Linh Tinh Phố Rùm Bài Viết Gia Chánh Lời Tình K Truyện Chọn Lọc Thơ Tình
Trở lại trang đầu
Đi Vào Phố Hồ Sơ Cá Nhân Thư Riêng (Private Message) Các Bài Đăng Từ Lần Cuối Bạn Vào Các Bài Đăng Ngày Hôm Nay Lịch Sinh Hoạt Ghi Danh Trở Thành Thành Viên của Phố Rùm Những Câu Hỏi Thường Gặp Danh Sách Các Thành Viên
Phố này chỉ để xem lại bài cũ, không còn đăng bài mới lên được. Xin mời các bạn qua thăm Phố Rùm mới .
Phòng ẢNH

Tìm hiểu về nhóm Tự Lực Văn Đoàn...

 
Xem những đề mục liên hệ: (trong diễn đàn này | trong mọi diễn đàn)

Tham gia dưới tên: Guest
  In Ra
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Phê Bình Văn Học Nghệ Thuật >> Tìm hiểu về nhóm Tự Lực Văn Đoàn... Trang: [1]
Tên login:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
Tìm hiểu về nhóm Tự Lực Văn Đoàn... - 9/5/2007 4:43:49 PM   
LeThu


Bài: 4963
Từ: Costa del sur el EUA
 






Tìm hiểu về nhóm Tự Lực Văn Đoàn (phần 1) 
 
2007.08.26
Mặc Lâm, phóng viên đài ACTD... ở đây!
 
Chương trình văn học nghệ thuật tuần này Mặc Lâm mời quý vị theo dõi một tin tức có liên quan đến Tự Lực Văn Đoàn nhân Bộ Văn Hóa Thông Tin Việt Nam có công văn chính thức yêu cầu tỉnh Hải Dương là nơi sinh quán của dòng họ Nguyễn Tường tập trung tư liệu hình ảnh và gia phả của những nhân vật có tên trong Tự Lực Văn Đoàn để thành lập những khu kỷ niệm.

Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này... theo ACTD, ở đây!
Tải xuống để nghe ...  hay ...  http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/08/26/vliterature082507p.mp3 

     
     
    Hình Xuân Diệu, Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ thời còn trong Tự Lực văn đoàn. Hình của wikipedia.
    >> Xem hình lớn hơn

     
    Những nhà văn như Nhất Linh, NguyễnTường Tam, Nguyễn Tường Lân tức nhà văn Thạch Lam và Nguyễn Tường Long tức Hoàng Đạo được chính thức yêu cầu tỉnh Hải Dương xem xét và tập trung tài liệu xác minh những thành quả mà các nhà văn này đạt được. Việc nhà nước Việt Nam chính thức có những hành động cụ thể nhằm khôi phục lại vị thế của TLVĐ cho thấy tầm quan trọng của văn đòan này như thế nào trong lịch sử văn học Việt Nam.
    Danh sách Tự Lực Văn Đoàn, theo nhà thơ Tú Mỡ công bố trên tạp chí Văn học số 5-6 năm 1938 và số 1 năm 1939, gồm có: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, Trần Tiêu và Xuân Diệu.
    Sau này còn có thêm những nhân vật tiếng tăm khác cộng tác chặt chẽ là nhà thơ Huy Cận, nhà báo Trọng Lang, nhà văn Thanh Tịnh, nhà thơ Đoàn Phú Tứ. Họa sĩ Nguyễn Gia Trí và Tô Ngọc Vân là hai người dùng tài vẽ của mình để đóng góp trong những trang báo của tờ Ngày Nay, được xuất bản sau khi tờ Phong Hóa đóng cửa vào năm 1936.
     
    Chủ trương thuần nhất
     
    Theo Linh Mục Thanh Lãng thì nhóm Tuần báo Phong Hoá, tức Tự Lực Văn Đoàn là một văn đoàn đầu tiên có chủ trương thuần nhất, liên tục, có tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm nhặt ràng buộc hội viên, có cơ quan ngôn luận riêng biệt, với mục tiêu đã được chỉ định minh bạch, có chương trình hoạt động được nghiên cứu kỹ lưỡng và được phân công rất thích đáng với tài năng của mỗi hội viên.
    Tự Lực Văn Đoàn đã khai chiến quyết liệt với lực lượng khối cựu học, hay ít ra bị coi là cựu học ngay từ những bước đầu tiên.
     
    Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái. Tôn trọng tự do cá nhân. Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa. Đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam.
    Tôn chỉ” của Tự lực văn đoàn
    Hầu hết các nhà văn tên tuổi của thế hệ trước đều bị báo Phong Hoá chế diễu. Thành phần của TLVĐ cấp tiến, tuy ít, nhưng thuần nhất, tự đặt mình vào những kỷ luật chung, có sự kiểm soát chặt chẽ ; đàng khác, họ toàn là người mới, trẻ, thường xuất thân từ các trường Đại Học, hay Cao Đẳng ở trong nước hay ngoại quốc. Đó là các ông Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ...
    “Tôn chỉ” của Tự lực văn đoàn được công bố trên báo Phong Hóa số 101 ngày 8 tháng 6 năm 1934 gồm 10 điểm, đúc kết lại trong nội dung " Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái. Tôn trọng tự do cá nhân. Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa. Đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam."
    Lãnh đạo TLVĐ là Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Ông là một nhà văn xuất chúng, lại là một nhà cách mạng lỗi lạc chống thực dân và chống Cộng Sản, sinh năm 1905, là người con thứ ba trong một gia đình 7 người, trong đó có Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Tường Cẩm bị Việt Minh thủ tiêu năm 1947, Nguyễn Tường Long tức Hoàng Đạo, mất năm 1948 tại Quảng Đông, Nguyễn Thị Thế mất tại Mỹ. Nguyễn Tường Lân, tức Thạch Lam mất năm 1942, và người con út là Nguyễn Tường Bách hiện đang sống tại Trung Quốc.
    Năm 1932, cùng một số anh em, Nguyễn Tường Tam tức nhà văn Nhất Linh sáng lập tờ báo Phong Hóa có thể gọi là mở một thời kỳ mới trong văn học. Cùng với số nhà văn tài hoa, Nhất Linh thành lập Tự Lực Văn Đoàn, đánh dấu sự phồn thịnh văn học. Năm 1935, tờ Ngày Nay được xuất bản. Tháng 12 năm 1936, trên báo Ngày Nay, Nhất Linh phát động phong trào Ánh Sáng cùng nhóm Tự Lực Văn Đoàn, xây dựng nhà rẻ tiền cho người nghèo, chống lại các nhà ổ chuột ở các khu lao động.
    Năm 1938, cùng với một số bạn hữu, Nhất Linh thành lập đảng Đại Việt Dân Chính. Năm 1941, do Pháp khủng bố, ông phải chạy sang Trung Quốc, kết hợp với Việt Nam Quốc Dân Đảng, và hợp tác với cụ Nguyễn Hải Thần. Năm 1945, tháng 11, ông trở về Hà Nội, tổ chức hàng ngũ quốc gia chống lại Việt Minh. Tháng 2 năm 46, ông giữ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến. Nhưng từ tháng 4-1946, ông lại sang Trung Quốc, lưu vong một lần nữa.
    Năm 1947, vì phản đối việc thoả hiệp với Pháp, ông ở lại HongKong cho tới 1951, vì sức khoẻ yếu, ông về nước, với dự tính chỉ hoạt động về văn học. Nhưng tới 1959, ông lại tham dự Mặt Trận Quốc Dân Đoàn Kết, chủ trương chống độc tài, xây dựng tự do dân chủ.
     
    Nhiều tác phẩm nổi tiếng
     
    Song song với các hoạt động chính trị, Nhất Linh được biết đến nhiều qua các tác phẩm nổi tiếng mà cho tới nay vẫn được yêu chuộng vì văn phong, tính cách và khuynh hướng cũng như chủ đề mới mẻ của chúng.
    Nổi bật nhất trong các tiểu thuyết của Nhất Linh có thể kể: Người quay tơ, 1926 Gánh Hàng Hoa, viết chung với Khái Hưng, 1934 Nắng Thu, 1934 Đi Tây, 1935 Lạnh Lùng, 1935-1936 Hai buổi chiều vàng, 1934-1937 Thế Rồi một buổi chiều, 1934-1937 Đôi Bạn, 1936-1937 Bướm Trắng, 1938-1939 Xóm Cầu Mới, 1949-1957 Viết và Đọc tiểu thuyết, 1952-1961 và cuối cùng là tác phẩm Giòng Sông Thanh Thủy, 1960-1961
     
    Nếu sự kiện đó là thật thì tôi nghĩ cũng không ngạc nhiên. Tôi nghĩ rằng dần dà rồi thì những hiện tượng trong lịch sử văn học mà nó có giá trị thật thì cuối cùng cũng sẽ được thừa nhận và theo tôi hiện nay trong nhiều địa phương cũng đang cố gắng tìm kiếm xem trong cái lịch sử xa hoặc gần những hiện tượng văn học văn hóa hay danh nhân để xây dựng nó lên để trở thành nội dung du lịch văn hóa cho nên nếu Hải Dương làm thì tôi nghĩ cũng rất hoan nghênh thôi.
    Nhà phê bình lý luận Lại Nguyên Ân
    Những dòng tiểu sử của nhà văn Nhất Linh cho thấy ông là người không khoan nhượng với độc tài, thực dân và suốt cuộc đời ông chừng như chỉ biết tranh đấu cho những người cùng khổ, nghèo hèn.
    Qua các hoạt động văn học lấy ngôn ngữ làm vũ khí khai mở những con đường mà ông và nhóm TLVĐ cho là đứng đắn và cần thiết, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã lừng lẫy trong vai trò tiên phong xử dụng thành công quyền tự do ngôn luận làm vũ khí tranh đấu cho sự tồn vong của văn hóa dân tộc.
     
    Ý kiến của những người trong và ngoài nước
     
    Qua quyết định công nhận TLVĐ của Bộ Văn Hóa và Thông Tin vùa nói, chúng tôi ghi nhận những ý kiến trong và ngoài nước của nhiều người khác nhau nhưng cùng sinh hoạt trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Nhà phê bình lý luận Lại Nguyên Ân cho biết cảm tưởng của ông về việc này như sau:
    “Nếu sự kiện đó là thật thì tôi nghĩ cũng không ngạc nhiên. Tôi nghĩ rằng dần dà rồi thì những hiện tượng trong lịch sử văn học mà nó có giá trị thật thì cuối cùng cũng sẽ được thừa nhận và theo tôi hiện nay trong nhiều địa phương cũng đang cố gắng tìm kiếm xem trong cái lịch sử xa hoặc gần những hiện tượng văn học văn hóa hay danh nhân để xây dựng nó lên để trở thành nội dung du lịch văn hóa cho nên nếu Hải Dương làm thì tôi nghĩ cũng rất hoan nghênh thôi.”
    Còn bà Nguyễn thị Vinh, một thành viên cuối cùng của TLVĐ trong thời gian sau này thì cho biết: “Theo tôi thì vai trò chính trị và văn hóa luôn luôn mỗi một địa hạt một khác, còn những người làm chính trị mà lấn át văn hóa thì có một thời như thế. Có một thời người ta không nhận TLVĐ họ đem chính trị xen lẫn vào văn hóa bây giờ thì họ nhìn nhận thì tôi nghĩ cũng không lạ gì.”
    Ông Cù Huy Hà Vũ, con ruột của nhà thơ Huy Cận và cũng là cháu của thành viên thứ tám của TLVĐ là nhà thơ Xuân Diệu cho biết:
    “Theo quan điểm của tôi mà thực tế cũng là quan điểm của nhà thơ Huy Cận, cha tôi và kể cả nhà thơ Xuân Diệu trước khi mất thì theo các vị đó thì TLVĐ luôn luôn đóng một vai trò có thể nói là rất quan trọng nếu không muốn nói là quan trọng nhất trong việc cổ xúy nềnvăn chương hiện đại Việt Nam.
    Bởi văn đoàn này đã được thành lập từ đầu những năm 30 và trong nhiều bài viết tôi đã khẳng định đây là hội nhà văn đầu tiên của Việt Nam. Không những chỉ đơn thuần văn chương mà TLVĐ còn đóng góp rất quan trọng trong việc hội nhập Việt Nam với văn hóa phương tây.”
     
    Ý kiến của tôi đầu tiên là tôi rất hoan nghênh đối với việc này. Tôi nghĩ rằng cái việc đánh giá và ghi công đối với TLVĐ đáng lý đã được nhà nước Việt Nam thực hiện từ lâu rồi nhưng dù sao thì muộn vẫn còn hơn không. Đây là một khởi đầu tốt nếu quả là trên thực tế họ đứng đắn và quyết tâm làm công việc này.
    Nhà văn Nguyễn Tường Thiết
    Và cuối cùng là người có liên quan mật thiết nhất với nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đó là nhà văn Nguyễn Tường Thiết hiện sống tại tiểu bang Washington cho biết những suy nghĩ của ông sau đây:
    “Ý kiến của tôi đầu tiên là tôi rất hoan nghênh đối với việc này. Tôi nghĩ rằng cái việc đánh giá và ghi công đối với TLVĐ đáng lý đã được nhà nước Việt Nam thực hiện từ lâu rồi nhưng dù sao thì muộn vẫn còn hơn không. Đây là một khởi đầu tốt nếu quả là trên thực tế họ đứng đắn và quyết tâm làm công việc này.
    Bây giờ chúng ta cứ chờ xem họ có làm như họ nói không. Tôi có một số ý kiến về vấn đề nêu trên. Thứ nhất công việc đầu tiên của nhà nước họ nói là sẽ thu thập tài liệu về TLVĐ để căn cứ vào đó đánh giá TLVĐ. Vấn đề là, đó là những tài liệu nào? Liệu những tài liệ hay tư liệu ấy có trung thực hay không? Hay những tài liệu được viết bởi nghững người đã nhìn TLVĐ dưới nhãn quan của người cộng sản?
    Một ý kiến nữa là trong mấy năm gần đây ở trong nước người ta hay nới tới việc đánh giá lại và phục hồi giá trị của TLVĐ. Tôi thiết nghĩ họ dùng những tiếng như phục hồi là sai vì tôi nghĩ giá trị của nhóm văn chươngnày đối với lịch sử văn học nước nhà là một điều hết sức hiển nhiên. Giá trị TLVĐ là một giá trị tự tại, bất chấp dưới bất cứ một thể chế chính trị nào và không bao giờ TLVĐ cần phục hồi giá trị.
    Hơn nữa nhà nước Việt Nam đã sai lầm khi phủ nhận TLVĐ khiến cho việc nói tới TLVĐ đã thành húy kỵ trong một thời gian rất lâu nguyên nhân vì những người trụ cột đã đi theo con đường chống lại họ. Một ý kiến nữa của tôi là việc ghi công TLVĐ phải được thực hiện bằng tất cả thành tâm của nhà cầm quyền Việt Nam.”
    Chúng tôi xin lấy lời phát biểu của Giáo sư Văn Tạo hiện sống và làm việc trong nước để kết luận phần 1 của bài viết về TLVĐ kỳ này, và mời quý vị theo dõi tiếp những kỳ sau viết về nhà văn Thạch Lam, Hoàng Đạo và Khái Hưng trong những tuần lễ sắp tới.
    “Tuy các tác giả trong Tự lực văn đoàn mang ý thức hệ tư sản và lập trường cải lương tư sản nên ở một số tác phẩm không tránh khỏi những hạn chế nhất định, nhưng nhìn chung sáng tác của họ từ 1932 đến 1939 mang nhiều phẩm chất cách tân, nhiều giá trị ưu việt so với văn chương nhà Nho trước đó.
    Về mặt nội dung tư tưởng, các tác phẩm của Tự lực văn đoàn thấm đượm tinh thần nhân văn, tinh thần chống lễ giáo phong kiến, chống các hủ tục.
    Cùng với ý thức đả kích những kẻ xu phụ thực dân, châm biếm thói hư tật xấu trong xã hội là tinh thần cảm thông với những nỗi khổ cực, sự lam lũ bần cùng của người lao động; tinh thần đề cao tự do cá nhân, giải phóng phụ nữ, hướng theo những tư tưởng nhân đạo, bình đẳng, bác ái của thời kỳ Mặt trận Dân chủ”.

     
     
     
     
     
     
     
    2 nhà văn Nhất Linh và Khái Hưng của nhóm Tự Lực Văn Đoàn 
     
    2007.09.02
    Mặc Lâm, phóng viên đài ACTD... ở đây!
     
    Chương trình Văn Học Nghệ Thuật tuần này Mặc Lâm mời quý vị theo dõi tiếp những hoạt động trong sáng tác của hai nhà văn lừng lẫy thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn là Nhất Linh và Khái Hưng.


    Bấm vào đây để nghe tiết mục này... theo ACTD, ở đây!
    Tải xuống để nghe ...  hay ...  http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/02/vliterature090107p.mp3  


       
      Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam Hình của wikipedia.
       
      Những tác phẩm của hai nhà văn này cho tới nay, sau bao thăng trầm biến đổi của lịch sử vẫn lóng lánh như những hạt ngọc trong Văn Học Sử Việt Nam. Chương trình hôm nay có sự góp tiếng của Lê Dân, Nhã Trân, và Nam Nguyên, mời quý vị theo dõi.
       
      Nhà văn Nhất Linh
       
      Tiểu sử nhà văn Nhất Linh cho thấy ông là người không khoan nhượng với độc tài, thực dân và suốt cuộc đời nhà văn chừng như chỉ biết tranh đấu cho những người cùng khổ, nghèo hèn. Qua các hoạt động văn học lấy ngôn ngữ làm vũ khí khai mở những con đường mà ông và nhóm TLVĐ cho là đứng đắn và cần thiết, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã lừng lẫy trong vai trò tiên phong xử dụng thành công quyền tự do ngôn luận làm vũ khí tranh đấu cho sự tồn vong của văn hóa dân tộc.
      Người dân Việt biết nhiều đến ông qua những tác phẩm một thời từng là kim chỉ nam cho nhiều nhà văn Việt Nam trong lĩnh vực sáng tác. Những ngày đầu khai sinh chữ quốc ngữ, Nhất Linh đã lãnh đạo một nhóm nhà văn có nhiệt huyết với nền văn hóa dân tộc, sử dụng ngòi bút của họ như vũ khí nhằm trong sáng hóa tiếng Việt lúc phôi thai.
      Tác phẩm đầu tiên được Nhất Linh viết vào năm 1924 là Nho Phong, sau đó lần lượt những tác phẩm bất hủ khác ra đời cho thấy khả năng sáng tác của ông thật dẻo dai và hơn nữa, bất cứ tác phẩm nào Nhất Linh cũng thành công trong mục đích đem những khuynh hướng cách tân vào đời sống người dân quê lẫn trí thức Việt Nam thời ấy.
      Tập truyện ngắn đầu tiên "Anh Phải Sống" viết chung với Khái Hưng vào năm 1932 đã gây một tiếng vang lớn, mô tả những cảnh sống cùng khốn của người dân quê Việt Nam đang cố gắng tranh đấu vô vọng với cái nghèo túng kinh niên mà không lối thoát.
       
      Đây là tác phẩm sau cùng của nhà văn Nhất Linh viết trong hai tháng kể từ ngày 28 tháng 11 năm 1960 toàn bộ viết về thời kỳ cách mạng Việt Nam thời kỳ năm 1944-45 ở Trung Hoa. Đây là thời kỳ mà hoạt động chính trị của Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng ở vào thế phải diệt nhau bằng những phươgn tiện tàn bạo nhất.
      Nhà văn Nguyễn Tường Thiết
      Những mảnh đời bất hạnh ngược xuôi, những tình cảm vợ chồng quê vượt lên nghèo đói để nuôi con đã như một tiếng chuông, lần đầu tiên cảnh tỉnh xã hội Việt Nam lưu ý đến những vất vả quanh mình mà trước đó hầu như không ai để ý.
      Kỹ thuật sử dụng Việt ngữ tinh khôi và chắt lọc được nhà văn Nhất Linh mang vào tiểu thuyết, một thể loại rất mới mẻ trong thời gian này đã mở ra một khuynh hướng sáng tác mới mà trước đó nho giáo phong kiến không chấp nhận trong đời sống Việt Nam.
      Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn trên và trước hết nhằm truyền tư tưởng chống đối nho phong hủ bại mà suốt hàng ngàn năm đã nhúng xã hội Việt Nam vào u mê tăm tối. Tầm ảnh hưởng của những tiểu thuyết này ăn sâu vào nhiều tầng lớp thị dân, lan dần đến cả những vùng quê qua lời đồn truyền khẩu. Nhất Linh đã nhanh chóng thu hút được giới thanh niên trí thức bằng những tác phẩm như Đọan Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn...
      Những tác phẩm tiểu thuyết viết chung với Khái Hưng trước đó tuy chưa ăn sâu vào quần chúng bởi đề tài cũng như văn phong như Gánh Hàng Hoa, Đời Mưa Gió hay Nắng Thu nhưng cho đến khi tiểu thuyết Đoạn Tuyệt ra đời thì tuyên ngôn chống lại cái thủ cựu phong kiến của ông đã mạnh mẽ lan tỏa trong giới tiếu tư sản, và từ đó mỗi ngày một khuếch tán trong nhiều tầng lớp thanh niên trí thức.
      Giới này nhận ra rằng những khung cảnh mà họ sống bấy lâu ràng buộc tâm hồn họ một cách vô lý và bất công đến nỗi tư tưởng và ý thức xã hội của họ không thể nào thoát ra khỏi lũy tre làng kiên cố hàng ngàn năm qua.
       
      Mới lạ và mạnh mẽ
       
      Trong một đoạn sau đây sẽ phần nào nói lên cái mới lạ và mạnh mẽ trong tác phẩm Đoạn Tuyệt đã ảnh hưởng giới trẻ như thế nào trong không gian của một vùng quê miền Bắc của thập niên 30:
      “Loan bị cha mẹ ép phải lấy Thân, một người bạn học thuở nhỏ của nàng, con một nhà giàu ở ấp Thái Hà. Việc này nàng thấy cha mẹ nói từ hồi nàng mới để tóc. Hai nhà trong mười năm trời nay vẫn đi lại thân mật, hai bên cha mẹ đã định ước cho Thân và Loan lấy nhau.
      Loan vẫn nhất quyết không chịu không phải là Loan chê gì Thân, vì Thân đối với nàng chỉ là một người quen, nàng không yêu mà cũng không ghét. Nhà Thân lại giàu, Loan chắc chắn rằng khi về nhà chồng, sẽ được sung sướng, an nhàn. Nhưng chỉ vì Loan càng ngày càng thấy cái tình của mình đối với Dũng không phải chỉ là cái tình bạn bè như trước kia.
       
      Truyện ngắn "Anh Phải Sống" có lẽ đã đưa Khái Hưng lên ngôi vị tột đỉnh của văn học Việt Nam trong thập niên 30. Tính nhân bản trong tác phẩm ngắn ngủi này đã khiến không biết bao nhiêu học sinh của nhiều thế hệ sau rơi lệ khi học qua Tự Lực Văn Đoàn trong chương trình Văn Học Sử.
       
      Nàng yêu Dũng và cái hy vọng của nàng lúc đó là được làm vợ Dũng. Tuy định bụng không chịu lấy Thân, nhưng nàng cũng hằng lo lắng, vì nàng biết cha mẹ nàng đã quả quyết về việc đó. Nếu nàng cưỡng tất có sự rắc rối trong gia đình.”
      Sau khi gặp Dũng một thanh niên có tâm huyết muốn dấn thân vào đời sương gió tranh đấu cho dân tộc Loan đã bị hình ảnh của Dũng thuyết phục trong những giây phút đầu tiên khi hai người gặp nhau:
      “Loan thoáng nghĩ đến hai cảnh đời trái ngược nhau: một cảnh đời yên tịnh ngày nọ trôi theo ngày kia như dòng sông êm đềm chảy, nhẫn nại sống trong sự phục tùng cổ lệ như mọi người con gái khác và một cảnh đời rộn rịp, khoáng đạt, siêu thoát ra hẳn ngoài lề lối thường.
      Loan nhìn Dũng, ngắm nghía vẻ mặt cương quyết, rắn rỏi của bạn, nghĩ thầm:
      - Học thức mình không kém gì Dũng, sao lại không thể như Dũng, sống một đời tự lập, cường tráng, can chi cứ quanh quẩn trong vòng gia đình, yếu ớt sống một đời nương dựa vào người khác để quanh năm phải kình kịch với những sự cổ hủ mà học thức của mình bắt mình ghét bỏ. Mình phải tạo ra một hoàn cảnh hợp với quan niệm mới của mình.”
      Tác phẩm cuối cùng trong cuộc đời nhà văn Nhất Linh là tiểu thuyết trường thiên Giòng Sông Thanh Thủy, viết xong năm 1961. Đây là tác phẩm có tính cách kể lại lịch sử qua những suy ngẫm mà một thời nhà văn đã kinh qua. Những chi tiết đôi khi làm người này người khác phật ý nhưng cuối cùng vẫn chuyển tải được những biến cố mà nhà văn chứng kiến.
      Nhà văn Nguyễn Tường Thiết nói về quyển trường thiên này của cha mình như sau:
      “Đây là một tác phẩm mà nhà văn đã chuyển tải những chính trị và tư tưởng trong tác phẩm cuối cùng này. Giòng Sông Thanh Thủy là một cuốn trường giang tiểu thuyết gồm ba tập: Ba người Bộ Hành, Chi Bộ Hai Người và Vọng Quốc.
      Đây là tác phẩm sau cùng của nhà văn Nhất Linh viết trong hai tháng kể từ ngày 28 tháng 11 năm 1960 toàn bộ viết về thời kỳ cách mạng Việt Nam thời kỳ năm 1944-45 ở Trung Hoa. Đây là thời kỳ mà hoạt động chính trị của Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng ở vào thế phải diệt nhau bằng những phươgn tiện tàn bạo nhất.

       
      Nhà văn Khái Hưng, Hình của Wikipedia.

      Một trong những lời của chính Nhất Linh đã viết vào mùng một Tết năm Quý Tỵ tức là ngày 14 tháng 2 năm 1953 trong một tờ chúc thư văn học viết rằng:
      "Trong lúc ngoảnh mặt về quá khứ kiểm điểm lại công việc mình đã làm tôi thấy rõ ràng công việc tốt đẹp lâu bền và có ích nhất của đời tôi là sự thành lập được Tự Lực Văn Đoàn và những công việc sáng tác.”
       
      Nhà văn Khái Hưng 
       
      Cùng với Nhất Linh, một người vừa là bạn văn vừa là đồng chí, hơn nhà văn Nhất Linh 9 tuổi và được văn giới đặt cho danh hiệu là Nhị Linh đó là nhà văn Khái Hưng. Ông là một trong bốn trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn và tác phẩm của ông có số lượng ngang ngửa với nhà văn Nhất Linh trong một thời gian dài cho tới khi ông bị thủ tiêu vào năm 1947 gần ga Cửa Gà, Xuân Trường tỉnh Nam Định.
      Tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng là Hồn Bướm Mơ Tiên được viết năm 1933 là tiểu thuyết đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn. Tiểu thuyết cuối cùng của ông là Thanh Đức viết vào năm 1943 cũng là tiểu thuyết cuối cùng của nhóm.
      Giống như các tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn khác, tác phẩm của Khái Hưng đề cao tình yêu tự do của thời đại mới, mạnh mẽ chống lại các lễ giáo phong kiến, và cố gắng mang tính cải cách xã hội vào tác phẩm để lôi kéo thanh niên trí thức nhập cuộc chống lại phong kiến thực dân.
      Giống như Nhất Linh, Khái Hưng cũng tham gia hoạt động chính trị. Do tham gia Đảng Đại Việt Dân Chính nên Khái Hưng từng bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam.
      Truyện ngắn "Anh Phải Sống" có lẽ đã đưa Khái Hưng lên ngôi vị tột đỉnh của văn học Việt Nam trong thập niên 30. Tính nhân bản trong tác phẩm ngắn ngủi này đã khiến không biết bao nhiêu học sinh của nhiều thế hệ sau rơi lệ khi học qua Tự Lực Văn Đoàn trong chương trình Văn Học Sử.
      Hình ảnh một gia đình nghèo đi kiếm sống bằng cách mót củi trên sông, gặp nước xoáy đắm thuyền và cuối cùng thì người vợ hy sinh bản thân để người chồng trở về với con thơ đã thức tỉnh lương tri không biết bao nhiêu người. Tác phẩm như một chiếc đèn bão soi rọi vào những ngày tháng tối tăm của xã hội Việt Nam trong tranh tối tranh sáng của những ngày cuối cùng của phong kiến.
       
      Thật sự ra trong một lần tôi về Việt Nam tôi có hỏi nhà thơ Huy Cận về việc này thì ông nói rằng có hai trường hợp có thể xảy ra theo nhận xét của ông ấy là trong lúc Khái Hưng bị bộ đội Việt Minh dẫn đi thì máy bay Pháp thả bom giết chết hết cả Khái Hưng lẫn bộ đội.
      Nhà văn Nguyễn Tường Thiết
      Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi. Cố chống lại với sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô khi chìm, khi ẩn khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son.
      Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng. Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi. Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ, thì trời đổ mưa... Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở.
      Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu. Hai người cố bơi, nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi...
      Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc:
      - Giời ôi!
      Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp...
      Chồng hỏi vợ:
      - Mình liệu bơi được đến bờ không?
      Vợ quả quyết:
      - Được!
      - Theo dòng nước mà bơi... Gối lên sóng!
      - Được! Mặc em!
      Mưa vẫn to, sấm chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi:
      - Thế nào?
      - Được! Mặc em!
      Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh nàng lại mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ, một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu:
      - Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi! Tôi không xốc nổi được mình nữa.
      Mấy phút sau chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh tay rã rời. Vợ khẽ hỏi:
      - Có bơi được nữa không?
      - Không biết. Nhưng một mình thì chắc được.
      - Em buông ra cho mình vào nhé?
      Chồng cười:
      - Không! Cùng chết cả.
      Một lát, một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày, chồng lại hỏi:
      - Lạc ơi! Liệu có cố bơi được nữa không?
      - Không!... Sao?
      - Không. Thôi đành chết cả đôi.
      Bỗng Lạc run run khẽ nói:
      - Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!... Không!... Anh phải sống!
      Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để chìm xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ.
      ooOoo
      Đèn điện sáng rực suốt bờ sông. Gió đã im, sóng đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỏ đứng bên cạnh. Đó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hy sinh vì lòng thương con.
      Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm chảy xuôi dòng. 

       
      Cái chết với nhiều dấu hỏi
       
      Văn tài của Khái Hưng không may tắt sớm trên nền trời văn học Việt Nam. Cái chết của ông đã để lại nhiều dấu hỏi cho những nhà nghiên cứu và cho đến nay vẫn chưa ngã ngũ. Nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con ruột của nhà văn Nhất Linh cho biết một cách dè dặt về vấn đề này như sau:
      -Thật sự ra trong một lần tôi về Việt Nam tôi có hỏi nhà thơ Huy Cận về việc này thì ông nói rằng có hai trường hợp có thể xảy ra theo nhận xét của ông ấy là trong lúc Khái Hưng bị bộ đội Việt Minh dẫn đi thì máy bay Pháp thả bom giết chết hết cả Khái Hưng lẫn bộ đội.
      Ý kiến thứ hai là chuyện này do sự lầm lẫn của một nhân viên cấp địa phương họ không biết lý lịch Khái Hưng và họ đã giết lầm người.
      Quý vị vừa theo dõi phần hai của loạt bài viết về Tự Lực Văn Đoàn. Mặc Lâm xin mời quý vị tíêp tục theo dõi phần kế tiếp nói về hai nhân vật khác là Hoàng Đạo và Thạch Lam sẽ được phát thanh vào kỳ tới cũng trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật thường lệ

       
       
       
       
      Các tin, bài liên quan


      Tìm hiểu về nhóm Tự Lực Văn Đoàn (phần 1)
      Phỏng vấn nhà thơ Viên Linh về giải thưởng do báo Khởi Hành khởi xướng
      Nói chuyện cùng nhà văn Trần thị NgH
      Nói chuyện với họa sĩ Trịnh Cung về đề tài hội họa Việt Nam hiện nay
      Điêu khắc gia trẻ Ưu Đàm nói về sự liên hệ hỗ tương giữa người sáng tác và giới thưởng thức
      Lễ hội đời sống dân gian do viện bảo tàng di sản văn hóa Smithsonian tổ chức
      Sách mới về Việt Nam thời giao chiến
      Nhà văn nữ Lý Lan, một cây viết có sức sáng tác đa dạng (phần 2)
      Nhà văn nữ Lý Lan, một cây viết có sức sáng tác đa dạng (phần 1)











        PBVH... theo LT... 

        LT... các bài đã được đăng ở đây!  











        < Sửa đổi: LeThu -- 9/5/2007 4:56:26 PM >
        Bài số: 1
        Tìm hiểu về nhóm Tự Lực Văn Đoàn... tt - 9/10/2007 12:38:39 PM   
        LeThu


        Bài: 4963
        Từ: Costa del sur el EUA
         








        Nhà văn Hoàng Đạo và Thạch Lam của Tự Lực Văn Đoàn 
         
        2007.09.09
        Mặc Lâm, phóng viên đài ACTD... ở đây! 
         
        Chương trình Văn Học Nghệ Thuật tuần này Mặc Lâm tiếp tục mời quý thính giả theo dõi phần 3 trong loạt bài viết về Tự Lực Văn Đoàn. Trong phần này chúng tôi xin giới thiệu hai nhà văn Hoàng Đạo và Thạch Lam, hai trong số 4 nhân vật cột trụ của Tự Lực Văn Đoàn của những ngày đầu thành lập. Chương trình hôm nay có sự góp tiếng của Thy Nga và Nhã Trân, mời quý vị theo dõi.

        Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này... theo ACTD, ở đây!
        Tải xuống để nghe ...  hay ...  http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/09/vliterature090807p.mp3 
         
        Bút ký Hà Nội Băm Sáu Phố Phường của Thạch Lam
         
        Nhà văn Hoàng Đạo
         
        Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, là em ruột nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Ông sinh năm 1906 tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
        Năm 1930, Hoàng Đạo vào học Trường Luật Hà Nội, thi đỗ cử nhân Luật khoa, ông được bổ làm tham tá lục sự ở tòa án Đà Nẵng, rồi sau đổi ra Hà Nội, nhưng vẫn tích cực hoạt động cho nghề văn.
        Từ năm 1932, ông cộng tác cùng anh là Nhất Linh, với các ông Khái Hưng, Thế Lữ, Tú Mỡ viết báo Phong Hóa, lấy tên là Tứ Ly. Trong khi Hòang đạo là giờ tốt nhất trong ngày thì Tứ Ly lại là giờ xấu nhất. Sự chọn lựa hai bút hiệu trái ngược nhau cho thấy tính cách rắn rõi của nhà văn.
        Năm 1937, tờ Phong Hóa bị đình bản chỉ vì 1 bài phóng sự đặc sắc của Hoàng Đạo về Hoàng Trọng Phu. Từ 1937 trở đi, Hoàng Đạo lần lượt cho ra đời những bài về xã hội, kinh tế, chính trị rất có giá trị, tính cách chống phong kiến và đế quốc rất cao như: Trước Vành Móng Ngựa, Mười Điều Tâm Niệm, Bùn Lầy Nước Đọng, Vấn Đề Thuộc Địa, Vấn Đề Cần Lao...
         
        Trên tờ Ngày Nay, trong mục Trước vành móng ngựa, Hoàng Đạo đã ghi lại những tình cảnh bi hài của dân nghèo trước toà tiểu hình Hà Nội. Là một người tốt nghiệp ngành Luật, Hoàng Đạo lại không tin hệ thống tòa án của thực dân. Ông đả phá lề thói quan liêu hiếp bức của bọn quan lại qua những bài viết sắc sảo đã gây tiếng vang rất lớn trong dư luận thời bấy giờ.
        Năm 1939, Hoàng Đạo cho đăng tiểu thuyết Con Đường Sáng, là 1 truyện dài ông đã cùng viết chung với Nhất Linh.
        Tháng 8/1948, Hoàng Đạo chẳng may bị đứt mạch máu chết trên chuyến xe lửa từ Hongkong đi Quảng Châu, khi xe ngang qua trấn Thạch Long, hưởng dương 42 tuổi.
        Nhà phê bình văn học Thụy Khuê rất sắc sảo trong những trang viết về Hoàng Đạo.Trước tiên theo bà tác phẩm Con đường sáng nằm trong bối cảnh xã hội miền Bắc, dưới cái nhìn Tự Lực Văn Đoàn, trong lập trường đấu tranh xã hội của Hoàng Đạo: tức là dùng tiểu thuyết luận đề để cải cách xã hội và thay đổi con người. Với một chủ đề rõ ràng như thế, tác phẩm rất dễ rơi vào vòng luân lý giáo khoa thư.
        Nhưng Hoàng Đạo đã thoát ra được và ông đã hoàn thành một tác phẩm nghệ thuật. Theo bà Thụy Khuê, Truyện Con đưòng sáng có cấu trúc gần như tầm thường của một truyện kể cổ điển, nhưng tác phẩm bật ra hai góc cạnh bất ngờ: Yếu tố đầu tiên "cứu" Duy, (nhân vật chánh) là thiên nhiên, là những bông lúa dưới nắng. Những bông lúa cong và những lá lúa trong như màu hổ phách đã cứu chàng trong chặng đầu của nhận thức. Yếu tố sau cùng giúp chàng thoát ly khỏi tình trạng tha hoá (không phải là dân quê như nhiều người lầm tưỏng) mà là chữ nghiã, sách vở, là nghệ thuật.
        Vì vậy Con đưòng sáng thoát ra khỏi sự xoàng xĩnh chân chất của một cuốn tiểu thuyết lý tưởng, nhờ những yếu tố bất ngờ này: Duy không hề hy sinh cho một lý tưởng đã sắp đặt sẵn, Duy chỉ là người đi tìm lẽ sống.
        Nhìn lại những gì mà Hoàng Đạo để lại ngày hôm nay, nhà phê bình văn học Thụy Khuê cho rằng những điều Hoàng Đạo viết là viết cho tức khắc, về những chuyện đang xẩy ra trước mắt, phải giải quyết ngay ngày hôm nay. Ông không nghĩ đến tác phẩm để đời. Ông cũng không có thì giờ nghĩ đến cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ, khi đất nước và dân tộc ông đang cần những bài xã luận nảy lửa: Khi học sinh, sinh viên cần một cẩm nang, cần một "thánh kinh" với những khẩu hiệu, ông viết Mười điều tâm niệm.
        Khi dân chúng nghèo đói, thất học, là nạn nhân của những phiên toà không có luật sư biện hộ, ông phanh phui những cảnh khôi hài bi đát Trước vành móng ngựa. Khi toàn thể dân quê sống trong cảnh tối tăm, dưới một hệ thống xã hội bất công đầy áp búc, ông tố cáo, ông đề nghị sửa đổi cơ chế gây ra cảnh Bùn lầy nước đọng. Và khi tranh đấu bằng ngòi bút, không đem lại kết quả mong muốn tức thời, thì, như Sartre đã nói rất đúng: nhà văn phải cầm súng: Hoàng Đạo cầm súng và Hoàng Đạo tranh đấu đến hơi thở cuối cùng.
        Hoàng Đạo là mô hình của mẫu người trí thức dấn thân hiện đại. Ở ông là tính hiện đại triệt để theo mới hoàn toàn theo mới không chút do dự.
        Trong 41 năm ngắn ngủi của cuộc sống, Hoàng Đạo khi cầm bút, khi cầm súng, tranh đấu đến chết. Nhà chính trị có những mềm yếu, những lúc chán nản ê chề, muốn quyên sinh, muốn bỏ tất cả, cho sa ngã, cho bùn lầy, và có lúc trở thành nhà thơ trong Con đường sáng, trong Tiếng đàn. Tác phẩm văn học đối với Hoàng Đạo chỉ là chỗ nghỉ chân của người "anh hùng" ngã ngựa. Tác phẩm văn học bộc lộ tâm hồn một thi nhân không có thì giờ dành cho chữ nghĩa, phản ảnh một khiá cạnh khác của con người Hoàng Đạo mà bản tuyên ngôn Mười điều tâm niệm chỉ là bề mặt của một nội tâm cô độc đớn đau.
         
        Nhà văn Thạch Lam
         
        Trong 4 nhân vật cột trụ của Tự Lực Văn Đoàn người được xem là hiền lành nhất là nhà văn Thạch Lam.
        Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường Lân. Quê nội làng Cẩm Phô, Hội An, Quảng Nam. Quê ngoại Cẩm Giàng, Hải Dương. Thuở nhỏ, Thạch Lam sống với gia đình ở quê ngoại, sau đó theo cha chuyển sang Thái Bình tiếp tục bậc tiểu học. Lớn lên, ông cùng gia đình chuyển ra Hà Nội, học trường Canh nông, rồi trường Trung học Albert Sarraut.
        Thạch Lam bắt đầu hoạt động văn học từ năm 1932, thành viên của Tự lực văn đoàn. Ông tham gia biên tập các tờ tuần báo Phong hóa, Ngày nay. Thạch Lam mất vì bệnh lao năm 1942 tại Hà Nội. Các tập truyện ngắn Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942), tiểu thuyết Ngày mới (1939), tập tiểu luận Theo dòng (1941), tập bút ký Hà Nội băm sáu phố phường (1943).
        Trong mười năm ngắn ngủi tham gia vào công việc văn chương, Thạch Lam chú ý đến những hình ảnh thơ mộng, đẹp ngấm ngầm của xã hội Việt Nam. Nếu Gió Đầu Mùa nói về nông thôn thì Hà Nội Băm Sáu Phố Phường đã mang Thạch Lam lên một vị trí quan trọng của Văn học Việt khi viết về Hà Nội.
        Tập bút ký này diễn tả những nét văn hóa của Hà Nội mà dưới mắt nhà văn, nét đẹp cổ xưa hòa quyện với đời sống người dân thị tứ đã tạo cho Hà Nội trở thành một thành phố không thể nào hòa lẫn. Ba mươi sáu phố phường của Hà Nội dưới ngòi bút Thạch Lam trở nên sinh động và có tiếng nói riêng trên từng khu phố.
        Thạch Lam không phải là người Hà Nội nhưng những rung động của ông đối với nơi này thật mạnh mẽ và sâu lắng, thiếu những yếu tố này, chắc chắn chúng ta sẽ không có được một tác phẩm mà theo nhiều nhà phê bình văn học đều cho rằng đây là hạt ngọc của nền văn học Việt Nam hiện đại.
        Trong tác phẩm Hà Nội Băm Sáu Phố Phường, bằng cảm quan nghệ thuật tinh tế, Thạch Lam sớm nhận ra nét đẹp hoàn mĩ và giá trị thực của các di sản văn hoá của Hồ Gươm, Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn. Không phải là người hoài cổ nhưng Thạch Lam trân trọng công trình văn hóa của người trước và ông như một người giữ chùa cần mẫn, thu vén từng chiếc lá rơi để chánh điện luôn giữ được vẻ trang nghiêm u tịch.
        Chúng ta hãy nghe một đoạn ngắn trong bút ký Hà Nội Băm Sáu Phố Phường:
         
        Nhìn lại những gì mà Hoàng Đạo để lại ngày hôm nay, nhà phê bình văn học Thụy Khuê cho rằng những điều Hoàng Đạo viết là viết cho tức khắc, về những chuyện đang xẩy ra trước mắt, phải giải quyết ngay ngày hôm nay. Ông không nghĩ đến tác phẩm để đời. Ông cũng không có thì giờ nghĩ đến cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ, khi đất nước và dân tộc ông đang cần những bài xã luận nảy lửa: Khi học sinh, sinh viên cần một cẩm nang, cần một "thánh kinh" với những khẩu hiệu, ông viết
        Mười điều tâm niệm.
         
        “Ngày trước, ở trước cửa phủ toàn quyền, còn có một nhóm tường mà người ta đã phá đi rồi, cách đây đâu mười năm gì đó. Nhóm tường đó trông xa giống như mâm xôi; ở đỉnh có những hình thù gì, tôi không nhớ, nhưng ở phía dưới, có tượng hai người đàn bà nằm choài ra như bơi, tóc buông xõa và lẩn mình vào thành bể. Hai người đàn bà đó người ta bảo là hình dung hai con sông Nhị Hà và Mêkông.
        Chúng ta tưởng tượng phong cảnh hồ Hoàn Kiếm với cái mâm xôi bằng đá lù lù ấy. May thay không biết có ai phản đối, người ta bỏ cái dự định ấy, và đem nhóm tường dựng ở trước cửa phủ Toàn quyền, để rồi sau đó ít lâu phá đi.
        Sự phản đối ít lợi ấy có lẽ là công việc của ủy ban coi về vẻ đẹp của thành phố hẳn?
        Sau đó ít lâu, một dạo, ngay bên cổng của đền Ngọc Sơn, chúng ta được trông thấy đứng sừng sững và thẳng tấp một cái cột dây điện chằng chịt và cả đèn điện với những cái "bình tích" bằng sứ trắng, khiến cho cái cột sắt sơn hắc ín đó như một thứ cây già mọi rợ vụng về. Cái cây đó làm cho vẻ đẹp của cổng đền Ngọc Sơn giảm mất đến chín phần mười.
        Nhưng lại may thay, cũng cách sau ít lâu, cái cột đó không còn nữa. Công việc của ủy ban kia chắc thôi.
        Sau đó ít lâu nữa, cảnh đền Ngọc Sơn lại chịu phải một sự thêm thắt xấu xa khác.
        Có lẽ theo lời yêu cầu của những ai trông nom cái đền đó, người ta đã cho bắc suốt từ ngoài cổng, qua đầu, vào đến trong đền, những vòng sắt nền, có những đường uốn lượn ngoằn ngoèo, cũng sơn hắc ín, và để mắc đèn.
        Mắc đèn cho sáng, cho tiện những người đi lễ đền. Một ý tốt, rất tốt. Nhưng sao lại phải trả bằng một cách bôi nhọ vẻ đẹp của đền thế? Muốn sáng cổng và sáng cầu thì thiếu gì cách: mắc đèn vào những chỗ lõm khuất khúc của cổng và của cầu: đèn để như thế vừa được kín đáo, vừa không làm giảm vẻ đẹp, không kể cái lối ánh sáng đập lại ấy dịu dàng và làm tôn cảnh đền hơn lên.
        Đằng này, mắc những võng sắt với cánh hoa hoét rẻ tiền kia vào cái cổng đẹp đẽ có lối kiến trúc riêng, có vẻ cổ sơ ấy, thực là một cách đập phá mỹ thuật tai hại không gì bằng.
        Cho cả đến ba chữ "Ngọc Sơn Tự" bằng sắt dán trên một tấm lưới cũng sắt, và có hoa lá cũng sắt nốt, cả cái biển ấy cũng chướng mắt không kém.
        Những thanh sắt ấy ở đó cũng khá lâu rồi thì phải, mà chưa thấy cái ủy ban nào đó nếu ủy ban ấy có làm việc gì cả. Việc thì rất giản dị: nghĩa là bỏ những cái đó là xong."
        Hơn nửa thế kỷ trước, Thạch Lam đã cảnh báo mạnh mẽ những người có trách nhiệm trong việc gìn giữ di sản văn hóa và cảnh quan của Hà Nội qua tác phẩm Hà Nội Băm Sáu Phố Phường, và ngày nay những cảnh báo này tỏ ra vẫn còn hiệu nghiệm.
        Tuy không dấn thân mạnh mẽ như hai anh bằng những tiểu thuyết nghị luận, Thạch Lam vẫn không thể chịu nổi những cảnh đời nghèo khó khốn cùng của làng quê miền Bắc thời bấy giờ. Những dòng tả chân đặc sắc cảnh đời của Nhà Mẹ Lê trong tác phẩm Gió Đầu Mùa đã làm văn học Việt Nam đậm nét quyến rũ qua một văn phong gợi cảm:
        Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay dăn deo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: Mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi, đứa bé nhất hãy còn phải bế trên tay.
        Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, một căn nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi.
        Nhưng còn cách kiếm ăn. Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mượn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà.
        Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng kia đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống ra dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ; vì không ai mượn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hi mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn.
        Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm để mong lấy cái hơi ấm của mình ấp ủ cho nó. Thằng con nhớn nhất thì từ sáng đã cùng thằng Ba ra cánh đồng kiếm con cua con ốc, hay sau mùa gặt, đi mót những bông lúa còn sót lại trong khe ruộng.
        Thật là sung sướng, nếu chúng mang về được một lượm, trong những ngày may mắn. Vội vàng, bác Lê đẩy con ra vơ lấy bó lúa, đem để xuống dưới chân vò nát, vét hột thóc, giã lấy gạo. Rồi là một bữa cơm nóng lúc buổi tối giá rét mẹ con ngồi xúm quanh nồi cơm bốc hơi, trong khi bên ngoài gió lạnh rít qua mái tranh.”
        Trở lại việc gần đây Bộ Thông Tin Văn Hóa đề nghị tỉnh Hải Dương tập trung tư liệu của Tự Lực Văn Đòan nhằm đánh giá lại những đóng góp của họ trong văn học Việt Nam, chúng tôi hỏi chuyện ông Nguyễn Tường Giang là con của nhà văn Thạch Lam hiện đang sinh sống tại Mỹ chung quanh việc nhà văn là người duy nhất được Hà Nội cho phép đặt tên đường tại Cẩm Giàng, Hải Dương. Ông Giang cho biết

         
         
         
        Các tin, bài liên quan
         

        2 nhà văn Nhất Linh và Khái Hưng của nhóm Tự Lực Văn Đoàn
        Tìm hiểu về nhóm Tự Lực Văn Đoàn (phần 1)
        Phỏng vấn nhà thơ Viên Linh về giải thưởng do báo Khởi Hành khởi xướng
        Nói chuyện cùng nhà văn Trần thị NgH
        Nói chuyện với họa sĩ Trịnh Cung về đề tài hội họa Việt Nam hiện nay
        Điêu khắc gia trẻ Ưu Đàm nói về sự liên hệ hỗ tương giữa người sáng tác và giới thưởng thức
        Lễ hội đời sống dân gian do viện bảo tàng di sản văn hóa Smithsonian tổ chức
        Sách mới về Việt Nam thời giao chiến
        Nhà văn nữ Lý Lan, một cây viết có sức sáng tác đa dạng (phần 2)
        Nhà văn nữ Lý Lan, một cây viết có sức sáng tác đa dạng (phần 1)





          PBVH... theo LT... 

          LT... các bài đã được đăng ở đây!  






          172173 










          (trả lời: LeThu)
          Bài số: 2
          RE: Tìm hiểu về nhóm Tự Lực Văn Đoàn... - 9/18/2007 4:05:18 PM   
          tvmt

           

          Bài: 2562
          Chương trình hay và bổ ích quá, cám ơn bác LT rất nhiều! 

          (trả lời: LeThu)
          Bài số: 3
          Trang:   [1]
          Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Phê Bình Văn Học Nghệ Thuật >> Tìm hiểu về nhóm Tự Lực Văn Đoàn... Trang: [1]
          Chuyển tới:





          Bài Mới Không có Bài Mới
          Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
          Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
           Đăng Đề Mục Mới
           Trả Lời
           Trưng Cầu
           ý Kiến của Bạn
           Xóa bài của mình
           Xóa đề mục của mình
           Đánh Giá Bài Viết


          Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 6-10/2009:
          Mai Dang, Bao Cuong, vann, Tương Kính

          Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh

          Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.

          Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode