỹ, Triệu Đà chẳng những không có công gì với cổ Việt mà là người đem họa lại cho cổ Việt nữa.[2] Từ đó, cổ Việt bị Trung Hoa đô hộ cho đến năm 938, khi Ngô Quyền chiến thắng trận Bạch Đằng Giang, đánh đuổi quân Nam Hán ra khỏi nước.

2. Chủ trương thuộc địa thực dân
 
Khi gởi quân vượt sông Dương Tử, đánh chiếm Bách Việt, triều đình Trung Hoa thực hiện ngay chính sách thuộc địa thực dân (thực = trồng, tức trồng người). Triều đình Trung Hoa gởi người Trung Hoa, thuộc chủng Mongoloiid (Mông-cổ) đến các vùng đất mới chiếm càng ngày càng đông. Những đợt di dân đầu tiên có thể gồm hai hạng người: thứ nhất là những binh sĩ đi chiếm đất và thứ hai là những người có trọng tội, bị lưu đày đến miền biên viễn. Khi làm lệnh Long Xuyên, Triệu Đà gởi sứ về triều đình nhà Tần, xin triều đình gởi ba vạn con gái hoặc đàn bà góa sang để làm vợ binh sĩ.[3] Như thế, chứng tỏ số người gốc Hoa được gởi đến vùng Nam Hải lên khá đông.

Từ khi Triệu Võ Vương (Triệu Đà) cử người sang cai trị cổ Việt (198 TCN), người Trung Hoa thuộc chủng Mongoloiid di cư đến tận cổ Việt càng ngày càng đông, đến nỗi có sử thuyết cho rằng những người Hoa di cư nầy chính là tổ tiên người Việt. Trong thực tế, những di chỉ khảo cổ cho thấy những người đầu tiên sống trên đất cổ Việt nói chung thuộc chủng người được sắp vào nhóm Indonesian hay Mã Lai Đa Đảo (Malayo-Polynesian). Những người Hoa di cư từ thời Triệu Đà đến Cổ Việt sinh sống, đã hợp chủng với người bản địa cổ Việt để trở thành tổ tiên người Việt ngày nay.

Theo sách The Living Races of Men (New York, 1966), các tiến sĩ Carleton S. Coon và Edward E. Hunt Jr. dựa trên những khảo cứu về huyết học, đã sắp người Đông Nam Á, trong đó có người Việt Nam, và người Indonesian nằm chung trong một hệ thống huyết tộc với nhau.[4] Bên cạnh đó, trong những nghiên cứu về nguồn gốc người Việt Nam, bộ bách khoa Encyclopedia Britannica (1999) đã kết luận “… rằng giữa người Việt với  người Thái và các tộc hệ Indonesian có liên hệ mạnh mẽ [chặt chẽ] về xã hội và văn hóa.”[5] Các kết quả nầy cho thấy trong cuộc hợp chủng Việt Hoa thời cổ Việt, yếu tố bản địa có tính cách chủ yếu quan trọng cả về chủng tộc, lẫn văn hóa và xã hội.

Yếu tố bản địa còn thấy rõ trong hai sự kiện: 1) Thứ nhất, dầu bị đô hộ hơn một ngàn năm trong thời cổ sử, người Việt vẫn duy trì tiếng Việt, vẫn nói tiếng Việt cho đến ngày nay, trong khi chữ viết có thể thay đổi; 2) Thứ hai, đế quốc Trung Hoa xâm chiếm miền Nam sông Dương Tử, một vùng đất rộng mênh mông với nhiều sắc dân khác nhau, duy nhất chỉ có người cổ Việt nổi lên giành độc lập, trong khi các sắc dân khác đành chịu sự đô hộ của Trung Hoa. Điều nầy cho thấy sắc dân bản địa là một thành tố quan trọng trong sự sống còn của người Việt.

Điều đặc biệt là những người Mongoloiid di cư đến sinh sống trên đất cổ Việt, từ đời nầy qua đời khác, đã gắn liền với những quyền lợi chính trị, kinh tế người bản địa cổ Việt. Từ đó những người Mongoloiid di cư đến cổ Việt được Việt hóa dần dần, và trở thành một bộ phận của dân Việt, trái ngược với chủ trương đồng hóa người Việt của triều đình Trung Hoa. (Thay vì đồng hóa người Việt theo Trung Hoa, thì người Trung Hoa di cư lại biến thành người Việt.) Có khi chính những người gốc Hoa di cư cũng nổi lên chống lại chế độ đô hộ Trung Hoa.

Tượng trưng cho khuynh hướng nầy là cuộc nổi dậy của Lương Long năm 178 (mậu ngọ), rồi của các binh sĩ triều đình Trung Hoa tại Giao Chỉ năm 184 (giáp tý), và nổi bật hơn cả là Lý Bôn năm 541 (tân dậu). Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết về Lý Bôn như sau: “Tổ tiên là người Bắc [Trung Quốc], cuối thời Tây Hán [202 TCN-25 SCN] khổ về việc đánh dẹp, mới tránh sang ở đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam…”[6] Câu nầy không khẳng định là được bảy đời mới trở thành người Nam, nhưng ý cho thấy sống lâu năm và nhiều đời ở cổ Việt “thì thành người Nam”.

Như thế, từ thời Tần Thủy Hoàng, Trung Hoa bắt đầu xâm chiếm miền nam sông Dương Tử, tiến xuống cổ Việt. Nhà cầm quyền Trung Hoa di dân để đồng hóa vùng Bách Việt, nhưng khi đến Tượng Quận, tức cổ Việt, mưu đồ nầy bất thành, vì gặp sự chống đối mạnh mẽ của người cổ Việt, trong đó có cả những di dân từ phương bắc đến. Ngưòi cổ Việt luôn luôn kiếm cách nổi dậy chống lại nhà cầm quyền thực dân Trung Hoa, để giành lấy chủ quyền và nền độc lập của mình.

3. Huyền thoại khai hóa
 
Đất cổ Việt bị Trung Hoa đô hộ từ năm 208 TCN đến năm 938, là năm Ngô Quyền đánh đưổi quân Nam Hán ra khỏi bờ cõi cổ Việt.[7] Nhà cầm quyền Trung Hoa đưa người sang cổ Việt, vừa để biến cổ Việt thành một thuộc địa thực dân của Trung Hoa, làm phiên thuộc nhằm bảo đảm an ninh phía nam của Trung Hoa, vừa để tổ chức khai thác và bóc lột thuộc địa.

Công cuộc khai thác của những nhà đô hộ Trung Hoa chỉ nhằm phục vụ quyền lợi Trung Hoa, nhưng lại luôn luôn tự đề cao là họ đã khai hóa dân Việt mà họ cho là “Nam man”.[8]
Theo sách Hậu Hán thư (Hou Han shu, sách về đời Hậu Hán, viết vào thế kỷ thứ 5): “Tục Cửu Chân làm nghề săn bắn chứ không biết dùng bò để cày. Dân thường phải mua lúa Giao Chỉ mỗi lần bị thiếu thốn. [Nhâm] Diên bèn truyền đúc các thứ điền khí dạy cho họ khẩn ruộng, ruộng đất trù mật, mỗi năm một rộng thêm; trăm họ được đầy đủ. Dân Lạc Việt lại không có phép cưới hỏi, mọi người ưa dâm dật, không quen thói sống chung với nhau, nên không biết tình cha con, không biết đạo vợ chồng. Vì vậy Diên gởi thư đi các huyện thuộc quyền ông, truyền cho mọi người đàn ông từ 20 đến 50 tuổi, đàn bà từ 15 đến 40 tuổi, tất cả tùy theo tuổi tác mà cưới hỏi nhau… Trước kia trong thời Bình Đế có Tích Quang, người Hán Trung làm thái thú Giao Chỉ, lấy lễ nghĩa dạy cho dân Man di ăn ở, tiếng giáo hóa cũng lừng lẫy như ông Diên… Đất Lĩnh Nam giữ phong tục Trung Hoa bắt đầu từ hai vị thái thú đó…”[9]

Đoạn văn nầy kể công hai nhân vật tiêu biểu cho các thái thú Trung Hoa, là Tích Quan (Xi Guang/Hsi Kuang) và Nhâm Diên (Ren Yan/Jen Yen). Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ (châu thổ sông Hồng), đời vua Hán Bình Đế (1-5 SCN). Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân (châu thổ sông Mã) từ năm 25 đến năm 29 (SCN) thì được gọi về Trung Hoa.

Hai nhân vật nầy, theo Hậu Hán thư, đã có công: 1) Truyền dạy việc dùng điền khí để cày ruộng.  2) Giáo hóa dân bản địa. Hai “sự nghiệp” nầy được các bộ sử Trung Hoa ca tụng và được một số bộ sử Việt Nam chép theo. Đây là hai vấn đề tiêu biểu cần được xem xét lại:

a. Thứ nhất, “Diên bèn truyền đúc các thứ điền khí dạy cho họ khẩn ruộng”. Dựa vào câu nầy, các sách xưa cho rằng chính Nhâm Diên đã dạy cho dân Việt biết cách dùng lưỡi cày bằng kim khí (điền khí) để cày ruộng. Cần chú ý là người Trung Hoa xưa ở vùng Hoàng Hà, trồng lúa mì và lúa mạch trên ruộng khô, không biết lúa gạo (lúa nước), thì làm sao giỏi kỹ thuật trồng lúa gạo ở ruộng nước mà dạy người Việt?

Trong khi đó, một tài liệu cổ của Trung Hoa xác định rõ ràng lúa trồng tại cổ Việt là loại lúa nước, theo thủy triều lên xuống mà cày cấy. Sách Giao Châu ngoại vực ký [viết khoảng giữa đời Tấn (265-420) Trung Hoa] viết: “…Hồi xưa, chưa có quận huyện, thì Lạc điền tùy theo thủy triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là Lạc dân, người cai quản dân gọi là Lạc vương, người phó là Lạc tướng, đều có ấn bằng đồng và dải sắc xanh làm huy hiệu…”[10]

Càng ngày càng có nhiều khảo cứu của các học giả Hoa Kỳ, Nga, Trung Hoa và cả Việt Nam, cho thấy rằng Đông Nam Á là trung tâm đầu tiên trên thế giới của nền văn minh lúa nước, rồi từ đó lan truyền đi khắp nơi trên thế giới. Cũng theo các tác giả trên, tâm điểm của trung tâm văn minh lúa nước ở Đông nam Á chính là khu vực Hòa Bình ở Bắc Việt.[11] Hòa Bình nằm trong khu vực uốn khúc của sông Đà để đổ lên sông Hồng, gần huyện Mê Linh (tức Phú Thọ, Vĩnh Phúc), quận Giao Chỉ thời cổ Việt, nơi phát tích của Hai Bà Trưng.

Tiến sĩ Wilhelm G. Solheim II, giáo sư nhân chủng học thuộc Đại học Hawaii, chuyên viên về tiền sử Đông Nam Á, cho biết những di chỉ ông tìm kiếm được năm 1963 mách bảo rằng sắc dân Lạc Việt ở Đông Nam Á đã biết trồng lúa và biết cách đúc đồng sớm hơn các miền Cận đông, Ấn Độ và Trung Hoa. (National Geographic, Vol. 139, No. 3, March 1971.)
Theo một tài liệu khác, tại Mê Linh (Vĩnh Phúc, Phú Thọ ngày nay) quận Giao Chỉ (châu thổ Hồng Hà), người ta tìm thấy những bộ xương trâu đã có mặt tại đây khoảng 2,000 năm trước Công nguyên, và hai lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn (thế kỷ thứ 5 TCN đến thế kỷ 1 SCN) dùng cho trâu cày.[12]

Như thế, rõ ràng Nhâm Diên không phải là người khai tâm dân Việt dùng điền khí để cày cấy như Hậu Hán thư đã viết và các bộ sử khác chép theo. Dân Lạc Việt đã biết làm ruộng, trồng lúa nước (lúa gạo) và đã biết sử dụng điền khí trước khi người Trung Hoa đến xâm lăng, chứ không phải người Trung Hoa dạy dân Lạc Việt dùng điền khí để cày cấy. Lúc đó, dân Lạc Việt dùng lưỡi cày bằng đồng vì đồ đồng là nghề luyện kim chính của dân Lạc Việt (vốn nổi tiếng về trống đồng), và nhất là đồ sắt bị hạn chế, do việc bà Lữ hậu nhà Hán đã ra lệnh cấm xuất cảng sắt xuống phía nam Trung Hoa từ năm 183 TCN. (Cương mục, tr. 92.)
Vậy phải chăng Nhâm Diên, thái thú Cửu Chân (vùng châu thổ sông Mã), nơi có trung tâm trống đồng Đông Sơn (Thanh Hóa), chứng kiến cảnh dân chúng địa phương đã cày cấy bằng lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn, rồi báo cáo như trên để lập công với triều đình Trung Hoa?

b. Thứ hai, Hậu Hán thư cho rằng người Việt “không có phép cưới hỏi… không quen thói sống chung với nhau nên không biết tình cha con, không biết đạo vợ chồng”, nên Nhâm Diên dạy dân Việt cưới hỏi theo lễ giáo.
Tập tục cưới hỏi, cũng như các lễ nghi, tập quán trong đời sống mỗi sắc dân mỗi khác. Người cổ Việt có phong tục của người cổ Việt. Dân  Trung Hoa có tập quán của dân Trung Hoa. Dưới thời Mã Viện cai trị cổ Việt, Hậu Hán thư (quyển 54) chép rằng: “Luật dân Việt và luật nhà Hán khác nhau đến hơn mười điều.”[13]

Những tập tục cưới hỏi của các bộ tộc miền núi ở Việt Nam ngày nay, có thể xem là vết tích tập tục của người cổ Việt còn được lưu truyền. Dầu theo mẫu hệ, những tập tục cưới hỏi nầy khác với tập tục của những người ở miền đồng bằng (người Kinh), nhưng không có gì là đồi phong bại tục, đáng để lên án hay đáng để thay thế. Vì vậy, khi đô hộ cổ Việt, các nhà cai trị Trung Hoa bắt người cổ Việt bỏ những tập tục cưới hỏi của người cổ Việt, và theo những tập tục cưới hỏi Trung Quốc, là một sự áp đặt văn hóa thô bạo, chứ không phải là giáo hóa cho người cổ Việt.

Duy có một điều chắc chắn là cưới hỏi theo lễ giáo Trung Hoa, tức cưới hỏi theo phụ hệ, để “biết tình cha con, đạo vợ chồng”, nghĩa là lập thành từng hộ gia đình nhỏ. Điều nầy đối với những nhà đô hộ Trung Hoa có hai điều lợi cho công việc cai trị. Thứ nhất, qua các hộ gia đình, nhà cầm quyền đô hộ nắm vững tình hình dân số, tình hình an ninh địa phương. Thứ hai, nhà cầm quyền đô hộ sẽ dựa vào số hộ dân để thu thuế theo cách mà Vệ Ưởng (Wei Yang) hay Thương Ưởng (Shang Yang, 390-338 TCN), đã thiết lập tại Trung Hoa từ thế kỷ thứ 4 TCN.[14] An ninh và thu thuế là hai mục đích hàng đầu của chế độ đô hộ bóc lột.

Ngoài Nhâm Diên, thái thú Tích Quang “lấy lễ nghĩa dạy cho dân Man di ăn ở, tiếng giáo hóa cũng lừng lẫy…” Lễ nghĩa mà Tích Quang phổ biến cho dân chúng cổ Việt chắc chắn không ngoài lễ nghĩa Nho giáo, với ba giềng mối chính là tam cương (vua tôi, chồng vợ, cha con) và năm đạo chính là ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Ai cũng biết Nho giáo là một triết thuyết chính trị hậu thuẫn cho chế độ quân chủ, trong đó đứng đầu là đạo “trung quân”. Trung quân có nghĩa là trung thành với vua. Lúc đó cổ Việt không có vua; chỉ có vua Trung Hoa. Trung thành với vua Trung Hoa là mặc nhiên chấp nhận nền đô hộ của Trung Hoa. Như thế, lễ giáo của Tích Quang cũng chỉ để ổn định xã hội và phục vụ cho công cuộc thống trị của thực dân Trung Hoa.

Công việc “giáo hóa” của hai thái thú Tích Quang và Nhâm Diên, nhất là việc áp dụng tục lệ cưới hỏi theo lễ nghi Trung Hoa, bị người Việt chống đối. Một tờ trình của Tiết Tống (Hsueh Tsung) vào năm 231 gởi cho triều đình Đông Ngô thời Tam quốc (213 – 280), cho rằng cho đến khi Tiết Tống đến Giao Chỉ dưới thời Sĩ Nhiếp (Shi She) làm thái thú (từ 187 đến 226), tức là sau mấy trăm năm đô hộ, ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa không đúng theo như các báo cáo trước đó; người Giao Chỉ và Cửu Chân vẫn còn giữ tục lệ gia đình của họ.[15]
Điều nầy không lạ, vì đến thế kỷ 15, Quốc triều hình luật thời nhà Hậu Lê đã thừa nhận trong điều 40 rằng: “Người “man liêu” là người sắc tộc thiểu số và tuy có văn hóa khác với dân Việt, vẫn thuộc thành phần quốc dân Đại Việt…”[16] Hơn nữa, cho đến ngày nay, tức 20 thế kỷ sau, vùng rừng núi Việt Nam vẫn còn một số bộ tộc theo mẫu hệ, tập quán riêng của họ.

Như thế, chuyện Nhâm Diên dạy cho dân Việt dùng điền khí để cày cấy, hay chuyện Nhâm Diên và Tích Quang giáo hóa dân Việt, đều chỉ là những huyền thoại làm đẹp cho chế độ đô hộ.  Trong khi đó người Trung Hoa học cách cày cấy lúa nước của người Việt và du nhập lúa nước vào Trung Quốc, làm phong phú sinh hoạt kinh tế Trung Hoa.
Trong sách Ancient China (1967), tác giả Edward H. Schafer viết rằng: “Thuật trồng lúa gạo và thuần hóa gia súc chắc chắn [Trung Hoa] đã tiếp thu từ các sắc dân tầm thường ở miền nam xa xôi hẻo lánh [nam Man].” (Nguyên văn: “The art of cultivating rice and domesticating cattle were doubtless adopted from the despised races of the remote south.”)[17]

Cũng nhà nghiên cứu nầy cho rằng Đức Khổng Tử (551-478 TCN), người tỉnh Sơn Đông (Shandong) vùng hạ lưu Hoàng Hà và ở phía bắc sông Dương Tử, “sống chủ yếu bằng loại bánh làm bằng kê”. (Nguyên văn: “…Confucius have subsisted chiefly on millet cakes…”), và “Khổng Tử chưa bao giờ thưởng thức trà, và chắc chắn rằng Vương Xung,  sáu thế kỷ sau, cũng thế.” (nguyên văn: “…Confucius never tasted tea, and it is doubtful that Wang Ch’ung, six centuries later, did either…[18] Trà là loại giải khát cũng phát xuất từ miền nam.

Chủ trương bóc lột của triều đình Trung Hoa khi nặng khi nhẹ, tùy hoàn cảnh và tùy tư cách của các thái thú Trung Hoa, có người tốt kẻ xấu, nhưng thực chất trước sau cũng đều chỉ nhằm mục đích vơ vét cho Trung Hoa. Chính sách bóc lột nầy lên cao điểm khi vua Hán Quang Võ (Han Guang Wu) cử Tô Định (Su Ding) sang làm thái thú Giao Chỉ năm 34 (giáp ngọ). Tô Định rất tham tàn và  hà khắc, áp dụng chủ trương khai thác và bóc lột một cách triệt để, đã đưa đến cuộc khởi nghĩa giành độc lập đầu tiên năm 40 (canh tý) của dân cổ Việt do Hai Bà Trưng lãnh đạo.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bị thất bại năm 43 (quý mão). Sau đó, trong suốt mười thế kỷ, người Việt nhiều lần nổi lên chống quân xâm lược Trung Hoa: Triệu Thị Trinh (248), Lý Nam Đế (541), Lý Phật Tử (603), Lý Tự Tiên (602), Mai Thúc Loan (727), Phùng Hưng (767), Dương Thanh (819), Vương Thắng Triều (828), Khúc Thừa Dụ (905) Dương Diên Nghệ (931). Cuối cùng, Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán năm 938 (mậu tuất), thực hiện được giấc mộng độc lập của dân tộc Việt.

Kết luận
 
Tóm lại, đối với người Việt, đại nạn Trung Hoa bắt đầu từ thời cổ sử. Ngay khi mới thống nhất Trung Hoa, triều đình nhà Tần đã chủ trương bành trướng và đưa quân vượt sông Dương Tử, chiếm Bách Việt, tiến xuống xâm lăng cổ Việt. Trong suốt hơn 1,000 năm đô hộ cổ Việt, từ năm 208 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên, các thái thú Trung Hoa không ngừng vơ vét tài nguyên cổ Việt để cung ứng cho triều đình Trung Hoa.
Tuy người Việt đã đánh đuổi được quân Trung Hoa ra khỏi nước để giành lấy độc lập tự chủ, nhưng sau hơn một ngàn năm đô hộ nước Việt, người Trung Hoa vẫn mang một số định kiến lạ lùng đối với người Việt.

Thứ nhất, cho đến thế kỷ 20, mà một nhà cách mạng dân chủ như bác sĩ Tôn Văn (1866-1925), đã nói với Khuyển Dưỡng Nghị (chính khách Nhật Bản): “Người Việt Nam vốn nô lệ căn tính.  Ngày xưa họ bị chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị Pháp đô hộ.  Dân tộc ấy không có tương lai.”[19] Thật là một câu nói ngạo mạn!

Thứ hai, các nhà cầm quyền Trung Hoa tự cho rằng nước Việt là một phiên thuộc của Trung Hoa, một phần đất của Trung Hoa. Khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ Việt Nam, buộc triều đình nhà Nguyễn ký hòa ước năm 1874, Pháp báo hòa ước nầy cho triều đình nhà Thanh ngày 24-5-1875.  Triều đình nhà Thanh trả lời rằng: “Chí Giao Chỉ tức Việt Nam bổn hệ Trung Hoa thuộc quốc.” (tạm dịch nghĩa: “Từ Giao Chỉ đến Việt Nam vốn là thuộc quốc của Trung Hoa.”)[20] Vì vậy nhà Thanh đòi hỏi Pháp phải thương thuyết với Trung Hoa về vấn đề Việt Nam.

Năm 1939, trong một tài liệu của đảng cộng sản Trung Hoa, tựa đề là “Cách mạng Trung Quốc và Đảng Cộng sản Trung Quốc”, lãnh tụ đảng CSTH là Mao Trạch Đông đã xác quyết: “Các nước đế quốc, sau khi đánh bại Trung Quốc, đã chiếm các nước phụ thuộc của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ, và Lữ Thuận, Anh chiếm Miến Điện, Bu-tan, Hương Cảng, Pháp chiếm An-Nam.”[21] Điều thật nhục nhã là trong khi Mao Trạch Đông xem Việt Nam lại là một nước phụ thuộc Trung Hoa, mà **** lại cầu viện Mao Trạch Đông để đưa Việt Nam vào tròng Trung Hoa.
Do những định kiến ưu quyền trịch thượng đối với Việt Nam, các nhà cầm quyền Trung Hoa luôn luôn có dã tâm xâm lăng Việt Nam, mà không để cho người Việt yên sống hòa bình.

 Trần Gia Phụng
 



 
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, (viết tắt: Cương mục), (Chữ Nho), Hà Nội: bản dịch của Nxb. Giáo Dục, 1998, tập 1, tt. 80-89.
[2] Ngô Thời Sỹ, Việt sử tiêu án, bản dịch của Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên lạc Văn hóa Á Châu, Sài Gòn, San Jose: Văn Sử tái bản, 1991, tr. 34.
[3] Nguyễn Phương, Việt Nam thời khai sinh, Huế: Phòng Nghiên cứu Sử, Viện Đại học, 1965, tr. 235.
[4] Carleton  S. Coon & Edward E. Hunt J., The Living Races of Man, New York: Nxb. Alfred A. Knopf, 1966, đồ bản 12, tr. 286.
[5] Encyclopedia Britannica, 1999, (CD), “Vietnam History…”
[6] Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: bản dịch Nxb. Khoa học Xã hội, 1998, tr. 178.  Nếu trung bình một đời (một thế hệ) là 23 đến 25 năm, thì 7 đời là từ 161 đến 175 năm.  Nhà Hán (Han, 202 TCN – 220) ở Trung Hoa được chia thành 2 giai đoạn: Tiền Hán hay Tây Hán (Former Han, 202 TCN – 25) và Hậu Hán hay Đông Hán (Later Han, 25-220). Giữa Tiền Hán và Hậu Hán, từ năm 9 đến năm 23 là thời gian do Vương Mãng (Wang Mang) đảo chánh và cầm quyền.
[7] Bên Trung Hoa, nhà Đường (Tang) chấm dứt năm 907 khi Chu Toàn Trung (Chu Ch’uan-chung) đảo chánh, lật đổ Đường Ai Đế (trị vì 904-907), tự mình lên làm vua, tức Lương Thái Tổ (trị vì 907-914), lập ra nhà Hậu Lương (907-923). Từ đó Trung Hoa rơi vào tình trạng hết sức xáo trộn gọi là đời Ngũ đại Thập quốc. Ở miền bắc Trung Hoa có năm triều đại kế tiếp nhau trong thời gian ngắn là Hậu Lương (907- 923), Hậu Đường (923-935), Hậu Tấn (936-947), Hậu Hán (948-950), Hậu Châu (951-959). Ở miền nam Trung Hoa, trước sau mười nước được thành lập, nên gọi là Thập quốc: so với ngày nay nước Ngô ở An Huy, Tiền Thục ở Tứ Xuyên, Ngô Việt ở Chiết Giang, Sở ở Hồ Nam, Mân Việt ở Phúc Kiến, Nam Hán ở Quảng Đông, Nam Bình ở Hồ Bắc, Hậu Thục ở Tứ Xuyên, Nam Đường ở Giang Tô và Bắc Hán ở Sơn Tây. Nước Nam Hán do Lưu Cung thành lập năm 917 ở Quảng Đông, là nước chiếm đóng Giao Châu. Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán năm 938, giành độc lập vĩnh viễn.
[8] Người Trung Hoa luôn luôn tự hào và gọi các sắc dân chung quanh là đông Di, tây Địch, bắc Nhung, nam Man.
[9] Nguyễn Phương trích dịch, sđd. tt. 186-187.
[10] Lê Tắc, An Nam chí lược [chữ Nho], Huế: Uỷ ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam,Viện Đại học Huế, phiên âm và dịch nghĩa, 1961, tr. 39.
[11] Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. ****, 1997, tt. 75-86.
[12] Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam [Việt Nam khai sinh], University of California Press, 1983, tr. 35.
[13] Nguyễn Phương, sđd. trích dịch, tr. 137.
[14] Bên Trung Hoa, thời Chiến quốc (479-221 TCN), tại nước Tần, dưới đời Tần Hiếu Công (cầm quyền 361-338 TCN), tể tướng Thương Ưởng (390-338 TCN), bày ra cách tổ chức hộ khẩu để thu thuế.  Đến đời Đường, từ thế kỷ thứ 7 mới bỏ thuế theo sổ hộ khẩu, đặt ra thuế “dung” đánh vào từng cá nhân (tức thuế đinh).
[15] Keith Weller Taylor, sđd. tr. 75. Về việc nầy, tác giả Taylor căn cứ trên sách Tam quốc chí của Trần Thọ. (Sách nầy khác với Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung là một bộ tiểu thuyết.)
[16] Nguyễn Ngọc Huy, Quốc triều hình luật, phiên âm, dịch nghĩa và chú thích, Viet Publisher Thư Quán, Hoa Kỳ, tr. 188.
[17] Edward H. Schafer, Ancient China, New York: Time-Life Books, 1967, tr. 16. Wang Ch’ung tức Vương Xung (27-97), triết gia thời Đông Hán (25-220) là tác giả nhiều sách lý luận về triết học, trong đó quan trọng nhất là bộ Luận hoành (Lun Heng, 30 quyển). Hoành là cái cân, nghĩa rộng là cân nhắc, so sánh.
[18] Như trên, trang 37-38.
[19] Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, [nguyên bản bằng Anh văn], bản dịch của Mạc Định, Paris: 1962, tr. 22.
[20] Yoshiharu Tsuboii, Nước Đại Nam đối diện với Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, ****: Ban Khoa học Xã hội, 1990, tr. 142.
[21] Nxb. Sự Thật, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua [tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam, không đề tên tác giả], Hà Nội: 1979, tr. 16.




_____________________________

- Đặc Trưng chỉ bảo Phố Rùm Ngô Thị Phi tự Ngô-Thị Đông-Lai.
- Chuyên gia đặc trách "Văn Hoá - Lịch Sự" PR. Chủ trương "Đá sạch gạch"
- Giám Đốc Thông tấn Xã PR. Tôn chỉ "Nói lộn nói lại... lại lộn"

(trả lời: Nokian92)
Bài số: 118
RE: Đại Nạn Trung Hoa Thời Cổ Sử. - 11/25/2009 12:37:03 PM   
Bắc Thần


Bài: 195
Từ: Fansipan
quote:

Cám ơn bác đã trao đổi ý kiến với tôi, đây là một vấn đề nhậy cảm nên theo tôi như thế này là quá đủ rồi, mình không nên kéo dài nữa, bác vui vẻ luôn nhé.




Bác không trao đổi với em nữa thì để em trao đổi một mình vậy.

Ở trên em có nói là người Việt thời cổ không có kỹ thuật hay vũ khí gì lợi lại để đánh nhau. Bây giờ em nói thêm là người Việt không có cả ngựa để dùng trong việc chiến tranh. Đánh nhau mà không có ngựa thì khỏi cần đánh làm chi mất công. Chỉ cần thấy một ngàn con ngựa bịt móng sắt phi nước đại đến là thần hồn tan nát, quân lính đạp lên nhau mà chạy cũng không kịp chứ đừng nói đến việc giao tranh.

Trẻ em VN ngày hôm nay được dạy dỗ là đã đánh cho quân đội Hoa kỳ chạy xất bất xang bang. Chuyện đó có đúng hay không? Dĩ nhiên là không. Chuyện cận đại còn hoang đường vô lý như thế huống hồ gì là chuyện cả ngàn năm xưa. Em cho rằng Trung Hoa chưa bao giờ xem VN là một mối đe dọa thực sự, trăm phần trăm không phải là high priority. Những lần họ tấn công xâm lược VN vì thế không quy mô và thiếu chủ đích. Khi vua băng hà, giặc giã nổi lên, hay thiên tai xảy ra thì họ phải quay về đối diện với nó ngay và quên đi về VN cho tới khi khác (và khi khác lại sắp đến nếu tin tức gần đây là có thật.)

Có hai lý do nữa mà Trung Hoa không đặt nặng gánh nặng VN. Lý do thứ nhất là đất nước VN lam sơn chướng khí nhiều mà lại chẳng có tài nguyên gì. Chứng minh cụ thể là gần bốn chục năm nay VN chỉ có xuất cảng sức lao động và ... phụ nữ! Lý do thứ hai là người TQ biết dân VN không có tinh thần đoàn kết thực sự, không thể ngồi lại với nhau để gầy dựng sức mạnh. VN là một tập hợp những làng xã nhỏ bé với những lề luật lỏng lẽo nhưng lại có hiệu lực hơn phép của nhà vua. Bởi thế cho nên mới có câu "Phép vua còn thua lệ làng", trai làng này lạng quạng đi ve gái làng bên cạnh còn bị oánh sặc gạch ra.

Lịch sử của VN ghi lại toàn những chuyện người VN đánh nhau tranh giành quyền lợi và ảnh hưởng từ những nhóm khác và phe thắng trận bao giờ cuối cùng cũng lon ton đi sang Tàu xin được triều cống và phong vương. Độc lập mà phải triều cống? Xin được phong vương mà gọi là tự do? Có phải chăng đã đến lúc chúng ta nên xem xét lại sự tự do và những "chiến thắng oanh liệt" đã được tuyên truyền từ bấy lâu nay? Nếu chỉ có đánh nhau mà oanh liệt thì em thấy Somalia mới là số một đấy.

Các bác không tin em cứ nhìn có phải lãnh đạo VN ngày hôm nay đi sang Tàu hà rầm, chụp hình tươi cười với các lãnh đạo bên đó thì biết. Em không cần phải nói thêm.

(trả lời: Mme Ngo)
Bài số: 119
RE: Đại Nạn Trung Hoa Thời Cổ Sử. - 11/25/2009 4:20:28 PM   
con ong


Bài: 1429
Từ: Home Depot
 Trung Quốc nhìn ra một nước man rợ, coi đàn bà như trâu chó, triều đình thì những bậc gọi là sĩ phu như đám ma cô bày trò thờ thiên tử, biến triều đình thành cái nhà Thổ, trăm, ngàn cung phị Đẻ ra con gái thì bóp mũi cho chết vì không đủ nuôi, dân thì năm nào cũng chết đói như dòị Có được một bà vua thì "cổ thư" nói trong cung nuôi mấy "thằng ngựa", chắc vì vậy nước tàu lắm ngựa và đười uơị Việt Nam qua Mỹ học đại học, đóng tiền thuế, giáo dục con cái làm người Việt có gì làm xấu hổ? trục lợi ở chỗ nàỏ Người Mỹ chẳng khuyến khích hội nhập nhưng nên giữ đặc thù của dân di cư mỗi quốc gia là gì ? ViỆt Nam có bao nhiêu tượng đài, bao nhiêu buổi lễ tạ ơn người Mỹ ? Có bao nhiêu người mở hay gia nhập những hội đoàn giúp người nghèo khó ở đây ? Đám ghẻ Tầu làm gì ở Việt Nam ? Nghĩ ai cũng như đám người dạ thú, lúc nào cũng chực đồng hóa nước khác, bị quân Nguyên, Mãn Thanh đánh như lũ chó cụp đuôi; qua ở nhờ người ta thờ phụng tổ tiên, Minh Huơng, Hội quán Quảng Đông đâu ai nói gì ?  Đã thế nước có thiên tai, thì đầu cơ tích trữ, ăn cắp sữa của cả trẻ con, gạo của người đói, đó mới là xấu hổ, thật nói ra xấu hổ cả giống chó. ViỆt Nam không có cả những cái đó. Còn truyện chính trị thời nay vì nó vi phạm không nói chuyện sau 1930 thì miễn bàn tới. Ngay cả những mục bêu riếu sử VN bằng những từ ngữ bẩn thỉu của một thằng tàu qua đây nhờ nước Mỹ cho người Việt lánh nạn, vì nước Việt có nội chiến, tôi thấy cũng nên xét lại sự hiện diện của những bài viết như vậy trong mục lịch sử, trong diễn đàn của người Việt. Mấy ngày nữa qua chỗ mới giữ chỗ mới cho sạch sẽ.

< Sửa đổi: con ong -- 11/25/2009 4:58:18 PM >



_____________________________

Em đã sống, em đã sống trong ân tình kẻ lạ
để mình anh, để mình anh trong thương nhớ không nguôi
Em bay đi bằng cánh bướm giữa đêm dài
bằng hương ngát cánh hoa thơm rồi nhạt phai

PD

(trả lời: Bắc Thần)
Bài số: 120
Trang:   <<   < phần trước  10 11 [12] 13 14   phần sau >   >>
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Lịch Sử (trước 1930) >> RE: Lý Thường Kiệt Trang: <<   < phần trước  10 11 [12] 13 14   phần sau >   >>
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết


Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 6-10/2009:
Mai Dang, Bao Cuong, vann, Tương Kính

Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh

Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.

Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode