Linh Tinh Phố Rùm Bài Viết Gia Chánh Lời Tình K Truyện Chọn Lọc Thơ Tình
Trở lại trang đầu
Đi Vào Phố Hồ Sơ Cá Nhân Thư Riêng (Private Message) Các Bài Đăng Từ Lần Cuối Bạn Vào Các Bài Đăng Ngày Hôm Nay Lịch Sinh Hoạt Ghi Danh Trở Thành Thành Viên của Phố Rùm Những Câu Hỏi Thường Gặp Danh Sách Các Thành Viên
Phố này chỉ để xem lại bài cũ, không còn đăng bài mới lên được. Xin mời các bạn qua thăm Phố Rùm mới .
Phòng ẢNH

Trung Quốc : Vạn Lý Trường Chinh

 
Xem những đề mục liên hệ: (trong diễn đàn này | trong mọi diễn đàn)

Tham gia dưới tên: Guest
  In Ra
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Nhân Văn >> Trung Quốc : Vạn Lý Trường Chinh Trang: [1] 2 3 4 5   phần sau >   >>
Tên login:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
Trung Quốc : Vạn Lý Trường Chinh - 5/27/2006 6:33:03 AM   
hoanghac

 

Bài: 4418
Trung Quốc: Thách thức lịch sử chính thống 









Cuộc Vạn lý Trường chinh do Mao Trạch Đông chỉ huy đang bị đặt câu hỏi
Cuộc hành quân mang tên 'Vạn lý Trường chinh' từ lâu được xem là một trong những huyền thoại anh dũng nhất trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc.Năm 1934, Hồng quân Trung Quốc, với khoảng 200.000 người mở đường máu rút khỏi căn cứ ở phía nam, và bị quân đội của Tưởng Giới Thạch rượt đuổi.
Từ đây, quân đội của Mao Trạch Đông bắt đầu cuộc Trường chinh được gọi là vô tiền khoáng hậu: một cuộc thoái lui dài hàng ngàn dặm, từ Giang Tây và Phúc Kiến, tiến về phía tây tới Tây Tạng rồi đi ngược lên phía bắc, tới tận Diên An của tỉnh Thiểm Tây.
Chỉ còn 40.000 quân sống sót để từ đó mở lại cuộc cách mạng và đánh bại Tưởng Giới Thạch năm 1949.
Lật lại huyền thoại
Sau 70 năm, một cô gái Trung Quốc, Sun Shuyun, nghĩ ra ý tưởng đi lại cuộc Vạn lý Trường chinh năm xưa. Có lẽ cô là phụ nữ Trung Quốc đầu tiên làm như vậy, với một năm hành trình và nói chuyện với 40 cựu chiến binh còn sống sót.
Những tâm sự của những người này rất khác với phiên bản chính thức lâu nay - "sốc là một từ còn quá yếu ớt để mô tả phản ứng của tôi" - Sun Shuyun viết như thế khi nhận ra những lời nói dối cô từng chấp nhận khi là sinh viên ở Bắc Kinh.
Cô được dạy rằng nhân dân hăng hái đi theo Hồng quân. Nhưng nay cô được kể về việc bắt lính, bắt cóc, bắt con tin và đòi tiền chuộc. Số lượng quân giảm sút nặng nề không phải vì thương vong, mà vì đào ngũ.
Khi Sun Shuyun hỏi một cựu binh của cuộc Trường chinh, nay là một viên tướng, rằng Chủ nghĩa Cộng sản có ý nghĩa gì với ông, ông ta trả lời: "Cô nói cho tôi nghe với. Trước đây và bây giờ tôi cũng không biết. Tôi e cả Mao khi ấy cũng không biết câu trả lời."
Những trang lịch sử do Sun Shuyun viết ra, đã được NXB HarperCollins phát hành ấn bản tiếng Anh năm nay với tựa đề "The Long March", nhưng không được in ở Trung Quốc.
Giống như nhiều tác phẩm gần đây, Sun Shuyun dựa vào nhiều tài liệu không có ở trong nước - một nhật ký của một nhà truyền giáo Tin Lành, Rudolph Bosshardt, là ví dụ. Ông Bosshardt đã hành quân cùng Hồng quân trong 560 ngày trước khi bị bắt cóc và bị đòi khoản tiền chuộc 10.000 đôla.








Một số người nói giới trẻ Trung Quốc còn thiếu hiểu biết về lịch sử đất nước
Nhiều vụ bắt cóc là do chính Hồng quân tạo ra, một điều khiến Shuyun bị sốc. Cuốn sách của cô cho thấy nông dân không muốn gia nhập Hồng quân, phụ nữ bị buộc sinh con và bỏ con lại.
Tác giả nói người Trung Quốc không bao giờ biết nguyên nhân thật của cuộc Trường chinh, một phần vì ba cuộc thanh trừng của Mao đối với 10.000 người khiến người dân địa phương không tin tưởng và ghét Hồng quân. Những người cộng sản đã buộc phải rời căn cứ ở Giang Tây.
Khi buộc phải tháo chạy, Hồng quân liên tục bị quân của Tưởng Giới Thạch truy đuổi, và rồi lại thả ra.
Gao Wangling, sử gia ở Đại học Nhân dân, nói thẳng: "Đa số các sử gia nghiêm túc ngày nay hiểu rằng Tưởng Giới Thạch khi ấy có thể nghiền nát người cộng sản, nhưng đã để cho họ sống như món hàng mặc cả với Moscow."
Những nghiên cứu mới
Bản thân Gao Wangling có một nghiên cứu, "Về Phản hành vi của nông dân Trung Hoa." Nghiên cứu đi ngược lịch sử chính thống khi nói nông dân đã giết các địa chủ dưới lệnh của đảng.
Hồi đầu thập niên 1970, lịch sử ở Trung Quốc được viết theo quan điểm "đấu tranh giai cấp", và rằng 4000 năm lịch sử đã tiến hóa để đi đến giai đoạn thắng lợi của Đảng Cộng sản.
Nhưng hôm nay, "lịch sử xã hội" trong đời sống nông dân lại được chú tâm. Nhiều học giả ở ngay Trung Quốc xem lại diễn trình cải cách ruộng đất một cách độc lập so với kết luận của đảng.
Tại một đất nước nơi lịch sử và tuyên truyền gắn bó với nhau, nhiều vấn đề nhạy cảm lâu nay ít được nhắc đến.
Năm nay đánh dấu 40 năm bắt đầu Cách mạng Văn hóa, sự kiện thảm khốc trong lịch sử Trung Quốc thế kỷ 20. Nhưng truyền thông lờ đi sự kiện này, và nhà nước hy vọng bi kịch rồi sẽ mờ đi trong ký ức dân tộc.
Li Datong, người bị cách chức chủ bút tạp chí Băng Điểm vì đăng một tiểu luận phê phán xu hướng đề cao tinh thần chống ngoại xâm, nói: "Chúng tôi vẫn chưa chấp nhận sự thật. Khi bắt đầu đặt câu hỏi, thì ai biết được nó sẽ dẫn tới đâu? Anh đặt câu hỏi về nhà Thanh, Trung Hoa hiện đại, lịch sử đảng, Cách mạng Văn hóa, 1989...rất nhiều câu hỏi còn đó."
Một số chuyên gia nói việc có hiểu biết không đầy đủ về quá khứ sẽ không tốt cho Trung Quốc.
Đa số các nghiên cứu lịch sử mang tính phê phán đều được thực hiện ở bên ngoài Trung Quốc. Tuy nhiên, gần đây, một số người bên trong Trung Quốc bắt đầu đưa ra các cái nhìn khác.
Một số người hỏi chuyện các nhân chứng về những sự kiện như Đại Nhảy Vọt, nạn đói thập niên 1950 mà một số bảo rằng có thể 30 triệu người đã chết.


Trích từ BBC

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2006/05/060525_chinahistory_rethinking.shtml
Bài số: 1
RE: Trung Quốc : Vạn Lý Trường Chinh - 6/2/2006 5:46:54 AM   
hoanghac

 

Bài: 4418
Trích từ Viet Bao
 
Trung Cộng Khủng Bố VN Bằng Các Đập Thủy Điện


Mường Giang

- Trong tuần, Cao Guangjing, phó giám đốc quản lý công trình thủy điện của Hoa Lục, đã tuyên bố với báo chí trong và ngoài nước, rằng Trung Cộng sắp hoàn thành Đập Thủy Điện Tam Hiệp, lớn nhất thế giới, trên sông Dương Tử và hãnh diện xác nhận: Đây là một kỳ quan cũng như biểu tượng kinh tế của Tàu, trong thế kỷ XXI.

Có điều lạ trong lần khoe tốt này, là chính đương sự cũng không dám khẳng định, công dụng của đập thủy điện này tốt xấu thế nào, mà nói phải chờ tới những ba chục năm sau, hay đúng hơn phải coi nó có thể ngăn chống được sự tàn phá hằng năm của lũ lụt thường trực trên sông Dương Tử. Lúc đó mới có thể kết luận.

Câu chuyện làm cho người ta nhớ lại Vạn Lý Trường Thành, xưa nay ai cũng nói do Tần Thủy Hoàng xây dựng trước Thiên Chúa giáng sinh, từ lâu được đanh giá là một công trình kiến trúc vĩ đại, chẳng những của nước Tàu, mà còn là của nhân loại. Tuy nhiên huyền thoại này, vào năm 1969 đã bị đánh đổ, bởi Arthur Waldron, giáo sư khảo cổ tại Trung tâm nghiên cứu về Đông Á, thuộc Trường Đại học Harvard (Hoa Kỳ).

Trong tác phẩm ' The great wall of China', trình bày những nghiên cứu lịch sử và khảo cổ tại chổ sau nhiều năm đi khắp nước Tàu, cuối cùng tác giả đã khẳng định rằng Vạn Lý Trường Thành, đã tồn tại suốt bao chục thế kỷ qua, thực chất chỉ là huyền thoại. Theo ông, từ năm 700 trước Tây lịch tới nay, khắp nước Tàu đã có rất nhiều thành lũy được xây dựng rãi rác mọi nơi, mọi thời. Nên câu chuyện bức tường thành được kiến trúc duy nhất thời nhà Tần, là không đúng sự thật. Để chứng minh, tác giả dựa vào lịch sử Trung Hoa, từ thời nhà Hán cho tới thế kỷ thứ XIII, khi Nhà Nam Tống bị quân Mông Cổ xâm lăng và tiêu diệt, cho thấy Tàu lúc đó không hề có một bức tường thành nào cả, nên đã không thể ngăn cản được vó ngựa trường chinh của Thành Các Tư Hản ở phương Bắc. Ngoài ra ông còn dựa vào các tác phẩm văn chương cổ điển của Trung Hoa qua bao thời dại, xác nhận các văn nhân lúc đó, chẳng hề xử dụng tới danh từ nào đồng nghĩa với 'The great wall', mà Tây phương chỉ mới dùng sau này.

Ngay đến tài liệu phòng thủ của nhà Minh (1368-1644), cũng không hề nhắc tới Vạn Lý Trường Thành. Mãi đến nửa thế kỷ thứ XVI, trước nguy cơ đe dọa của các dân tộc du mục phuơng Bắc như Mãn, Mông, Tạng..đã làm cho các Hoàng đế cuối cùng của nhà Minh, mới nghĩ tới việc xây dựng Trường Thành, mục đích phân biệt ranh giới địa lý và nhân vân của Trung Nguyên với các dân tộc trên.

Đó chính là hình ảnh mà người Tây phương đầu tiên đã mang tới cho thế giới bên ngoài, hồi thế kỷ XVIII và phổ biến tới ngày nay. Còn huyền thoại về Vạn Lý Trường Thành do Tần Thủy Hoàng xây dựng, theo Waldron cũng không phải phát xuất từ sách vở của người Tàu, mà được Mao Tôn Cương, hồi thế kỷ XIX do các nhà thám hiểm và khảo cổ Châu Âu. Riêng nhũng ghi chú về Trường Thành, trên bản đồ mà Bắc Kinh phổ biến hiện nay, cũng là sản phẩm của các Giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa, thuộc Dòng Tên, vào thời Nhà Thanh (1644-1912). Tóm lại, theo các nhà nghiên cứu trong hội nghị quốc tế vừa được tổ chức tại Bắc Kinh, thì Vạn Lý Trường Thành, phần lớn được xây dựng từ thời Nhà Minh. Còn quan niệm cho rằng nhửng thành lũy thời Chiến Quốc, được nhà Tần nối lại với nhau, thành bức Trường Thành, ngày nay kể cả người Tàu vẫn nghi ngờ về phương diện khảo cổ, còn các sử gia thì nói đây là sự giả định, vì không có tài liệu nào minh chứng.

Nhưng đó là chuyện của nước Tàu, nó chỉ liên quan đến chúng ta, là liệu đập thủy điện Tam Hiệp trên sông Dương Tử, có ảnh hưởng gì tới những đập thủy điện khác, mà Trung Cộng đã xây dựng trên thượng nguồn của sông MeKong và Hồng Hà, trong tỉnh Vân Nam, trước khi chảy vào lãnh thổ nước ta, được đánh giá như là một sự khủng bố trắng trợn, đối với vận mệnh của Dân tộc VN. Đây là nguy cơ trước mắt, được cả thế giới thấy rõ, cho dù Đảng VC đang đô hộ cả nước, vì sợ Tàu, nên đã cố tình bưng bít nội vụ.

Từ ngày lập quốc đến nay, trải qua mấy ngàn năm văn hiến, dân tộc Việt Nam vẫn cha truyền con nối, chọn tương lai, chẳng những nơi ruộng đồng, mà còn trên sông nước biển khơi, do trên sử sách thế giới mới khen tặng người nước ta giỏi thủy tánh và bơi lội như rái cá. Trong dòng năm tháng giữ nước, các đia danh Như Nguyệt, Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử,Vàm Cỏ, Lô Giang ..và mới nhất là Hoàng Sa ngoài khơi Đông Hải, đã là mộ địa chôn xác giặc thù xâm lăng, ngàn đời không phai nhòa chiến sử.

Hai mươi năm Miền Nam dươi chế độ Cộng Hoà (1955-1975), các vị nguyên thủ Quốc Gia, từ Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm tới Nguyễn Văn Thiệu, cũng đã hướng về biển Đông để dự trù kế hoạch phát triển kinh tế, trong đó có việc khai thác dầu hỏa-khí đốt và xây dựng các nhà máy lọc dầu. Tiếc thay, Cọng sản Bắc Việt xâm lăng, đã thiêu rụi tất cả tương lai của Dân Tộc, khiến cho VN ở thế kỷ XXI vẫn không ngẩng mặt được, để tự nhìn trồi đất thênh thang như bao người, càng nghĩ càng thảm thê tận tuyệt.

Biển VN ngày nay theo qui ước quốc tế, ngoài 3300 cây số chạy dài từ Móng Cáy tới Hà Tiên, còn có một thềm lục địa rộng trên 2 triệu cây số vuông với 4000 hải đảo lớn bé, chứa nhiều thủy sản, khoáng chất, dầu lửa và khí đốt. Tiếc thay cọng sản quốc tế vì quyền lợi của đảng, từ năm 1958 tới nay đã manh tâm bán nhượng quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa và nhiều phần biển quý trong vịnh Bắc Việt cho kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng.

Mới đây, Hà Nội lại ký nhiều hiệp ước bất bình đẳng với Tàu, công khai đồng thuận để giặc bắn giết đồng bào ngư phủ ngay trên biển đảo yêu quý của quê hương mình. Ngày nay, VN đã nghèo khổ lại càng khốn đốn hơn vì diện tích canh tác càng ngày càng bị giới hạn bởi thiên tai, nguồn tưới và nạn nhân mãn trầm trọng, với 5,2 triệu ha ruộng, phải nuôi hơn 80 triệu người, nên bình quân 0,16 ha dành cho 1 nông dân, nếu theo quy định của Liên Hiệp Quốc, thì quá thấp, dù theo cái loa tuyên truyền thì VN hiện nay là nước đứng thứ ba (sau Thái Lan, An Độ) sản xuất gạo. Nói chung, gạo thặng dư bán ra ngoài chỉ là vấn đề thời gian, cho nên dù muốn hay không, thức ăn và tương lai của dân tộc cũng vẫn là trên các sông ngòi biển sóng.

Bao chục năm qua, người Việt trong và ngoài nước đã căm thù đến tận xương tuỷ, trước những sự việc Trung Cộng xâm lăng cưởng chiếm lảnh thổ của chúng ta. Nhưng đó cũng chỉ là một trong ngàn muôn nổi buồn của thân phận nhược tiểu VN, trong biển máu lệ nước mắt thống hận trùng hằng. Bởi vì cùng lúc, giặc Tàu còn gây ra nhiều cuộc khủng bố khác, mà tàn khốc nhất là đang xử dụng những đập thủy điện trên các dòng sông phat nguyên trên đất Tàu, chảy vào VN, như một thứ vũ khí môi sinh chiến lược, liên hệ tới sự sống còn của dân tộc.

Ai có thể ngăn được sự phẫn uất, trước lời tuyên bố xấc xược và ngạo mạn của Wang Xiaodong, chuyên viên nghiên cứu của Trung Cộng, về việc khai thác sông Mekong 'Đây là đất nước Tàu, nên muốn làm gì cũng được, ai dám ngăn cản'.

Mới đây báo chí tại Trung Cộng đã đồng loạt đăng tải sự lên tiếng của các chuyên gia môi trường tại Hoa Lục, trong đó có Giáo sư Đại học về môn đia chất là Yuan Aiguo. Theo họ thì tình trạng ô nhiễm đang xãy ra trên sông Dương Tử rất nguy kich, ngoài việc gây bệnh ung thư vì nước uống, dòng sông có thể chết trong 5 năm sắp tới, do việc đổ xuống đây tất cả các loại rác rưởi, trong đó có hóa chất độc hại và cả xác tàu thuyền bị chìm. Hiện 80% nguồn nước ngọt của Thượng Hải là do sông Dương Tử cung ứng (80% thiếu vệ sinh và có chứa hoá chất). Dù Tàu Cộng cố bưng bít nhưng thảm trạng cũng đã bị phanh phui trên dòng sông Tùng Hoa.

Xem như vậy làm sao các dòng sông thiêng của VN như Hồng Hà, Đà Giang, Lô Giang và quan trọng nhất là sông Cưu Long, đều phát xuất từ bên Tàu, chảy qua tỉnh Vân Nam, trước khi vào lãnh thổ chúng ta, chắc chắn cũng đang mang chung số phận của sông Dương Tử. Có điều chừng nào VC mới dám công khai lên tiếng phản đối Tàu và thông báo tình trạng ô nhiểm nguy kịch chết người, để đồng bào cả nước biết.

1- ĐẬP THỦY ĐIỆN: VŨ KHÍ MÔI SINH CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG CỘNG.

Giang Nam là tên gọi của lưu vực hạ nguồn sông Dương Tử, do nhà Thanh (1644-1912) đặt ra, gồm các tỉnh Giang Tây,Giang Tô và Triết Giang. Miền này thời Đường, Tống được gọi là Giang Châu, nguyên là đất đai của Bách Việt (Ngô Việt, Mân Việt, Âu Việt và Lạc Việt..), thủ công tinh xảo, dân trí thanh lịch, non nước hữu tình.

Sông Dương Tử còn có tên là Trường Giang, đứng thứ ba trên thế giới sau sông Amazone (Nam Mỹ) và sông Nil (Đông Phi), có chiều dài 6380km, phát nguyên tại vùng rừng núi Thanh Hải (Tây Tạng), từ trên độ cao 6600m, chảy qua phía tây Tứ Xuyên, xuống phía bắc Vân Nam, rồi đổi hướng chảy ngược lên phía đông Tỉnh Tứ Xuyên , ngang qua các tỉnh Hồ Bắ, An Huy, Giang Tô và ra Biển Đông tại Hoàng Hải. Nếu tính luôn các phụ lưu, chi nhánh chằng chịt khắp miền Hoa Trung, thì chiều dài của sông Dương Tử lên tới 80.000 km, với hơn 12 triệu dân, gồm 55 sắc tộc, sinh sống ở hai bên bờ sông với đủ nghề.

Trên thượng nguồn, sông Dương Tử có 3 khe núi lớn gồm 25 thác đổ, nhiều nơi nước chảy xiết nhất là vào mùa mưa, khiến cho các ghe thuyền xuôi ngược dễ bị chìm vì đá ngầm. Đó là hẽm Kingtanxia dài 5km, hẽm Wuxia dài 25km và hẽm Xilingxia dài 47km, tuy ngày nay đã được nạo vét nhưng tàu qua lại vẫn phải có hoa tiêu hướng dẫn để tránh nguy hiểm.

Lưu vực sông Dương Tử hiện nay có hơn 400 triệu người sinh sống. Ngoài ra vùng này còn có 5 hồ lớn, thường đước nhắc nhớ trong các tác phẩm thơ văn của Trung Hoa. Phân Dương Hồ, chứa nước ngọt, rộng tới 5000 km2, nằm trong tỉnh Giang Tây, gần thành phố Vũ Hán. Động Đình Hồ có các sông Tiêu và Tương đổ nưóc vào và thông với Trường Giang qua sông Hán. Hồ nằm phía tây tỉnh Hồ Nam,nổi tiếng với Nhạc Dương Lầu, măng tre Thần Châu và quít ngọt Động Đình Hồng. Thái Hồ chứa nước mặn nằm giữa hai tỉnh Giang Tô và Giang Tây. Sào Hồ và Tây Hồ.

+ ĐẬP THỦY ĐIỆN TAM HIỆP TRÊN SÔNG DƯƠNG TỬ:

Tháng 12-1994, Trung Cộng chính thức khởi công xây dựng Đập Thủy Điện Tam Hiệp (Three Gorges Dam), trên khúc sông Dương Tử, chảy trong tỉnh Hồ Bắc, vừa để khống chế nạn lụt hàng năm, đồng thời xây dựng một nhà máy thủy điện với công suất tổng cộng lên tới 12.000 MW. Để thực hiện công trình trên, đảng cộng sản đã đuổi hơn 1,5 triệu người dân bản địa, đồng thời làm xáo trộn sinh hoạt của 20 thành phố lớn nhỏ trong vùng.

Tam Hiệp, địa điểm được chọn để xây dựng đập thủy điện, là tên một khúc sông Dương Tử dài hơn 200km, từ phía tây tỉnh Tứ Xuyên, chảy qua phía đông tỉnh Hồ Bắc, được coi như điểm nối của vùng thung lũng Tứ Xuyên với các đồng bằng miền Hoa-Trung, phía dưới hạ nguồn. Khúc sông này chảy qua ba hẽm núi lớn và 25 thác đổ. Theo nhận xét của nhiều bậc thức giả trong và ngoài nước, thì dự án Đập Thủy Điện Tam Hiệp tuy đã được manh nha từ thời Dân Quốc, do Tôn Dật Tiên đề xướng. Nhưng bị các hội bảo vệ môi trường sinh thái địa cầu chống đối, vì nó sẽ hủy diệt vĩnh viễn cãnh quan thiên nhiên trong vùng, đồng thời xóa tên 140 thành phố lớn nhỏ, 4500 làng mạc, 30.000 ha đất trồng trọt, hằng ngàn di tích lịch sử và tiêu phí một ngân khoản khổng lồ, mà không chắc đạt được kết quả mong muốn.

Với nước Tàu, từ trước tới nay sông Dương Tử là nguồn nước tưới cho cả khu vực đồng bằng Hoa Trung, miền đất cá và gạo, chiếm nửa tổng sản lượng của cả nước. Nhưng đồng thời sông Dương Tử cũng là tai ương ngàn năm của Hán Tộc, riêng trong thế kỷ XX lụt lội đã gây cho hơn 300.000 dân chúng trong vùng thiệt mạng. Giống như sông Mekong, sông Dương Tử cũng phát xuất từ Tây Tạng, chảy qua khu vực Tam Hiệp, trước khi vào thành phố Trùng Khánh, được coi như lớn nhất hiện nay tại Hoa Lục.

Từ nhiều lý do, trong đó quan trong nhất cũng vẫn là mục tiêu chính trị, khiến cho Bắc Kinh đã nhắm mắt lao vào một công trình rất tốn kém về tiền bạc, sức người lẫn thời gian, gây ảnh hưởng nặng nề đến vấn đề tâm lý, khi đàn áp đuổi dân, phá hoại các công trình kiến trúc bao đời trong vùng. Thực hiện được đập thủy điện này, về quốc tế Trung Cộng sẽ hãnh diện có thêm một kỳ quan, sau Vạn Lý Trường Thành. Về kinh tế, Đảng Cộng Sản nuôi hy vọng, nhờ nó giúp mức phát triển 11% hàng năm qua nguồn cung cấp điện cho công nghệ và sinh hoạt.

Đây là một cái đập khổng lồ, kinh phí dự chi tốn khoảng 30 tỷ đô la, thực hiện trong 14 năm. Chiều cao của dập 607 bộ, chiếm một diện tích hơn 1 dặm vuông, bao gồm một hồ chứa nước dài 370 dặm và một hệ thống khóa đặc biệt: Hút nước từ các nguồn nước khác khi thiều, cũng như xã nước vào mùa lụt, vừa giúp sự giao thông trên sông Dương Tử, đồng thời vét vơ nước từ các con sông khác, qua hệ thống kênh đào, để tưới cho các vùng đất khô hạn xa xôi ở phía tây.

So với các đập thủy điện khác trên thế giới, dập Tam Hiệp không cao và rộng hơn nhưng lại trội nhiều về sức mạnh, với 26 Turbin mà trọng lượng mỗi chiếc 400 tấn/1 chiếc, sẽ tạo ra 18.200 magawatt điện, công suất tương đương với 18 nhà máy điện nguyên tử. Đập này mạnh hơn các đập Itapu (giữa Brazil và Paraguy có công suất 12.600 megawatt ), dập Guri ở Venezuela có 10.300 megawatt, dập Grand Coulee ở Colorado của Mỹ có 6809 megawatt và đập Sayano Shushensk ở Nga với 6400 megawatt.

Theo nhận xét của thế giới, Trung Cộng đã tốn hết 75 tỷ mỹ kim cho công trình vĩ đại này (chứ không phải 19 tỷ như tuyên bố của đảng). Vì mục tiêu chính trị, Trung Cộng không cần biết tới tính khả thi và hiệu quả kinh tế của dự án, hầu như đều bị sự phê bình chỉ trích của các nhà đầu tư và tài chính quốc tế. Bởi thế nên không làm lạ khi nghe Phó giám đốc xây dựng đập là Cao Guangjing, nói rằng muốn biết đập có hoàn hảo hay không, phải đợi tới 30 năm sau mới thấy được.

Chưa hết, Trung Cộng còn cho biết sau khi hoàn tất đập Tam Hiệp vào năm 2008, Đảng lại tiếp tục xây thêm 10 đập khác trên thượng nguồn sông Dương Tử, nối tiếp vùng Tam Hiệp. Điều lo lắng nhất của người Tàu hiện nay, là làm thế nào để có thể giảm nhanh chóng một biển nước khổng lồ, luôn được chứa trong hồ với độ cao từ 512-574 ft, khi mùa mưa tới. Thãm kich về đập thủy điện Banqiao ở Hồ Nam, vào năm 1975 mưa nhiều vở đê kéo theo sự sụp đổ của cả một hệ thống đập chung quanh, gây lụt lội làm chết hơn 230.000 người. Nhưng Trung Cộng đã ém nhẹm tới gần đây thế giới mói biết. Ngoài ra đập thủy điện Tam Hiệp chưa khanh thành nhưng nhiều dấu hiệu bể nứt đã thấy xuất hiện. Điều này cũng dễ hiểu, vì trong thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa anh em (Tàu, Nga, VC, Bắc Hàn, Cu Ba), gần hết ngân khoản của các công trình xây dựng, đều bị cán đảng và quan quyền lớn nhỏ, móc ngoặc với nhà thầu, chia, chặt, xén, bỏ túi..cho nên đâu có kiến trúc nào được toàn vẹn, vì vậy chưa khánh thành đã lung lay hay sứt mẽ là cái chắc.

+ HỆ THỐNG ĐẬP THỦY ĐIỆN TẠI TỈNH VÂN NAM, TRÊN SÔNG MEKONG VA HỒNG HÀ CHẢY VÀO VN:

Sông MeKong phát nguyên từ Tây Tạng, chảy qua Trung Hoa, Lào, Thái Lan, Miến Điện, Kampuchia và VN rồi ra Biển Đông tại chín cửa lớn nhỏ, nên phần sông chảy trong lãnh thổ VN, mới có tên là Cửu Long Giang. Cũng vì dòng sông có sự liên hệ của nhiều nước, nên đã có chương trình hợp tác phát triển lưu vực sông Mekong, do nhiều tổ chức và các định chế tài chính quốc tế tham gia. Trên lý thuyết, đã có tới sáu chương trình và dự án phát triển con sông trên. Chương trình Ủy ban sông Mekong (MRC), do LHQ khởi xướng từ năm 1957, nhằm quản lý nguồn nước và tài nguyên của sông, được xúc tiến mạnh sau năm 1975, khi chiến tranh Đông Dương lần 2 chấm dứt.

Năm 1992, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) lại khởi xướng chương trình hợp tác sông Mekong, giữa các nưóc liên hệ (GMS), thúc đẩy sự đầu tư khai thác của các nước trong vùng, qua các dự án đầu tư do ADB chi phối. Năm 1993, Nhật Bản đề xướng diễn đàn phát triển toàn diện Đông Dương (F&DI), chú trọng vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng có sông Mekong chảy qua. Tiếp theo Nhật lại đưa thêm dự án AEM-MITI nhằm giúp Miến Điện, Lào, Kampuchia chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Cũng năm 1993, Thái Lan lại đề xướng chương trình hợp tác sông Mekong, nhằm phát triển khu vực sông chảy qua các nước Tàu, Miến Điện, Thái Lan và Lào.

Tháng 12-1995, Tân Gia Ba và Mã Lai lại đề xướng dự án hợp tác phat triển sông Mekong của các nước thành viên Asean có sông Mekong chảy qua, ưu tiên là đặt hệ thống đường sắt.. Nhưng tất cả đều là lý thuyết, vì Trung Cộng là nước ở thượng nguồn sông Mekong, chẳng bao giờ tôn trọng các ảnh hưởng, sự tác động và lợi ích kinh tế của những nước khác ở hạ nguồn. Trung Cộng đã ỹ mình nước lớn, nên đã bất chấp sự phản đối của các nước liên hệ, bao chục năm qua đã xây dựng cả hệ thống Đập Thủy Điện trên sông Mekong, trong tỉnh Vân Nam, gây thiệt hại nhiều nhất cho hai nước hạ nguồn là Kampuchia và VN.

Thật ra âm mưu khống chế sông Mekong, được Trung Cộng manh nha từ năm 1970. Do sự cô lập và bưng bít nên mãi tới năm 1989 khi Đặng Tiểu Bình mở cửa đón tư bản vào cứu đảng, người ta mới biết được đại khái là Hoa Lục đang xúc tiến các dự án đập thủy điện tại Vân Nam. Theo tài liệu chính thức của Tỉnh Ủy Vân Nam và lời xác nhận của Hiroshi Hiro, người Nhật, một chuyên gia về sông Mekong, cho biết Trung Cộng đã xây dựng tới 14 con dập bậc thềm, trên thượng nguồn sông này, đó là chưa kể các con đập khác ở các phụ lưu và trên sông Hồng Hà. Theo thứ tự từ Bắc xuống Nam, ta thấy các đập thủy điện Liutongsiang, Jiabi, Wunenglong, Tuoba, Huangdeng, Tiemenkan, Guongguoqiao, Công Quả Kiều, Xiaowan, Tiêu Loan, Manwan, Daichaoshan, Đại Triều Sơn, Nuozhado, Nọa Trát Độ, Jinhong, Cảnh Hồng, Ganlanba và Mãnh Tòng.

Sông Mekong hay Dza-Chu (Nguồn nước của đá), phát nguyên từ cao nguyên phía đông Tây Tạng, dài hơn 4000 km, chảy về hướng Nam, băng qua những hẽm núi sâu và rừng núi hoang lạnh của tỉnh Vân Nam với cái tên Lan Thương Giang (Lancang Jiang). Riêng khúc sông chảy giữa biên giới Lào-Thái mang tên Mae Nam Khong. Tại Cam Bot sông lại có tên là Tonle Thom và cuối cùng Cửu Long Giang trong lãnh thổ VN.

Trong cuốn sách 'Lan Thương Giang - Tiểu Thái Dương' , do Vân Nam Nhân Dân Thư Xã ấn hành bằng tiếng Tàu, từ đầu tới cuối chỉ đề cao tới tiềm năng của sông cần khai thác, tuyệt nhiên chẳng thấy nói tới hậu quả nào do chuổi đập gây thiệt hại tới các nước ở hạ lưu. Điều này dễ hiểu, vì Trung Cộng luôn coi đó như một bí mật quốc phòng, thứ vũ khí môi sinh chiến lược, để khủng bố VN, quốc gia cuối cùng nơi dòng sông thoát ra biển.

Tóm lại chỉ riêng với ba con đập đầu tiên trên, được xây dựng trên thượng nguồn Mekong là dập Mạn Loan, Đại Triều Sơn và Cảnh Hồng, với các triền núi cao dùng làm vách hồ chứa nước vào mùa mưa và xã nước trong mùa nắng. Hậu quả sông Mekong sẻ không còn những cơn lụt hằng năm, mang phù sa và các loại thủy tộc, từ thượng nguồn xuống Biển Hồ, sông Tiền, sông Hậu. Cuối cùng các hồ chứa nước tại Vân Nam, sẽ giữ lại hết phù sa và nước ngọt tại chuổi đập bậc thềm, làm cho Biển Hồ khô chết, còn đồng bằng miền Nam ven biển Đông, sẽ bị ngập mặn vì lòng sông thấp hơn mực nước biển.

Trước mắt những con đập tại Vân Nam, thường trực gây bất thường cho dòng sông Mekong, làm xói lở hai bờ , đọng nhiều muối trên đất, nguồn phù sa hằng năm từ thượng nguồn bị giữa lại, làm cho ruộng thiếu nguồn phân bón thiên nhiên. Tai hại hơn, là Trung Cộng đã trút đổ những chất phế thải độc hại từ các nhà máy công nghệ như chì, kẽm, cyanide..gây ô nhiểm nước uống và hệ thủy sản trên sông, nhất là các loại cá.

Tháng 12-2001, theo tin Asian Pulse cho biết là Trung Cộng lại khởi công xây đập Tiểu Loan trên khúc giữa Lạn Thương Giang, lớn thứ nhì trên nước Tàu, chỉ thua đập Tam Hiệp. Đập này có công suất điện 4200 MW, cao nhất thế giới 292 m, riêng hồ chứa nước lên tới 15 tỷ m3 khối nước, từ nguồn sông Mekong. Đập hoàn thành năm 2010 với kinh phí 4 tỷ đô la.

Ngày nay Trung Cộng đã công khai đe dọa thế giới, trực tiếp đối đầu với Mỹ, Nhựt, Liên Âu và LHQ, nên đâu có lạ khi thấy người Tàu toàn quyền khai thác sông Mekong và từ chối tham dự Ủy hội bảo vệ con sông này vào năm 1995 cũng như không cầm đếm xỉa tới thảm họa môi sinh của 5 nước dưới hạ nguồn. Thế giới ai cũng nhìn thấy rõ, nhát là mưu đồ dùng sông Mekong như một thủy lộ, khi có cuộc chiến trong tương lai gần.

2- ĐỒNG BẰNG VÀ SÔNG NGÒI VN, TRƯỚC THẢM HỌA KHỦNG BỐ CỦA TÀU:

Diện tích VN hiện nay là 331.000 km2, trong đó hai đồng bằng Bắc và Nam Việt, xưa nay được coi như là vựa lúa gạo của cả nước. Miền châu thổ Bắc Việt hình thang, giới hạn bởi tứ giác Phủ Lạng Thương, Đồ Sơn, Việt Trì và Phát Diệm, với diện tích 15.000 km3, chỉ chiếm 12% Bắc Phần (115.700 km2), được hình thành bởi phù sa sông Hồng Hà và Thái Bình.

+ SÔNG HỒNG HÀ: Phát nguyên từ rặng Ngụy Sơn, kế Đại Lý Hồ trong tỉnh Vân Nam (Tàu), có chiều dài 1200 km, phần chảy trên đất Trung Hoa gọi là sông Ma Lung hay Nguyên Giang. Riêng 500 cây số trong lãnh thổ VN, được gọi là Nhĩ Hà, Hồng Hà hay Sông Thao.

Sông vào địa phận Bắc Việt tại Hà Khẩu (Lào Kai), trước khi ra biển Đông, đã tiếp nhận nhiều phụ lưu quan trọng như sông Lô ở tả ngạn. Sông này còn có tên là Thanh Giang, cũng phát nguyên từ bên Tàu và chảy vào VN tại Hà Giang, rồi đổ vào sông Hồng ở Việt Trì. Sông Lô còn có hai phụ lưu là sông Gầm va sông Chẩy thông với hồ Ba Bể.

Sông Đà bên hữu ngạn, cũng phát nguyên từ Vân Nam, chảy vào VN song song với sông Hồng và đổ vào sộng này tại Việt Trì. Ngoài ra còn có nhiều sông nhỏ khác, cũng đổ vào Nhĩ Hà như Nậm Pò, Nậm Na, Nậm Mấc, Ngòi Thia, Ngòi Lao ở thượng nguồn. Phía gần biển, có thêm các phụ lưu Sông Luộc, sông Đuống, sông Ninh Cơ, Trà Lý..Tất cả đã mang phù sa bồi đắp cho cánh đồng lúa mùa, miền Hạ Du, ngay từ thời Văn Lang lập quốc cho tới bây giờ. Từ Hà Nội lên Lào Kai, xuyên biên giới đi Vân Nam ,có con đường sắt được thiết lập từ thời Pháp thuộc, chay song song với tả ngạn sông Hồng, qua những nhà ga Bảo Hà, Trái Hút, Phố Lu..mang đầy huyền thoại trong kho tàng văn học dân gian, về các câu chuyện 'Ma-Cọp'.

Lào Kai là tỉnh địa đầu của miền tây bắc, chỉ cách Trung Cộng có cây cầi biên giới Cốc Lếu, nên trong cuộc chiến năm 1979, giặc Tàu gần như làm cỏ thành phố, mãi cho tới năm 1991 mới chỉ có 1700 gia đình trở về nhà cũ của mình.. Ngày nay nhờ chương trình du lịch Sapa và nhất là buôn lậu ,nên Lào Kai dân số gần 100.000 người. Thị xã nằm ngay trên ngả ba sông Nậm Thị từ Vân Nam đổ vào sông Hồng. Cầu Hồ Kiều dài 200m, ngăn đôi hai nước, bên này là Lào Kai, phía bên kia là thị trấn Hà Khẩu, thuộc châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam.

Sông ra biền bằng cửa Ba Lạt và Trà Lý ở thị xã Thái Bình. Trước đây khi Trung Cộng chưa xây dựng các đập thủy điện trên thượng nguồn của sông chảy trong tỉnh Vân Nam, thì Nhĩ Hà có lưu lượng rất lớn và thay đổi tuỳ theo mùa, từ 300m3/1 giây - 28.000 m3/1 giây nhưng trung bình là 700m3/1giây.. Nước sông dâng cao thường vào mùa mưa, tại Hà Nội có khi dâng cao tới 12m, trong khi mùa nắng mực nước chỉ có 2m.. Từ trước tới nay vùng Hoa Nam và Bắc Phần có nhiều mưa về mùa hè, làm cho mực nước sông Nhị dâng cao rất nhanh. Lúc trước tại Vân Nam, rừng chưa bị đốn để dựng đập nước, nên mùa mưa, phần nào giữ được nước tuôn từ thượng nguồn về.

Nay Trung Cộng xây đập khắp nơi, mùa nắng thì giữ nước ngọt lại trong hồ chứa để mà tưới, trái lại mùa mưa thì mở đập để nước trên sông lẫn trong hồ, tuôn về hạ nguồn, cho nên mấy năm qua, Hà Nội và các tỉnh Bắc Phần luôn bị nạn lụt. Trong khi đó, hệ thống đê điền ở miền Bắc tuy dài hơn 4000km, nhưng lại có quá nhiều khuyết điểm, chẳng hạn như đê phải đắp cao theo tình hình mực nước, khiến cho đê thường bị vỡ. Ngoài ra vì bị đê ngăn chặn phù sa, khiến cho đồng bằng Bắc Phần lần hồi không được bồi đắp, nên càng lúc thêm cằn cổi, thu hoạch kém, tốn nhiều phân bón.

Riêng hệ thống sông Thái Bình, dài độ 340km, chảy từ Phả Lại, qua Hải Dương ra biển, với các phụ lưu là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu, đều phát nguồn trong nội địa VN. Tuy nhiên vì Sông Nhị có hai phụ lưu ở tả ngạn là sông Đuống và sông Luộc, đều chảy vào sông Thái Bình, cho nên hệ thống sông này cũng bị ảnh hưởng khi nguồn nước hay dòng chảy của sông Hồng bị tắt nghẽn hay bất thường do những ảnh hửng từ thượng nguồn bên Vân Nam gây ra.

+ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG:

Ngày nay đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 12 tỉnh miền tây Nam phần: Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bac Liêu và Cà Mâu. Khu cực này chiếm một diện tích 40.000 km2 với hơn 16 triệu dân, gồm người Việt, Khmer, Hoa và Chàm. Do cấu tạo môi trường thiên nhiên khác nhau, ảnh hưởng từ sông, biển và khí hậu, nên khu vực này được chia thành bốn vùng riêng biệt:

- Vùng phù sa nước ngọt: Từ nguồn sông chính tại Kampuchia, Mekong chảy vào Nam Phần bằng hai nhánh tại Châu Đốc và Hồng Ngự, xuống tận Mỹ Tho, Bến Tre. Khu vực này chiếm một diện tích hơn 1 triệu Ha, phần lớn là vườn cây ăn trái đủ loại, mọc bạt ngàn theo hai bờ sông Tiền và Hậu, cùng với một hệ thống kênh rạch chằng chịt như mạng nhện. Đặc biệt giữa dòng sông thường có nhiều cù lao lớn nhỏ như Cồn Phụng, Lân, Qui tại Mỹ Tho, cù lao Ông Hổ ở An Giang, cù lao Tân Lộc (Thốt Nốt-Cần Thơ), cù lao Bình Hòa Phước tại Vĩnh Long..

- Vùng phù sa nước mặn: Chiếm diện tích khoảng 900.000 Ha, bao gồm lưu vực các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau. Đặc điểm vùng này là có nhiều rừng nguyên sinh ngập măn, nhiều khu vực tập trung hàng ngàn loại chim cò đủ loại tại Vàm Hồ (Ba Tri-Bến Tre), Bạc Liệu hay Chùa Dơi (Sóc Trăng)..

- Vùng bán đảo Cà Mau: Nằm cuối miền Nam nước Việt, rộng chừng 1 triệu Ha và hằng năm được phù sa của sông Hậu, bồi đắp thêm Mũi Cà Mâu lấn ra biển từ 60 - 80m. Tại đây còn nhiều khu rừng tràm, đước được dùng làm củi đốt từ xưa tới nay Khắp khu vực có nhiều Sân Chim Cò, Cốc hơn 40 loại, sống tại Ngọc Hiển, U Minh, Hòn Khoai. Đây cũng là vựa tôm, cá và đặc biệt là mật ong nổi tiếng của Miền Nam.

- Vùng Đồng Tháp Mưới và Khu Tứ Giác Long Xuyên: Rộng 1 triệu ha, được coi như là những hồ chứa nước thiên tạo, vào mùa sông Tiền-sông Hậu lụt lội, nhờ vào năm miền trũng thấp. Trong số này quan trọng nhất vẫn là Đồng Tháp Mười, với các khu rừng tràm Xẻo Quít (20 Ha), Tràm Chim (2441Ha)..có hơn 141 loài chim sinh sống, nhiều nhất là loài sếu đầu đỏ.

Nói chung đồng bằng sông Cửu Long được tạo thành bởi phù sa của hai nhánh sông Mekong, gọi là sông Tiền (Dòng chính) và sông Hậu, được chia thành chín nhánh nhỏ hình rẽ quạt, đổ ra biển bằng chín cửa, lại tạo thành nhiều cù lao rất phì nhiêu. Trong lãnh thổ VN, phía thượng nguồn, sông Cửu Long làm thành vùng trũng như những hồ chứa nước thiên nhiên trong mùa lụt. Về phía biển, đồng bằng được phù sa bồi đắp cao ráo, thành những giồng để cất nhà cửa, lập vườn cây ăn trái.

Dòng sông cho nhiều tôm cá quanh năm, bù đắp phù sa như một thứ phân bón hữu to rất tốt cho đồng ruộng. Toàn vùng, Mỹ Tho được coi là lý tưởng nhất cho nghề nông vì đất đai phì nhiêu, sông rạch đầy tôm cá, người dân làm chơi ăn thiệt, cuộc sống sung túc, tạo thêm dân trí lễ nghĩa với các thú vui nghệ thuật, mà phát triển nhất nếp sống miệt vườn tao nhã qua đờn, ca, hát xướng, thơ ngâm, hò đáp khi chèo thuyền giả gạo.

Sông Tiền Giang chảy ngang qua thành phổ cổ kính Mỹ Tho, trước khi ra biển bằng nhiều nhánh. Giữa những nhánh sông có các cù lao rộng lớn phì nhiêu, làm thành tỉnh Bến Tre nổi tiếng với rặng dừa xanh lơn nhất nước. Trường Trung Học danh tiếng Nguyễn Đình Chiểu tại Mỹ Tho, được coi như là ngôi trường đầu tiên của người Việt tại Nam Phần, trong lúc Sài Gòn mới có ngôi trường Trung học dành cho con cái người Pháp (nay là trường TH.Lê Quy Đôn), lập hồi cuối thế kỷ XIX. Vào năm 1926, Sài Gòn mới có trường TH. Petrus Ký, dành cho người Việt.

Đất Gò Công sát biển, nổi tiếng với Đức Từ Dũ (Mẹ ruột vua Tự Đức nhà Nguyễn), căn cứ chống thực dân Pháp của anh hùng Trương Định (1863). Ngược về phía nam, xuyên QL4 (nay là QL1), trước khi đến cầu Mỹ Thuận (thay thế phà), hai bên đường lẫn bờ sông, nhà cửa san sát, xen lẫn với vườn đủ loại trái cây và đồng ruộng lúa nước xanh um ngút mắt.

Qua cầu, quẹo về hướng biển non 10 cây số, là tới Vĩnh Long, miền đất hiền lành xinh đẹp nằm trên Sông Cổ Chiên, một nhánh của Cửu Long. Chợ tỉnh trải dài theo bờ sông bồng bềnh những giề Lục Bình hắt hiu trong màu phù sa làm cho nước vàng đục. Thành cổ xưa còn đó với cây đa cổ thụ, làm nhớ tới Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông..người uống thuốc độc quyên sinh để đền nợ nước, kẻ thỉ rời bỏ quê làng chôn nhau cắt rút, dắt díu gia đình ra tận Bình Thuận tị địa vào năm 1867, khi thành Vĩnh Long bị thực dân Pháp đánh chiếm. Gần chợ nay vãn còn Văn Thánh Miếu được lập ra thờ Khổng Tử, nhưng ngày nay người Việt đến cúng bái, gần như chỉ biết tới Phan Thanh Giản và Nguyễn Thông mà thôi.

Bên kia sông Hậu là thành phố Cần Thơ, sung túc bề thế và xinh đẹp chỉ thua Thủ đô Sài Gòn. nên xưa nay vẫn được đời xưng tụng là Thủ phủ của Miền Tây-Nam Nam Phần, phát triển ngay từ đầu thế kỷ XX, ngay khi miền Hậu Giang trở thành vựa lúa gạo nuôi sống cả nước. Nhờ vậy mà cả cánh đồng lau sậy, tràm được, cá sấu, muỗi mòng, giữa sông Hậu và Vịnh Phú Quốc, được khai thác, đào kênh, đắp đường, mở mang làng xóm, trù phú như ngày nay. Thời Pháp thuộc, Cần Thơ có Chi nhánh Ngân hàng Đông Dương, Nhà máy Điện lực rất lớn, cung cấp điện cho các tỉnh lân cận. Trường Trung học Công lập Phan Thảnh Giản thành lập từ năm 1926, hơn trăm năm qua đã đào tạo không biết bao nhiêu nhân tài của đất nước, trong đó không thể không nhắc tới Nhà Quân Sử nổi tiếng hiện nay tại hải ngoại là Pham Phong Dinh..

Cuối nước Việt, về hướng biên giới,đầu tiên là Cảng Cá,nằm ngay Vàm sông Ông Đốc, qui tụ nhiều tàu đánh cá lớn khắp vùng. Xa hơn là Ngư Cảng Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang, nổi tiếng nhất nhì trong nước, ngang hàng với Ngư Cảng Phan Thiết-Bình Thuận. Biển ở đây cạn, nhiều bùn lại nhiều muỗi mòng nhưng ngược lại đầy tôm cá. Ngoài khơi Rạch Giá có hằng trăm đảo thuộc chủ quyền VN, trong đó có Hòn Tre diện tích lớn, dân đông. Kế bên là Hòn Sơn Rái nổi tiếng làm nước mắm cá biển

Sát biên giới Việt-Kampuchia là Thị Xã Hà Tiên,phong cảnh hữu tình với Đông Hồ, núi Tô Châu, ngôi chợ tuy nhỏ nhưng đây cổ kính. Đối diện là Hải Đảo Phú Quốc, lớn nhất VN, chuyên trồng tiêu, làm nước mắm, ngư nghiệp

Từ Chợ Hà Tiên đi ngược lên dọc theo biên giới có Kênh Vĩnh Tế do Thoại Ngọc Hầu đào vào thập niên 1920, thời Vua Minh Mệnh nhà Nguyễn. Kênh này như một thủy đạo, nối liền sông Hậu thông ra Vịnh Phú Quốc. Vùng này trũng thấp, đất phèn mặn, nên ruộng đồng hoàn toàn bị ngập, vào mùa lụt do sông Cưu Long dâng cao. Bảy Núi hay Thất Sơn bao gồm nhiều hòn lớn nhỏ, chạy dài trên 30km, mà đỉnh cao nhất là ngọn Núi Cấm (700m), mây trắng che mịt mù vào mùa đông, trong nuí có nhiều hang động thiên nhiên, trên sườn mọc đầy sắn, đậu, hoa quả và các cây thuốc Nam.

Kế cận là Thị Xã Châu Đốc, nổi tiếng ba miền là Miểu Thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam, được xem là chốn linh thiêng, quanh năm có rất nhiều thiện nam tín nử tới hành hương cúng kính.. Chợ Châu Đốc xây trên bờ sông Hậu, dưới sông tấp nập ghe thuyền. Phia bên kia sông có nhiều Làng Chàm Hồi giáo, chuyên sinh sống bằng ngư nghiệp và nghề dệt dệt tơ lụa.

Thành phố Long Xuyên là thủ phủ của tỉnh An Giang, lúa gạo sung túc, đang phát triển mạnh nghề nuôi cá bè trên sông Hậu. Đây là miền đất được mở mang sớm nhất ở Nam Phần, ngay từ năm 1700 khi Thống Suất Nguyễn Hửu Cảnh, được lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu, tới đây cũng cố biên giới, vì vậy các lưu dân từ Thuận Quảng theo chân đoàn quân vào đậy lập nghiệp rất đông đảo. Tại An Phú, đầu nguồn của sông Hậu trong tỉnh An Giang, nay còn sót lại Búng Bình Thiên, có diện tích rộng hơn 30.000 m2, là một vùng đất bị bỏ hoang vì nước sâu không thể trồng lúa được. Láng mọc đầy Sen và cỏ dại, là nơi chung sống của đủ loài thủy tộc, từ cá tôm, cho tới rán rùa, sống dưới rừng củ co, bông súng, rau tràng..cảnh sắc không gì thay đổi như từ hai ba thế kỷ trước. An Phú còn có tới 4 chợ trời biên giới và đông đảo người Chàm theo Hồi giáo cư ngụ.

Sa Đéc hiện nay chỉ là thị trấn, trong khi Cao Lãnh trở thành thị xã tỉnh lỵ của Đồng Tháp. Nằm bên hửu ngạn sông Hậu, Sa Đéc là vùng đất cổ, nổi tiếng với những vườn cây ăn trái của Nam Phần,nhờ khí hậu trong lành so với các tỉnh khác.

Chợ Sa Đéc đẹp, vùng lân cận nổi tiếng về sản xuất hoa hồng. Trên con đường từ chợ tới Bắc Vàm Cống, có hai làng nghề truyền thống là Nem Lai Vung và Chiếu Lấp Vò. Ngoài ra tại làng Định Yên, còn có một Chợ chiếu độc đáo, mà người điạ phương gọi là 'Chợ Ma hay Chợ Âm Phủ', vì chợ chỉ nhóm họp hằng đêm từ 12 giờ khuya tới hừng sáng thì dẹp. Đây là truyền thống đã có từ 100 năm qua, chuyên bán sĩ và lẽ hai loại chiếu 'Hà Niên' là loại chiếu bông vuông nhỏ và loại 'Vẩy Ốc' màu trắng, bông được in bằng khuôn, làm rất công phu, để lâu không bị bay màu và lên mùi mốc.

Đồng Tháp Mười là vùng đất trũng, nhiều phèn, vào mùa lụt nước sông dâng cao tới 4m, cá tôm nhiều nhưng muốn có phải mua sắm dụng cụ mới khai thác được.. Tại đây còn có một loại lúa trời, mọc tự nhiên, ăn được nhưng không ngon. Trước đây Đồng Tháp Mười coi như một đồng cỏ khổng lồ, ngày nay nhiều khu vực đã được khai khẩn để trồng lúa. Dân cư tứ xứ tới đây làm ăn rất đông, nhất là khu vực tiếp xúc với hai con sông Vàm Cỏ Đông và Tây.

Tại những tỉnh về phía Nam, nơi hạ nguồn của sông Hậu như Trà Vinh, Sóc Trăng, đồng bằng được phù sa bồi đắp, thành những giồng đất cao ráo, không bị úng lụt vì nước rút ra biển rất nhanh. Đây là địa bàn cư trú cũa người Việt gốc Khmer và người Minh Hương (Tiều Châu chiếm đa số). Ngoài những cánh đồng lúa, ruộng muối cò bay thẳng cánh ở Bạc Liêu, dân địa phương còn trồng nhiều hoa màu phụ như cải, dưa hấu, cây ăn trái..Với người Việt gốc Khmer, thì thu nhập chính vẫn là cấy lúa ngắn hạn loại Thần Nông, trên đất cao không cần nhiều nước.

3-TRỜI HÀNH LỤT LỘI MỖI NĂM TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG:

Từ trước tới nay, các tỉnh từ Hà Tĩnh vào tới Quảng Trị, thuộc Miền Trung nước Việt, luôn luôn hứng chịu thảm trạng chiến tranh và sự khắc nghiệt của thời tiết,thêm vào đó Rặng Trường Sơn lấn ra sát biển, làm cho đồng ruộng cằn khô vì cát lẫn với đá núi. Cho nên trong dân gian đã có câu ca dao 'Trời hành cơn lụt mỗi năm, mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm'. Lời than thở này bây giờ đã vượt biên giới và trở nên thân quen đối với đồng bào miền Châu Thổ Sông Cửu Long, vì năm nào cũng phải cât lực đối phó với tình trạng lụt lội, đã trở nên thường trực trong cuộc sống của mọi người.

Trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt, tổ tiên ta bao đời vừa phải ngăn chống giặc ngoại xâm, đồng thời cũng luôn luôn diễn ra cuộc chiến sống chết chống thiên tai bảo lụt, khắp ba miền Trung, Nam , Bắc., mỗi miền có một địa hình, thời tiết khác nhau nên cách phòng chống cũng vô cùng phức tạp.

Dựa vào tài liệu của bao đời lưu lại, ta thấy người xưa đã biết rất rõ ràng phương pháp trị thủy. Miền Trung điạ hình hẹp và dốc, sông ngắn nên lụt lội dâng lên rất mau., phải luôn đề phòng để kịp thời phòng chống. Ở Bắc phần, đồng bằng thấp hơn mực nước sông vào mùa lụt từ 5m - 7m, vì vậy cần phải đắp đê rất cao để ngăn lụt. Hằng năm vào mùa mưa, nước từ thượng nguồn bên Tàu chảy về, cộng thêm nước từ miền Trung Du và đồng bằng, lại còn thủy triều và nước biển dâng cao, do ảnh hưởng của bảo, là nguyên nhân mà các thời đại VN trong lịch sử, phải đắp đê ngăn ngừa lụt ở miền Bắc.

Năm 886 sau Tây lịch, miền Bắc đã bắt đầu khởi công xây dựng hệ thống đê điền, doc theo các con sông Hồng, Thái Bình và nhiều con sông quan trọng khác.. Hiện nay qua báo cáo, hệ thống đê tại Bắc Việt dài tới 3500 km, tổng khối lượng đất đá xữ dụng là 400 triệu m3, gồm 260 bờ kè, 800 cống thoát nước. Những con đê với bờ cao, dốc thoải, thảm cỏ xanh rờn, uốn lượn hai bờ sông, đã vẽ nên bức tranh quê làng VN, thật là êm đềm hạnh phúc. Khắp nơi chen chúc ruộng đồng, vườn tược và nhà cửa đình làng, ân hiện sau lũy tre xanh, đã nói lên thể phách văn minh văn hiến của Dân tộc Hồng-Lạc.

Từ khi Trung Cộng lén lút xây dựng các đập thủy diện trên hệ thống sông ngòi chảy qua tỉnh Vân Nam vào năm 1971, thì đại họa cũng bắt đầu đổ ập một cách âm thầm vào non nước VN, qua cảnh dòng sông không còn êm đềm chảy, mà dâng cao đục ngầu, mang đầy rác rưởi, gổ tre, khắp nơi đầy những vực xoáy hung dữ. Năm 1971, mực nước sông Hồng dâng cao tới 14,8 m,gần như lưu lượng nước (80-88%) đổ vào Sơn Tây, trung tâm của đồng bằng Bắc Việt. Từ năm 1920, bờ đê tại Hà Nội chỉ mới cao 11,5m. Năm 1932 là 13,3m và hiện nay đã cao tới 15-15,5m.

Ngoài ra còn hy vọng vào các hồ chứa sông Đà, Lô, Gầm, Chảy và Ba Bể..để hạ bớt mực nước lụt. Câu chuyện thần thoại 'Sơn Tinh Thủy Tinh' thời Tổ Hùng dựng nước, được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp hồi tiền chiến, vẽ lại bằng bức tranh thơ, đã nói lên cuộc chiến quyết liệt của Dân Tộc Việt, trước thảm nạn lụt lội và giặc thù truyền kiếp, cả hai đều xuất phát từ nước Tàu. Vậy mà từ **** tới các chóp bu kế tiếp sau này, lúc nào cũng to miệng bưng bợ Trung Cộng, rằng là đồng chí đồng rận, chủ nghĩa xã hội anh em, môi hở răng lạnh, sông liên sông núi liền núi..cho nên VC mới đem không biết bao nhiêu đất đai biên giới, biển đảo để mà dâng cúng cho quan thầy, cũng đâu có gì lạ.

Đồng bằng sông Cửu Long trái lại bằng pẳng,cho nên trước đây người dân bản địa có tập quán là cứ sống chung với lủ lụt cho tới khi nước rút hết, chứ không làm gì cả. Ta biết Sông Mekong tuy phát nguồn tận Tây Tạng và chảy qua các nước Miến Điện, Thái Lan, Lào, Kampuchia mới vào Nam VN. Quan trọng nhất, là dù phần cuối của sông Mekong, với tổng diện tích tự nhiên chỉ có 3,9 triệu ha, chiếm 5% toàn bộ lưu lượng của cả dòng sông. Trong lúc đó hằng năm,miền tây nam Nam phần, phải nhận của sông Cửu Long, hơn 460 tỷ nước, cùng 200 triệu tấn phù sa, tạo nên miền châu thổ phì nhiêu sông Tiền, sông Hậu ngày nay.

Lãnh thổ VN, chỉ có địa hình Nam Phần bằng phẳng, thấp không có đồi núi nhiều (trừ núi Bà Rá, Bà Đen ở miền Đông-Bắc,Thất Sơn ở biên giới phía Tây). Nên dù khắp nơi có đầy kênh rạch, sông ngòi nhưng vào mùa nước lụt, vẫn không chịu nổi ảnh hưởng của thủy triều và lượng nước tuôn về từ thượng nguồn, khiến cho lòng sông không tải kịp nước ra biển, gây nên hiện tượng úng ngập tràn lan kéo dài hằng tháng.

Trước đây khi dòng sông Cửu Long chưa bị biến thái vì các đập thủy điện trên thượng nguồn tại Trung Cộng, Thái Lan, Lào..thì hằng năm nước ngập, đã mang đến thật nhiều phù sa bồi đắp cho miền châu thổ, làm cho Mũi Cà Mau lấn thêm đất ra biển, sông rạch có thêm nhiều tôm cá và đủ cac loại thủy sản..Từ năm 1961 tới 1994, miền Tây Nam Phần đã bị sáu trận lụt lớn, làm ngập 1.828.000 Ha ruộng, kéo dài từ 3-6 thang mới rút hết nước.

Thật ra vấn đề lụt lội tại Nam Phần, đã được người Pháp quan tâm từ năm 1926, khi Đông Dương là thuộc địa của thực dân. Qua những hồ sơ lưu trữ, ta biết tới nay vùng này đã bị 31 lần lụt lội lớn nhỏ. Quan trọng nhất là năm 1966, vào mùa lụt, nước sông Cửu Long tại Tân Châu lên tới 5,28m (trước đó mực nước tối đa là 4,6m), đã làm cho toàn thể đồng bằng miền Tây chìm ngập trong biển nước. Trước đây người ta thường có quan niệm về sự lụt lội của Nam phần, là điều phải xảy ra theo chu kỳ qui định của thiên nhiên trong 4 năm. Đó là những giai đoạn 1937-1940, 1946-1949.

Nhưng giai thoại trên, kể cả lụt lội đem phù sa bồi đắp cho đồng ruộng, coi như đã chấm dứt từ năm 1980, nguyên do vì Trung Cộng đã phá vở gần như tất cả những môi trường thiên nhiên tại thượng nguồn nhưng VN lại lãnh đủ hậu quả, nhưng cứ đem hiệu ứng nhà kính, đã gây ra sự thay đổi thời tiết, khí hậu, để mà đổ thừa hay che dấu sự thực.

Hiện nay có tới 12 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cưu Long, chiếm diện tích 3,9 triệu Ha nhưng vùng lụt lội hằng năm thường tập trung vào 7 tỉnh đầu nguồn là An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang và Long An. Lụt lội hằng năm, làm cho 1 triệu Ha ruộng bị chìm ngập dưới nước sâu trong nhiều tháng, gần 10 triệu đồng bào địa phượng bị thiệt hại, từ nhân mạng tới vật chất. Lụt bây giờ ngập sâu và kéo dài hơn trước, lại đến sớm nhưng rút muộn, ảnh hưởng nặng nề tới nông vụ vốn là chén cơm manh áo bao đời của tầng lớp cư dân miệt vườn. Mặc khác lụt lớn, làm cho đất đai bị mòn xói, phá vở các công trình xây dựng hai bên bờ sông, kể cả đường xá kênh rạch. Riêng trận lụt năm 1996, làm cho 217 người chết trong đó có tới 162 trẻ nít, gây tổn hại tới 2182 tỳ tiền Hồ.

Sông Mekong khi chảy tới Kampuchia, trong tỉnh Kompong Cham thì lòng sông không đủ sức chuyển vận lưu lượng nước từ thượng nguồn, nên phần lớn ruộng đất trong vùng cũng bị ngập nước nhiều tháng, từ tháng 7-12 hằng năm. Nhờ nước tràn bờ nên lưu lượng giảm. Thêm vào đó tại NamVang, sông Cửu Long có một chi nhánh lớn là sông Tonle Sap, đã dẫn nước về chứa trong Biển Hồ có thể tích tới 80 tỷ m3.Nước này lại chảy ngược ra sông chính vào mùa khô.

Cũng tại Kompong Cham, sông Cửu Long lại chia thành hai nhánh: Nhánh chính tới Neak Luong và chảy vào VN tại Tân Châu gọi là Tiền Giang. Nhánh Phụ còn gọi là sông Bassaac vào Châu Đốc, đó là sông Hậu và ra Đông Hải bằng chín cửa nhưng nay cửa Ba Lai tại Bến Tre đã bị cát biển và phù sa bít kín. Tại đầu nguồn, vì lưu lương nước quá mạnh, nên dòng sông thường bị tràn bờ, đã tạo nên vùng nước úng thủy Đồng Tháp Mười và Khu trũng Tứ Giác Long Xuyên. Ngoài ra vùng này còn phải tiếp nhận một khối lượng nước phèn, hơn 77% từ Kampuchia tràn sang trong mùa lụt.

Từ năm 1961 tới nay, miền Tây Nam Phần đã bị nhiều trận lụt rất lớn và thiệt hại, vào các năm 1961-1966-1984-1991-1994 với mực nước dâng cao từ 4,67m - 5,28m. Năm 1978 tại Tân Châu, nước lên cao 4,88m làm 87 người chết, gây hư hại 307.000 Ha lúa và 9000 căn nhà. Năm 1994 mực nước lụt lên tới 5,11m làm chết 407 người, gây tổn thất 283.000 Ha lúa, 2799 căn nhà bị nước cuốn, thiệt hại tới 2284 tỷ tiền Hồ.Năm 1995 lại lụt, làm 150 người thiệt mạng, cuốn trôi nhiều nhà cửa và ruộng lua.

Nguy cơ trùng trùng nhưng Đảng chẳng những chẳng giải thích một lời nào về thảm họa vì đâu nên nổi, trái lai vẫn cứ ru ngủ đồng bào nạn nhân bằng luận điệu tuyên truyền như Mùa Nước Nổi Hay Sống Chung Với Lũ..nhờ đó mà đồng ruộng Miền Nam được kéo dài tuổi trẻ, vì có sự bồi đắp của phù sa. Trong khi đó,thực chất gần như đất đai màu mở, cá tôm thủy sản quý của thiên nhiên ban cho các dòng sông Hồng Hà, Mekong..đã bị chuổi đập lớn nhỏ trên 14 cái, được xây dựng tại Vân Nam giữ lại. Kế tiếp những gì may mắn thoát được, lại bị kẹt ở chuổi đập của Lào-Thái. Cho nên ngày nay, Kampuchia và VN chỉ còn nhận đủ những thứ cặn bã, trong đó có hơn 80% các quặng, hóa chất..được thải từ hằng trăm nhà máy bên Tàu, đổ xuống dòng nước, tống ra biển, như chúng đã làm trên sông Dương Tử, mà chính báo chí tại Trung Cộng, vừa to tiếng tố cáo.

Khôi hài nhất là bọn Tàu trắng Á Châu và các nước Tây Phương, trong cái gọi là Ủy Ban hợp tác và bảo vệ sông Mekong, lúc nào cũng to miệng về những chuyện trên mây,mục đích vẫn là những dự án đầu tư kiếm lời, chứ đâu thấy ai nhắc tới hiểm họa, khủng bố mà Trung Cộng đã gây cho các nước ở hạ nguồn sông Cửu Long.

4- ĐỒNG RUỘNG MIỀN NAM KÊU CỨU VÌ NẠN XÂM NHẬP NƯỚC MẶN:

Từ năm 1980 tới nay, các sông ngòi ở VN hầu hết đều biến đổi kỳ lạ: Mùa mưa thì tràn nước gây nên lụt lội, trái lại về mùa nắng nước thiếu gây nên cảnh khô hạn. Tại Nam Phần, chính việc thiếu hụt nước tại các sông, đã liên quan tới sự tấn công, xâm nhập của nước mặn từ biền tràn vào sông, trong các đợt thủy triều.

Đã có trên hằng triệu Ha lúa và hoa màu tại các tỉnh hạ nguồn sông Cửu Long, bị nước mặn xâm nhập khốc liệt, vừa gây tổn hại tới thu hoạch cũng như làm cho mọi người trước nguy cơ thiếu nước ngọt để ăn uống,tắm giặt. Đây là thảm họa chỉ mới xãy ra tại Nam Phần từ sau thang 5-1975, hiện tượng nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa các tỉnh sát biển, nơi cửa sông Cửu Long. Sở dĩ có tình trạng trên,vì ảnh hưởng của hai yếu tố từ lưu lượng nước tại thượng nguồn và vùng hạ lưu, cộng thêm lượng nước mưa cũng như sự bốc hơi vào mùa nắng.

Thông thường hằng năm, từ cuối tháng 4-5, nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa, khiến cho nước ngọt tại các kênh rạch không còn dùng được để mà tưới ruộng lúa và hoa quả, gây nên cảnh hạn hán thất thu. Theo định luật khoa học, thì tiêu chuẩn độ mặn cần có trong lượng nước ngọt để phục vụ cho nông nghiệp là 4%. Trong khi đó nguồn nước lợ (nước ngọt đã bị nước mặn xâm nhập), độ mặn chỉ có 2% nhưng cũng chỉ để tưới ruộng tạm thời khi không còn một lối thoát nào khác. Nguyên do vì thứ nước lợ này, chỉ có tác dụng cứu khô ngắn hạn, nếu để lâu, nước bốc hơi làm cho nồng độ muối trong ruộng tăng lên cao, làm chết hết lúa.

Do phần lớn đồng ruộng ở miền Nam, không có hệ thống bờ ruộng và kè đê tốt, nên đã lãnh đủ sự xâm nhập của nước mặn chảy vào ruộng,với số lượng bị ảnh hưởng lên tới 1,1 - 1,3 Ha theo báo cáo của các cơ sở Nông Nghiệp. Ngoài ra nước mặn còn gây tổn hại rất lớn đối với những đồng bào nuôi các loại thủy sản như tôm, cá, ốc..để xuất cảng.

Nạn nước mặn xâm nhập đồng ruộng được đánh giá trầm trọng, bắt đầu từ năm 1977, trên sông Vàm Cỏ Tây và Tiền Giang. Tại đây nước mặn chảy sâu vào nội địa từ 8-12km, nhiều hơn những năm trước. Trên sông Vàm Cỏ Tây, nước mặn theo thủy triều vượt qua Tuyên Nhơn về hướng thượng nguồn hơn 30km và kéo dài tới 10 ngày mới rút. Tại Mỹ Tho, nước mặnvào sông Tiền ít hơn và chỉ ở lại có 4 ngày. Nhưng vì nhu cầu nước tuới, đồng bào đã vô tình giúp nước mặn tràn lan nội địa. Những năm 1985-1986, vùng Tuyên Nhơn-Đồng Tháp, tình trạng nước mặn xâm nhập có giảm so với các năm trước, nhờ con kênh Hồng Ngự mới đào, dẫn nước Vàm Cỏ Tây thông qua sông Tiền. Bắt đầu từ thập niên 1990 Đồng Tháp Mười được khai thác triệt để diện tích ruộng lúa, nên lượng nước ngọt dùng để tưới trở thành thiếu thốn, tạo điều kiện cho nước mặn càng ngày càng dâng cao, xâm lăng tới tăp vào sâu trong nội địa.

Năm 1993, nước mặn theo sông Vàm Cỏ Tây, lên tới thượng nguồn và ở lại Tuyên nhơn tới 50 ngày. Trên Tiền Giang, do nhu cầu xữ dụng quá nhiều nước, nên ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn cũng thay đổi từng năm. Tại Mỹ Tho, nước mặn đã vượt qua vài cây số và nằm lai tới 17 ngày mới rút ra biển. Năm 1998, tình trạng trên lại tái diễn một cách khốc liệt. Nguyên do vì mùa nước nổi tại đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1997, diễn ra thật bất thường, nước từ thượng nguồn đổ về rất ít và rút đi rất sớm Tình trạng trên gây ra khô hạn kéo dài, tạo điều kiện để nước mặn dâng lên cao và ùn ùn kéo vào sông Vàm Cỏ Tây, chảy sâu vào nội địa tới 15-20km.

Trên sông Tiền, sông Hậu, Cổ Chiên tuy lưu lượng có kém so với các năm trước, nhưng vẫn còn sức mạnh, làm giảm thiểu phần nào sự xâm nhập của nước mặn, tuy nhiên cũng đã gây thiệt hại cho hơn 200.000 Ha ruộng lúa. Trong khi đó, vùng tứ giác đầu nguồn Long Xuyên và phía Tây sông Hậu, lại bị ảnh hưởng rất nặng bởi sự xâm nhập của nước mặn, vào sâu trong nội địa từ 16-20 km và ở lại hơn 3 tháng.

Sự xâm nhập của nước mặn vào các sông ngòi miền Nam, là nguyên nhân chính làm các nhà máy đường phải đóng cửa ngưng hoạt động, vì nước ngọt từ năm 1999 đã tăng lên 30.000/1m3 tiền Hồ. Từ đây nước mặn tấn công vào đất liền sớm hơn mấy năm trước. Tóm lại, không riêng gì Tuyên Nhơn, Mỹ Tho..mà hầu như các tỉnh tại đồng bằng sông Cửu Long như Vàm Mỹ Hoá (sông Hàm Luông-Bến Tre), Trà Vinh,, An Thuận, Bến Trại, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ.đều bị nước mặn xâm nhập phá hoại tàn khốc và không có triệu chúng nào, báo hiệu thảm họa trên sẽ ngừng hay chấm dứt. Thêm vào đó, từ mấy năm nay thời tiết lại thay đổi đột ngột, gió chướng thổi manh hơn mấy năm trước, dồn nước mặn vào sông nhiều hơn, đồng lúc thủy triều tại cửa sông hoạt động thêm dữ dội, trong khi lưu lượng dòng sông từ thượng nguồn chảy xuống càng lúc càng yếu dần, không đủ triều cường giữ giới hạn giữa hai con nước như mấy thập niên trước.

Hỡi ơi viết chuyện nước mà đau lòng với nước'

'Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mõi miệng cái gia gia

Dừng chân ngoảnh lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta '

(Bà Huyện Thanh Quan)

Hay:

' Non cao đã biết hay chưa

Nước đi ra bể, lại mưa về nguồn '

(Tản Đà)

Vẽ hững hờ và êm ả của giòng sông, vào lúc chiều tà hay khi trăng treo trên đầu núi, không biết Nguyễn Du tiên sinh sống lại, đứng trước những thảm họa trên,đang ào ạt trút xuống những giòng nước thân thương đó, từng phút, từng giây, từng trong hơi thở của nhip sống Dân Tộc Việt, có còn đủ cảm hứng để hạ bút đề thơ:

'Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác, biết là về đâu ' -/-

Xóm Cồn

Tháng 6 - 2006

MƯỜNG GIANG

(trả lời: hoanghac)
Bài số: 2
Những điểm tương đồng và dị biệt giữa kinh tế của Ấn Ðộ... - 6/3/2006 8:21:14 AM   
hoanghac

 

Bài: 4418
Trích từ  nguoivietonline





Những điểm tương đồng và dị biệt giữa kinh tế của Ấn Ðộ và Trung Quốc
Friday, June 02, 2006




















Tác giả: Kevin Yao và Surojit Gupta
Người dịch: Nguyễn Ngọc Minh

HYDERABAD, Ấn Ðộ (Reuters) - Ðường sá đầy ổ gà, những ngôi lều lụp xụp của dân nghèo và những người hành khất có mặt khắp nơi, khiến cho thành phố trung tâm kỹ thuật tin học này ở miền Nam Ấn Ðộ, với dân số 6 triệu người, giống như những thành phố điển hình có cùng tầm cỡ ở Trung Quốc.
Những dị biệt giữa “con voi” và “con rồng” của Á Châu thật là rõ rệt, nhưng những tương đồng của họ cũng vậỵ
Cả Ấn Ðộ lẫn Trung Quốc - với dân số cộng lại bao gồm hai phần năm tổng số nhân loại - đang tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Cả hai đang phải đối phó với những vấn đề như hố cách biệt giàu-nghèo ngày càng lớn, kinh tế trong những vùng nông thôn lùi về phía sau, và làm cách nào để tạo thêm hàng triệu việc làm mỗi năm cho dân số hơn một tỉ người của mỗi nước.
Ông Pradeep K. Deb, một viên chức cao cấp của Bộ Tài Chánh Ấn Ðộ, nói: “Khi nhìn xa trông rộng, tôi thấy Ấn Ðộ và Trung Quốc là hai nền kinh tế có tính cách bổ túc cho nhau nhiều hơn là cạnh tranh với nhaụ”
Trung Quốc đã tiến vọt lên phía trước Ấn Ðộ trong 25 năm qua - khi so sánh bằng lợi tức tính trên đầu người - bằng cách mở ngỏ nền kinh tế trước đây khép kín của họ để giao thương và thu hút tiền đầu tư của ngoại quốc, hấp thụ những kỹ thuật mới và những tài năng về quản trị, để giúp biến đổi nước này thành một trung tâm sản xuất toàn cầụ
Trái lại, Ấn Ðộ đã chậm chạp hơn khi chạy theo tiến trình toàn cầu hóạ
Ðô thị hóa mau chóng và hệ thống hạ tầng cơ sở tốt của Trung Quốc đã giúp nước này hấp dẫn 60.3 tỉ Mỹ kim tiền đầu tư trực tiếp của ngoại quốc trong năm ngoái, trong khi Ấn Ðộ chỉ nhận được 7.5 tỉ Mỹ kim trong tài khóa kết thúc cuối Tháng Ba năm naỵ
Thủ Tướng Manmohan Singh, người đã có công khai phá những chương trình cải tổ kinh tế bắt đầu từ hơn một thập niên trước đây, đã bày tỏ sự khâm phục đối với những thành quả kinh tế của Trung Quốc mà ông nói rằng khiến cho nước này trở thành một tấm gương sáng cho các nước láng giềng.
“Trong vùng Á Châu có những cơ hội để các nước học hỏi lẫn nhau, rút tỉa từ những thành công của những nước khác. Kinh tế của Trung Quốc đã tiến vượt bậc trong hơn hai thập niên qua, với những mức tăng trưởng khiến cho đa số các nước khác mong muốn được giống như họ,” ông Singh nói tại cuộc họp thường niên của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (Asian Development Bank) ở Hyderabad trong Tháng Năm.
Vị thủ tướng cho biết Ấn Ðộ đang nghiên cứu những hiệp ước mậu dịch tự do với Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Hàn, như là một phần trong chính sách “Nhìn về Phương Ðông” của New Delhi, để gia tăng sản xuất, trong khi các giới chức Ấn Ðộ đã cam kết sẽ cải thiện hệ thống hạ tầng cơ sở để thu hút tiền đầu tư của ngoại quốc.
Nhưng nhiều giới chức Ấn Ðộ cảnh giác rằng đừng nên cố gắng đuổi kịp Trung Quốc trong ngành sản xuất hàng hóa - ngành này chiếm phần lớn hơn và giữ vai trò quan trọng hơn trong kinh tế của Trung Quốc so với Ấn Ðộ.
Họ muốn Ấn Ðộ hãy chú trọng vào những ưu điểm của nước này, chẳng hạn như một lực lượng lao động có trình độ giáo dục cao, để giúp khai triển những nhu liệu điện toán, những dịch vụ, và những ngành kỹ nghệ khác đặt căn bản trên kiến thức.
Theo dữ liệu của Ngân Hàng Thế Giới, hiện nay 91 phần trăm những con đường ở Trung Quốc đã được trải đá, so với 46 phần trăm của Ấn Ðộ. Trung Quốc có 7 hải cảng container thượng đẳng, trong tổng số 50 hải cảng loại này trên thế giới; trong khi Ấn Ðộ chỉ có một mà thôị

Con thỏ Trung Quốc và con rùa Ấn Ðộ

Ngân Hàng Phát Triển Á Châu đang dự phóng rằng sự tăng trưởng của Trung Quốc sẽ đạt tới mức trung bình khoảng 9% trong thời gian từ năm 2006 tới năm 2010, nhanh hơn mức tăng trưởng của Ấn Ðộ mà ngân hàng này dự phóng khoảng từ 8% tới 8.5% trong quãng thời gian đó.
“Tôi vẫn còn nghĩ rằng sự tăng trưởng của Trung Quốc sẽ tiếp tục vững mạnh hơn của Ấn Ðộ trong thời gian 20 năm tớị Dĩ nhiên là sự tiên đoán này giả định rằng mọi chuyện sẽ trơn tru,” lời ông Masahiro Kawai, giám đốc văn phòng đặc trách hợp tác kinh tế vùng của Ngân Hàng Phát Triển Á Châụ
“Trung Quốc đã khai thác lợi thế cạnh tranh của họ bằng cách phối hợp lực lượng lao động được huấn luyện thành thạo và lãnh lương thấp của họ với vốn đầu tư của ngoại quốc,” ông Kawai nói với thông tấn Reuters tại bên lề cuộc họp của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu trong Tháng Năm.
Tuy nhiên, một số chuyên gia kinh tế nhận xét rằng Ấn Ðộ, với dân số trẻ hơn, với một hệ thống pháp luật đã vững chắc từ lâu, và có những công ty tư nhân vào tầm cỡ quốc tế, sẽ không thua kém Trung Quốc trong thời gian trường kỳ.
Ông Yasheng Huang, một giáo sư kinh tế tại học viện Massachusetts Institute of Technology, nói rằng Trung Quốc cần nên học từ “sự trỗi dậy chậm và thầm lặng của Ấn Ðộ” và hãy thúc đẩy cải tổ để loại trừ những sự kiện không trung thực trong nền kinh tế của họ, chẳng hạn như trong chính sách về tiền tệ.
Trong khi Trung Quốc đầu tư gần 50 phần trăm tổng sản lượng nội địa (GDP) của họ vào những nhà máy và thiết bị, Ấn Ðộ chỉ cần đầu tư khoảng một nửa số đó và thấy đã đủ.
Dù đã có tỉ lệ đầu tư cao, mức để dành tiền tiết kiệm của Trung Quốc còn cao hơn nữạ Hậu quả là họ tích lũy tiền thặng dư mậu dịch lên tới 160.8 tỉ Mỹ kim trong năm 2005, khiến cho Hoa Kỳ đòi hỏi Bắc Kinh hãy để cho đồng nguyên tăng cao thêm hối suất.
Bộ Trưởng Tài Chánh Trung Quốc Jin Renqing nói trong cuộc họp của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu rằng Trung Quốc sẽ cải tổ để khiến cho đồng nguyên linh động hơn và tái quân bình kinh tế để tránh tùy thuộc quá nhiều vào xuất cảng, bằng cách thúc đẩy dân chúng tiêu thụ hàng hóa, nhưng sẽ không để cho các nước khác ra lệnh cho họ phải làm gì.
Giáo Sư Huang nói rằng Trung Quốc sẽ thấy họ cần phải duyệt xét những khuyết điểm trong mô hình kinh tế của họ và từ bỏ điều mà ông gọi là một cảm tưởng tự mãn đã tiêm nhiễm trong thập niên 1990.
“Trừ phi Trung Quốc thi hành những cải tổ mạnh dạn trên phương diện cơ cấu, Ấn Ðộ sẽ có thể vượt lên trên họ trong 20 năm tớị Nhưng có triển vọng rằng người được hưởng lợi nhiều nhất từ sự trỗi dậy của Ấn Ðộ sẽ là chính Trung Quốc,” ông Huang viết trong một bài bình luận gần đâỵ






http://www.nguoivietweb.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=44309&z=5

(trả lời: hoanghac)
Bài số: 3
RE: Những điểm tương đồng và dị biệt giữa kinh tế của Ấ... - 6/4/2006 3:51:49 AM   
evensong

 

Bài: 813
có lẽ điểm khác biệt lớn nhất là tham vọng của mổi nước. nói "nôm na" thì Ấn Độ chỉ mong tề gia trị quốc, còn Trung Quốc muốn xây nghiệp bá, bình thiên hạ. Ấn Độ chỉ cần đủ khả năng quân sự để đối đầu với Pakistan. Trung Quốc nhằm đến vị trí siêu cường để ngang cơ Mỹ.

(trả lời: hoanghac)
Bài số: 4
RE: Những điểm tương đồng và dị biệt giữa kinh tế của Ấ... - 6/5/2006 4:51:09 AM   
Dương Hoài Ninh

 

Bài: 418
Bạn Evensong,

Bạn nói đúng nhưng theo tôi thì chưa đủ.Không những khác nhau về tham vọng,Ấn Độ và Trung Quốc còn khác nhau ở nhiều điểm.Ngưòi Ấn thường thiên về tâm linh,hướng nội và người Hoa thì thực dụng,hướng ngoại.Cũng như dân Do Thái,người Hoa có khiếu về kinh doanh v.v.

Tôi có một người bạn dạy đại học Sydney đi công tác giáo dục bên Ấn Độ.
Khi về,anh ta kể cho tôi nghe câu chuyện sau,xin chia sẻ với các bạn :
Có một lần anh ta cùng đi ăn với một nhóm giáo sư người Ấn.Anh ta muốn mời anh tài xế của mình vào ngồi ăn cho vui nhưng anh tài xế từ chối với lý do anh thuộc giai cấp tiện dân không thể ngồi ngang hàng với họ.Thế là anh
tài xế tìm một góc mà ngồi ăn một mình !!! Do đó,tôi thiết nghĩ Ấn Độ sẽ không phát triển nhanh vì tình trạng bất bình đẳng giữa các giai cấp trong xã hội do đạo giáo của họ.

Chào thân mến.

 

(trả lời: evensong)
Bài số: 5
RE: Những điểm tương đồng và dị biệt giữa kinh tế của Ấ... - 6/5/2006 10:10:13 AM   
evensong

 

Bài: 813
thế mà ông thủ tướng Ấn Độ ngày nay lại xuất thân từ giai cấp pariah đó. vấn đề giai cấp ở nước này bắt nguồn từ tôn giáo và dân chúng thì thật sùng đạo, mặc dù họ rất có học và giỏi về khoa học kỹ thuật (cũng như những người Do Thái).

tuy nhiên những người Ấn Độ ở nước ngoài phần nhiều đã xoá bỏ được sự phân biệt giai cấp qua kinh doanh và hôn nhân khi người chủ hay người chồng thuộc giai cấp bị kinh rẻ ở trong nước.

(trả lời: Dương Hoài Ninh)
Bài số: 6
Đường Lên Xứ Tạng - 6/11/2006 11:43:21 AM   
hoanghac

 

Bài: 4418
Chào DHN và Evensong
 
Đường Lên Xứ Tạng


Trần Khải

-Mùa hè sắp tới, vài tuần nữa. Và chúng ta sắp nhìn thấy mùa hè đầu tiên tại Tây Tạng những đợt du khách lũ lượt lên chơi bằng đừơng xe lửa, tuyến đường sắt ở độ cao nhất thế giới, và được xây bằng các con tóan chính trị cũng như khoa học -- mà sự chuẩn bị kéo dài từ nửa thế kỷ qua. Môi sinh sẽ biến đổi. Và một dân tộc sẽ không còn như xưa nữa.

Điều ai cũng thấy rõ: dưới gót giày của bất kỳ người cộng sản "đỉnh cao trí tuệ" nào, thì cỏ cũng khó mà mọc lên nổi - đừng nói chi mà trí, phú, địa, hào.

Trong hơn 50 năm, văn hóa Tây Tạng đã sống sót mệt mỏi dưới các áp lực đồng hóa gay go của CSTQ, từ khi Hồng Quân bắt đầu chiếm Tây Tạng năm 1949 và dẫn tới kết quả, theo các học giả Tây Tạng, là 1.2 triệu ngừơi chết (theo sử gia Patrick French, con số đúng có lẽ chỉ 400,000 người Tây Tạng bị giết qua các đợt Hồng Quân trấn áp - nhưng theo các học giả Hoa Lục, chỉ có 300,000 người Tây Tạng "mất tích," trong đó 90,000 người vượt biên qua Hy Mã Lạp Sơn).

Đó là chưa kể tới số người Tây Tạng bị CSTQ giam: từ thập niên 1960s tới 1980s, có hơn 1 triệu tù nhân Tây Tạng (theo hồ sơ của Harry Wu) bị giam ở các trại lao động cải tạo ở Amdo (Qinghai). Trường hợp như thế cũng tương tự thời CSVN mới chiếm Miền Nam, cả triệu tù nhân là chuyện bình thường.

Bây giờ thì hiểm họa đã văn minh hơn, không cần vũ lực súng đạn: đường xe lửa nối liền Hoa Lục tới Lhasa, và những đợt di dân người Hán sẽ tràn lên vùng đang được hứa hẹn như là thiên đường du lịch sắp tới, và bây giờ cũng là nơi người Tây Tạng đã trở thành thiểu số trên quê nhà họ. Không phải chuyện lý thuyết mơ hồ, các kế họach tương tự đã đồng hóa thành công các vùng biên địa khác: hai xứ Eastern Turkestan (tên chính thức là Tân Cương, Xinjiang) và Inner Mongolia (Nội Mông).

Chỉ cần xem tốc độ đồng hóa ở Tân Cương là chúng ta cũng đủ kinh hòang, và sẽ thấy may mắn là Hồng Quân Trung Quốc khi tràn vào 6 tỉnh phía Bắc Việt Nam năm 1979 đã không bám lâu dài được hầu hết các vùng đã chiếm - tất nhiên, không kể nửa thác Bản Giốc, vùng đảo Hòang Sa, một phần Trường Sa và một số đỉnh núi có điểm cao quân sự mà phía Việt Nam chưa lấy về được.

Theo tự điển bách khoa Wikimedia, tỉ lệ người Hán tại Tân Cương vào năm 1949 chỉ có 6% dân số trong vùng, nhưng hiện nay đã tới 40%. Mà con số này chỉ mới đếm cư dân, chưa đếm số quân nhân và gia đình binh lính, hay là các công nhân nhập cư lậu.

Tốc độ đồng hóa vùng Tân Cương nhanh kinh hòang như thế là do Hoa Lục thành lập Xinjiang Production and Construction Corps (XPCC), một tổ chức bán quân sự những người di dân nhằm xây nông trại, thị trấn và thành phố khắp vùng Tân Cương.

Dân số Tân Cương năm 2004 là 19,630,000 người.

Nhưng trong thống kê dân số 2000, thì dân sắc tộc Uyghur (Uy-Ngô-Nhĩ) chỉ có 8,345,622, tức 45.21%. Còn dân Hán tộc thì 7,489,919 người, chiếm 40.58%. Số bách phân còn lại là sắc tộc Kazakhs và tộc khác.

Trường hợp Nội Mông thì dân Hán tộc đã sang buôn bán từ cuối thế kỷ 18. Nhưng Hồng Quân TQ sử dụng bạo lực chiếm đóng thì cũng chỉ hơn nửa thế kỷ nay.

Sau khi Thế Chiến 2 kết thúc, Cộng Sản Trung Quốc chiếm hầu hết vùng Manchuria nhờ Liên Xô hỗ trợ, và thiết lập Vùng Tự Trị Nội Mông (Inner Mongolia Autonomous Region) vào năm 1947 - nghĩa là chiếm Nội Mông mới gần 6 thập niên.

Dân số Nội Mông thống kê năm 2004 là 23,840,000 người. Bản chiết tính thống kê dân số năm 2000 cho thấy: dân Hán tộc tới 18,465,586 người, tức 79.17% dân số Nội Mông; trong khi dân gốc sắc tộc Mông (Mongol) chỉ còn 3,995,349 người, tức 17.13%.

Bởi vì Hoa Lục đồng hóa Tân Cương và Nội Mông kinh hòang thần tốc như thế, cho nên dân Tây Tạng mới lo sợ, khi thấy tuyến đường sắt đang hòan tất. Đồng hóa kiểu như thế, phải nói cho đúng là diệt chủng văn hóa. Hãy hình dung nền văn hóa karaoke lên Lhasa và át đi tiếng chuông trống trong chùa. Nhưng lại mang tiếng là đem văn minh tới, khai hóa cho dân xứ Tạng.

Tuy là có mời tư bản quốc tế vào giúp, nhưng rồi Bắc Kinh cũng thú nhận xây tuyến đường sắt lên xứ Tạng chỉ là quyết định chính trị. Tuyến đường sắt nối Golmud ở tỉnh Thanh Hải chạy tới Lhasa, thủ đô Tây Tạng, còn nhờ kỹ thuật hỗ trợ của 3 hãng Canada (Power Corporation, Bombardier và Nortel) hợp tác với hãng qúôc doanh Sifang Locomotive.

Bị dân Tây Tạng lưu vong biểu tình liên tục, ba công ty Canada cũng liên tục nói họ không liên hệ gì chính trị, chỉ múôn giúp phát triển kinh tế thôi. Nhưng Chủ Tịch Giang Trạch Dân nói trên tờ New York Times trên số báo tháng 8-2001 rằng mặc dù đường sắt này không nhất thiết có lợi thương mại, nhưng "đó là một quyết định chính trị." Nói thẳng, không giấu gì hết.

Người Tây Tạng lưu vong đang ra sức áp lực các cổ đông các công ty Canada trên để hy vọng trì hõan tốc độ đồng hóa. Thực tế, ai cũng thấy là đồng hóa chỉ mau hay chậm thôi. Thấy như thế, chúng ta cũng nên dè dặt suy nghĩ nếu Bắc Kinh đòi lập các tuyến đường sắt nối Hoa-Việt hay Xuyên Á giùm cho VN. Mà VN lại cho dân TQ vào không cần giấy chiếu khán nhập cảnh.

Chưa hết, Trung Quốc luôn luôn bày trò để chứng minh với thế giới rằng họ múôn đem việc làm lên Tây Tạng, nơi cần con cháu Bác Mao khai hóa. Báo The Guardian số ngày 30-5-2006 với bài nhan đề "China invites oil firms to join invasion of Tibet" (Trung Quốc mời các hãng dầu cùng xâm chiếm Tây Tạng), của phóng viên Terry Macalister, viết rằng Hoa Lục mời các hãng dầu quốc tế như BP và Shell thăm dò dầu ở Tây Tạng. Tại sao phải bày trò như thế, khi hãng dầu quốc doanh PetroChina vừa mới thất bại khi thăm dò dầu ở lòng chảo Qiantang? Thiệt là đủ thứ hư chiêu võ Tàu.

Theo công ty PetroChina, hãng đã khoan giếng thăm dò đầu tiên tại Qiantang, nơi có cao độ 5,200 mét cao hơn mặt biển, nhưng lại khám phá rằng dàn khoan mà hãng sử dụng không dủ sức khoan sâu như đòi hỏi. PetroChina cũng mới thấy là các địa tầng phức tạp hơn, thấy chi phí khổng lồ hơn và thời tiết thì lạnh kinh khủng làm cho khó mà hòan tất quyết tâm của hãng này đã hứa với Bộ Tài Nguyên là khoan 10 giếng thăm dò trong thời hạn 3 năm.

Vấn đề là, hãng quốc doanh này tin Tây Tạng sẽ là nguồn năng lượng tương lai của Trung Quốc - riêng vùng Qiantang được cho là có 10 tỉ tấn dầu và khí. Và Hoa Lục hy vọng khi các kỹ nghệ hưng thịnh, tạo được việc làm ở Tây Tạng thì tự động làn sóng thợ nhập cư từ miền thấp sẽ tràn lên. Khỏi cần bạo lực gì hết, mà đồng hóa sẽ dễ dàng, lại nhân đạo nữa.

Nhưng các con số nhà nứơc TQ đưa ra lại chưa chắc khả tín. Thí dụ, như về dân số. Thống kê CSTQ năm 2000 cho biết số người trong vùng Tây Tạng là 7.3 triệu dân, trong đó 5 triệu là sắc tộc Tây Tạng (nghĩa là Hán tộc và các tộc khác là 2.3 triệu).

Trong khi đó, chính phủ Tây Tạng lưu vong cho biết con số thật của người Hán tại Tây Tạng là 7.5 triệu, còn người sắc tộc Tây Tạng chỉ là 6 triệu (nghĩa là cộng chung dân số vùng Tây Tạng là 13.5 triệu, mà Hán tộc đã đông hơn).

Thực tế, không kiểm chứng nổi, vì CSTQ không cho ai làm chuyện đó. Nhưng ai cũng thấy tuyến đừơng sắt trị giá 4.2 tỉ đô là hiển nhiên là sẽ tăng tốc đồng hóa. Con số tốn kém này cũng là chỗ để tranh luận, vì theo một số bản nghiên cứu thì xây thế phaỉ tốn 5 tỉ đô.

Theo phúc trình của 2 nhà nghiên cứu Brenda Cherry và Zhang Dan thực hiện cho MacArthur Foundation thì lợi ích kinh tế đường sắt này không có bao nhiêu. Chạy từ Golmud tới Lhasa là một bình nguyên cao và các rặng núi, vùng rất dễ động đất (một trận động đất 8.1 độ rung chuyển cả vùng năm 2001), và gió thổi cát và băng ở tốc độ 50 dặm/giờ, mạnh tới nổi khối cát bay này có thể thổi tróc lớp sơn trên xe hơi và lột da người. Nhiệt độ ở bình nguyên khi thấp nhất sẽ hạ tới 35 độ dưới zero độ trong nhiều tháng. Phần lớn mặt đất trên bình nguyên thì đầy băng, khi băng tan thì mặt đất lún một bộ (1 foot = 30.48 cm), rồi sẽ trồi lên cao độ cũ khi mùa đóng băng lại tới. Thế nên, xây đường xe lửa trên này là dùng tới biết bao kỹ thuật tốn kém, trong đó có kỹ thuật làm nền đất đóng băng hòai quanh năm bằng các ống thông gió ngầm dưới sâu mặt đất - và nhiều điểm để đóng băng mặt đất quanh năm, đã nhờ các nghiên cứu gia người Nga hướng dẫn, gài các ống thermosiphon chìm 30 bộ (feet) dưới mặt đất và ở đáy đổ đầy chất ammonia để chất này trở thành khí ở nhiệt độ thấp, tạo ra hơi để hút nhiệt từ đáy các ống và thổi lại lên cao, làm mát lạnh trở lại.

Chuyến xe lửa thử nghiệm đầu tiên đã chạy hồi tháng 2, có 9 toa xe cho 930 hành khách, cộng 3 động cơ, đã chạy xuyên qua Jinan, Xining, Golmud, và lên bình nguyên cao rồi quay lại. Thành công xa hơn mong đợi.

Bắt đầu mùa hè này, hành khách có thể mua vé từ Trạm West Railway ở Bắc Kinh để đi thẳng luôn tới Lhasa. Chuyến đi 48 giờ chỉ tốn 46 đô la. Đó chỉ là hàng rẻ thôi.

Một hợp đồng giữa hãng Mỹ RailPartners và chính phủ TQ sẽ cho nâng cấp dịch vụ từ tháng 7 tới. Đó là khi RailPartners cho chạy chuyến xe lửa thượng hạng, vé 1,000 đô/ngày cho chuyến Tangula Express - trên đó có các phòng riêng rộng mỗi phòng 100 sq-ft, cửa sổ kính lớn, thực phẩm nấu thực đơn hảo hạng, và các phòng tắm y hệt như ở nhà.

Cũng sẽ có các khu giải trí thượng hạng, không chỉ ở Lhasa mà ở 5 nơi khác dọc tuyến xe lửa. Josh Brookhart, tổng quản trị của RailPartners, tin rằng ông đang giúp phát triển kinh tế cho vùng này. Nhưng ông không phải người duy nhất suy tính như thế.

Peter Wong, Phó Chủ Tịch Sở Du Lịch Trung Quốc, người điều hành nhiều khu giải trí tại Qinghai, nói kỹ nghệ hy vọng tăng vọt số du khách năm tới - sẽ tới 4,000 người mỗi ngày tới bằng xe lửa, và sẽ nhiều hơn nữa khi Thế Vận 2008 tới.

Khi tính như thế, đúng ra chỉ là bạc cắc đối với tuyến đường sắt mà tốn kém được cho thực ra lên tới 5 tỉ đô la. Du lịch không bù vốn nổi cho tuyến đường. Tây Tạng lại không có mặt hàng sản xuất nào để chờ về miền thấp bằng xe lửa. Còn dùng xe lửa này để chở các khóang sản khai thác từ Tây Tạng ra các thành phố ven biển thì lại tốn kém quá, mà dung lượng tuyến xe lửa chỉ khỏang chở 2 triệu tấn mỗi năm, dựa theo tính toán của Ngân Hàng Thế Giới. Nhưng phân tích của Lou Thompson, cựu cố vấn Ngân Hàng Thế Giới, không làm CSTQ ngần ngừ gì, vì mọi chuyện Giang Chủ Tịch đã chỉ thị từ năm 2000 rồi.

Vào tháng 3 năm nay, Bắc Kinh lại loan báo kế họach 5 năm thứ 11, trong đó sẽ nối đường sắt thêm từ Lhasa tới Shigatze, thành phố lớn thứ nhì Tây Tạng, và từ đó sẽ nối đường rầy tới biên giới phía nam.

Phóng viên Abrahm Lustgarten của báo Fortune kể lại, hồi mùa thu vừa qua (năm ngóai), ông tìm gặp một thanh niên trí thức Tây Tạng tại Lhasa để hỏi xem quan điểm về tuyến xe lửa này. Người này dẫn ông đi vòng vòng qua một mê lộ các ngõ hẻm, sợ người ta thấy là anh nói chuyện với 1 ngọai kiều. Anh không cho ghi âm và thu băng, và cũng không cho ghi xuống giấy, nhưng điều anh ta nói thì khác một chút với những gì hàng chục ngừơi khác nói với ông.

"Không phải là chúng tôi chống lại việc phát triển [kinh tế] hay chống lại tuyến xe lửa tới Lhasa," anh nói, thêm rằng là đó không phải vấn đề đường sắt này sẽ giúp hay làm hại Tây Tạng - nó có thể làm cả 2 chuyện đó. "Nếu có cơ hội, chúng tôi có thể sẽ quyết định tự chúng tôi xây tuyến xe lửa đó chứ." Anh nói, vấn đề chỉ là, "chúng tôi không bao giờ được phép quyết định gì cả."

Trích từ Viet Bao

(trả lời: evensong)
Bài số: 7
RE: Đường Lên Xứ Tạng - 6/12/2006 1:05:30 AM   
evensong

 

Bài: 813
khai thác vùng Tây Tạng là tất yếu để phục vụ kinh tế và hành chánh nội vụ của Trung Quốc. xây dựng đường hoả xa không thể không làm, nhất là kinh phí xây và bảo trì đường sắt chắc chắn rẻ hơn đường nhựa. dù sao cũng là một chương trình xây dựng tích cực, so với dự tính xây 1 bức tường 2000 dặm dọc biên giới Hoa Kỳ với Mễ để ngăn người "vượt biên."

tình trạng của Tây Tạng hôm nay e rằng cũng như của người da đỏ bản xứ ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 18-19... Trung Quốc mở rộng về hướng tây như Hoa Kỳ thời đó, họ hy vọng sẽ thành cường quốc như Hoa Kỳ... lúc đó Việt Nam (và Đông Nam Á) sẽ lệ thuộc kinh tế Tàu như Mễ lệ thuộc Mỹ bây giờ? déja vu?

(trả lời: hoanghac)
Bài số: 8
RE: Đường Lên Xứ Tạng - 6/27/2006 6:28:14 AM   
hoanghac

 

Bài: 4418
Chào evensong và các bạn






Truyền thống đè nặng vai phụ nữ Trung Quốc 









Tỉ lệ tự tử cao gấp ba ở nông thông so với đô thị
Tại Trung Quốc, cứ bốn phút lại có một phụ nữ tự sát.Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Trung Quốc là nước duy nhất trên thế giới nơi số phụ nữ tự tử nhiều hơn nam giới.
Mỗi năm, 1.5 triệu phụ nữ định tự tử, và 150.000 người đã 'thành công' khi kết liễu đời mình.
Vấn đề càng tệ hơn ở nông thôn, nơi tỉ lệ tự tử cao gấp ba so với thành thị.
Xu Rong, người đứng đầu Dự án Ngăn Tự tử ở Trung tâm Phát triển Văn hóa vì Phụ nữ ở Bắc Kinh, nói một trong những lý do là vì thuốc độc có sẵn ở nông thôn.
"Thật quá dễ khi muốn có thuốc trừ sâu," bà nói. "Một số phụ nữ tự sát một cách bất thình lình. Chồng vợ có thể cãi nhau, khi xong, người phụ nữ lấy thuốc ra uống."
Các nỗ lực tự tử có thể đến bất ngờ, nhưng chúng thường là kết quả của những gánh nặng đè nặng trên vai phụ nữ ở nông thôn.
Hôn nhân là vấn đề lớn và vẫn chịu sự chi phối của các thái độ truyền thống.
Nhiều cuộc hôn nhân là do sắp xếp, diễn ra như hợp đồng: bố mẹ chú rể "mua" cô dâu và cô về nhà chồng.
Bà Xu Rong tin rằng điều này tạo nên vấn đề trong tâm lý của những người vợ trẻ sống trong môi trường xa lạ.
Đặc biệt trong các cuộc hôn nhân sắp đặt, khi chồng cảm giác vợ không muốn ở với mình, căng thẳng có thể tăng lên, dẫn đến cãi cọ và bạo lực.
Bà Xu Rong ước tính 70-80% các vụ tự tử là kết quả trực tiếp của xung đột chồng vợ.
Khó thoát
Xie Lihua, chủ bút của một tạp chí phụ nữ nổi tiếng, đồng ý rằng các giá trị truyền thống là vấn đề.








Đa số phụ nữ khó thoát ra khỏi một cuộc hôn nhân bất hạnh
"Nếu một cô gái đến sống với gia đình chồng và được đối xử tốt, hay nếu cô có một người yêu thương và tôn trọng cô, mọi sự ổn thỏa. Nếu không, tình cảnh rất khó cho người vợ."
Đa số phụ nữ khó thoát ra khỏi một cuộc hôn nhân bất hạnh.
Ly dị nghĩa là không còn sự an toàn về tài chính, tạo nên tương lai bất định.
Theo Xu Rong, một số phụ nữ định tự sát như một cách đòi chồng đối xử tốt hơn.
Các nghiên cứu khác đồng ý nhiều phụ nữ định tự sát mỗi năm là vì muốn lấy lại cảm giác được tôn trọng, cho người khác biết sự giận dữ của họ.
Chính phủ nhận thức tầm mức của vấn đề.
Trong nhiều năm, luật hôn nhân đã đặt hôn nhân sắp đặt và mua cô dâu ra ngoài vòng pháp luật. Nhưng các thái độ cổ xưa vẫn khó thay đổi.
Viễn cảnh u ám
Bên cạnh thái độ truyền thống, các xu hướng hiện đại cũng có vẻ tạo thêm sức ép cho phụ nữ.
Tại các vùng nông thôn, con trai được chuộng hơn con gái vì chỉ có đàn ông mới ở lại làng để coi sóc cho cha mẹ. Khi các cô gái kết hôn, họ phải về nhà chồng.
Ngoài ra lại còn chính sách kiểm soát sinh đẻ, và kết quả là nhiều bào thai nữ bị bỏ.
Đến năm 2020, Trung Quốc có thể thiếu khoảng 40 triệu phụ nữ. Xie Lihua lo ngại về hậu quả của sự bất cân đối này.
"Trong 20 năm nữa, phụ nữ sẽ còn hứng chịu tương lai u ám hơn. Việc bắt cóc và buôn người sẽ tăng. Mại dâm và bạo lực tình dục cũng sẽ tăng. Tôi nghĩ vấn đề phải được giải quyết từ cấp địa phương."

Trích từ BBC News

(trả lời: evensong)
Bài số: 9
RE: Những điểm tương đồng và dị biệt giữa kinh tế của Ấ... - 7/4/2006 8:19:52 AM   
thanhxuan

 

Bài: 206
    Lịch sử Trung Hoa chưa bao xâm lược nước khác để lấy đất, mà chỉ để thôn tính họ thôi./.

(trả lời: evensong)
Bài số: 10
Trang:   [1] 2 3 4 5   phần sau >   >>
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Nhân Văn >> Trung Quốc : Vạn Lý Trường Chinh Trang: [1] 2 3 4 5   phần sau >   >>
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết


Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 6-10/2009:
Mai Dang, Bao Cuong, vann, Tương Kính

Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh

Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.

Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode