Linh Tinh Phố Rùm Bài Viết Gia Chánh Lời Tình K Truyện Chọn Lọc Thơ Tình
Trở lại trang đầu
Đi Vào Phố Hồ Sơ Cá Nhân Thư Riêng (Private Message) Các Bài Đăng Từ Lần Cuối Bạn Vào Các Bài Đăng Ngày Hôm Nay Lịch Sinh Hoạt Ghi Danh Trở Thành Thành Viên của Phố Rùm Những Câu Hỏi Thường Gặp Danh Sách Các Thành Viên
Phố này chỉ để xem lại bài cũ, không còn đăng bài mới lên được. Xin mời các bạn qua thăm Phố Rùm mới .
Phòng ẢNH

MỘT CÁI NHÌN VỀ VIỆC THỜ TỨ PHỦ

 
Xem những đề mục liên hệ: (trong diễn đàn này | trong mọi diễn đàn)

Tham gia dưới tên: Guest
  In Ra
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Nhân Văn >> MỘT CÁI NHÌN VỀ VIỆC THỜ TỨ PHỦ Trang: [1]
Tên login:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
MỘT CÁI NHÌN VỀ VIỆC THỜ TỨ PHỦ - 2/3/2006 1:31:09 AM   
CoBa


Bài: 1367
Từ: San Jose, CA

MỘT CÁI NHÌN VỀ VIỆC THỜ TỨ PHỦ
 
Nguyễn Ðình Phúc


Lời nói đầu:


Bài viết không có ý cổ võ hay bài bác tín ngưỡng này của một số người. Tôi chỉ ghi lại những điều còn trong ký ức cùng vài ba nhận xét riêng. Sự sai sót mong các vị cao niên, người thâm cứu chỉ bảo. Ngoài ra hy vọng giúp những bạn trẻ thêm dữ kiện khi có người ngoại quốc đề cập đến.
 
Xã hội Việt Nam từ khi lập quốc, có nền văn hiến, Tam Giáo (Nho, Thích, Lão) sau này thêm Thiên Chúa Giáo là những tôn giáo lớn đã được du nhập, truyền bá và ngày một phát triển trong dòng sinh mệnh dân tộc. Gần đây thêm Hồi Giáo, Cao Ðài, Phật Giáo Hòa Hảo cũng có hàng triệu tín đồ, gần hơn nữa có Bahai. Nhờ đó, tuyệt đại đa số người Việt hữu thần, ngoại trừ từ khi chủ nghĩa Cộng Sản du nhập, người CS mới công khai nhận mình duy vật, vô thần mà thôi.

Dân Việt trọng tôn giáo, có tinh thần hòa đồng, hòa ái, chẳng những không bài xích tôn giáo khác, mà dù tín ngưỡng khác nhau nhưng nhiều người theo tôn giáo này vẫn giữ một số ảnh hưởng của tôn giáo khác.


Tín ngưỡng đề cập trong bài viết, cách thông thường gọi là lên đồng, với những người tin theo gọi là thờ Mẫu, hay thờ Tứ Phủ. Từ đây tôi xin dùng từ thờ Mẫu và những từ ngữ đúng như người thờ Mẫu sử dụng.



Mấy năm gần đây có ít phái đoàn ngoại quốc đến Việt Nam tìm hiểu việc thờ Mẫu, sau đó nhận định đây là đạo Bản Ðịa Việt Nam (đạo Mẫu). Tôi không đồng ý vì việc thờ Mẫu theo tôi, cao nhất cũng chỉ là sự tôn thờ Tiên Thánh theo ảnh hưởng Lão Trang, chưa hội đủ những yếu tố theo định nghĩa thông thường về tôn giáo như nhiều người thường đồng ý.

Trước hết, người tin theo Mẫu tôn thờ vị Chủ Tể nào, theo giáo thuyết nào, hệ thống tổ chức ra sao? Theo lịch sử và truyền thuyết dân tộc Việt có “tứ bất tử”: Ðức Thánh Gióng, Ðức Tản Viên, Chử Ðồng Tử và Bà Chúa Liễu Hạnh. Ba vị trước chỉ theo huyền thoại, riêng Bà Liễu Hạnh được truyền tụng là vị nhân thần, có thật, quê ở Phủ Giầy (Nam Ðịnh, miền Bắc) vào khoảng cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Những người thờ Mẫu đã tôn thờ hai vị nhân thần là Ðức Thánh Trần (Hưng Ðạo Vương) và Liễu Hạnh Thánh Mẫu (Liễu Hạnh Công Chúa hay Cát Vân Thần Nữ). Một vị biểu tượng cho người Cha, một cho người Mẹ, do đó đền Kiếp Bạc (quê hương Ðức Thánh Trần) Ngài được thờ với những danh xưng Ðức Ông hay Ðức Cha Việt Nam và ở Phủ Giầy (quê hương Liễu Hạnh Thánh Mẫu) Bà được tôn xưng Ðức Thánh Mẫu, Ðức Mẹ Việt Nam hay Mẫu. Ðể nhắc nhở, dân gian thường truyền tụng câu: “Tháng bẩy giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”.

Sau di cư 54, tại Sài Gòn Hội Bắc Việt Tương Tế đã dựng đền thờ Ðức Thánh Trần trên đường Hiền Vương và Phủ Giầy Vọng Từ ở Gia Ðịnh để quanh năm hương khói nhất là vào các ngày hội. Những dịp này, ngoài lễ nghi linh đình trong đền còn tổ chức rước kiệu trên các đường phố. Những Ông Ðồng, Bà Ðồng khăn áo rực rỡ, gươm giáo, chiêng trống được sự chú ý của người hiếu kỳ đứng dọc bên đường.

Từ những thế kỷ trước, ngoài Ðền Kiếp Bạc, Phủ Giầy còn nhiều Ðền, Ðiện rải rác nhiều nơi ở miền Bắc như đền Bắc Lệ, đền Sòng, Ninh Giang… để thờ hai Vị. Từ địa vị đại anh hùng dân tộc, một số người đã mê tín hóa bằng cách truyền tụng Ðức Thánh Trần hiển linh qua xác thân những người ngồi đồng để trừ tà ma qua câu chuyện Phạm Nhan, tướng giặc Nguyên. Chỉ có Ðức Thánh Trần mới trừ được Nhan vì Nhan có pháp thuật tự mọc lại đầu sau khi bị chém. Cuối cùng Phạm Nhan phải phục pháp Thánh, hóa thân thành con muỗi chuyên hút máu người, không còn tác oai tác quái nữa.

Cũng có một số người tôn thờ nhị Vị nhưng nhận thức cao hơn cho rằng hai Vị biểu tượng tốt đẹp nhất cho người Cha và người Mẹ. Ngoài ra cũng mang ước vọng theo gương một người Cha anh hùng, trung quân ái quốc, đã dẹp thù riêng (giữa Hưng Ðạo Vương và nhà Vua) để chung lo việc nước, nhờ đó bảo vệ được độc lập dân tộc qua bài học lịch sử chống quân Nguyên không người Việt nào không biết. Còn Liễu Hạnh Thánh Mẫu, một biểu tượng và ước mong về người Mẹ Việt Nam đức hạnh, tài hoa, nhan sắc.


Theo truyền tụng, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là Công Chúa của Ngọc Hoàng, tài sắc vẹn toàn. Bà thường ẩn hiện, vân du những nơi cảnh sắc hữu tình, đàm luận, xướng họa với những danh sĩ trong đó có Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528-1613) qua chuyện kể sau.


Trạng Bùng tự Hoằng Phủ, hiệu Nghị Trai làm quan đến Hộ Bộ Thượng Thư có công giúp Chúa Trịnh phù Lê diệt Mạc. Một lần đi sứ Trung Hoa đến nơi kia thuộc địa phận Lạng Sơn, gặp cảnh sắc rất nên thơ, muốn ngoạn cảnh Quan Trạng cho lệnh dừng binh. Vừa xuống kiệu, Ngài bỗng thấy một quán lá bên đường tuy bằng tre trúc nhưng rất hữu tình. Quan để tùy tùng ở lại, một mình bước vào quán. Quán nằm dưới ba cội tùng cao chót vót, cành lá xanh tươi. Bên trong chỉ có chiếc bàn tre, trên đặt đĩa đào, một đĩa xôi và bình rượu. Chủ quán bước ra thi lễ. Thoạt nhìn, Trạng bàng hoàng ngỡ tiên nữ giáng trần, vì không thể có trang tuyệt sắc giai nhân giữa chốn thâm sơn cùng cốc như nơi đây. Sau khi an vị, Trạng nhìn trên bàn, hỏi chủ quán:
- Nàng chỉ tính bày bán cho một người hay sao mà đơn bạc như vậy?
Giai nhân cúi đầu mỉm cười đáp:
- Dám bẩm Quan Ngài, quả như vậy, vì thiếp trộm nghĩ Ngài đâu có cho tùy tùng theo hầu.
Quan gật đầu, đón đĩa đào và xôi từ tay chủ quán. Trạng biết cung cách nơi đây khi ăn đào phải dùng xôi lăn trên vỏ để làm tróc lớp lông tơ. Mầu đào ửng hồng khác gì đôi gò má giai nhân đang giáp mặt. Ngài lấy dao khẽ bổ trái đào, hạt đào hiện ra đẹp như mầu hổ phách. Quan đưa miếng đào lên miệng, mùi thơm, vị ngọt chưa một làn được biết trong đời. Men rượu bồ đào thấm ran châu thân. Rồi một trái đào, một ly rượu, rồi đào, rồi rượu…Quan Trạng tưởng chừng mình đã thoát tục. Khi rượu ngà ngà, Quan nhìn lên vách trúc thấy cây đàn, bèn hỏi:
- Chẳng hay nàng cũng quen với hồ cầm? Giai nhân mỉm cười đáp:
- Thiếp cũng thường dạo đôi ba khúc khi gặp khách tri âm.
Nói đoạn với tay lấy đàn, so dây, rồi từ những ngón tay tiên tiếng đàn lúc như suối reo, khi như thác đổ… bay xa trong gió. Quan Trạng ngất ngây thả hồn theo tiếng tơ, như lạc vào cõi tiên. Lòng đầy xúc cảm trước cảnh trí và ngón đàn của giai nhân, Quan quay hỏi người đẹp:
- Ngoài tài hồ cầm, nàng có thích xướng họa thi phú chăng?
Giai nhân vui vẻ nói:
- Thiếp cũng được phụ thân chỉ dạy ít nhiều.
Quan sảng khoái cất giọng đọc vế xuất:
Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử” ý tả dưới bóng cây người đẹp ngồi đàn ca, xướng họa. Cái khúc mắc của vế xuất ở chỗ ghép chữ, chiết tự. Ba chữ mộc là chữ sâm, chữ nữ ghép bên chữ tử thành chữ hảo. Quan đang thích thú với vế xuất vừa hay, vừa lắt léo rất khó đối lại, nhưng cô đã mau mắn, mỉm cười đối lại khi Trạng vừa đứt câu.
Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân”. Ý nói giữa chốn núi non hiện ra con đường, có vị sứ giả chính là Quan. Câu đối rất chỉnh trước những lắt léo của vế xuất. Hai chữ sơn chồng lên nhau là chữ xuất, chữ nhân ghép bên chữ lại là chữ sứ.
Tuy nể phục tài năng, phong cách mỹ nhân, nhưng men rượu tiên, câu thơ thần, tiếng đàn thoát tục khiến Quan xem chừng có vẻ lả lơi. Ngài xoay mình, ngồi sát bên giai nhân, nhìn say đám đôi mắt hồ thu rồi hỏi:
- Ta có thể là Lưu Nguyễn ngày xưa lạc bước thiên thai, hay phải chăng nàng là tiên nữ giáng trần?
Giai nhân mỉm cười đáp:
- Người sống nơi núi rừng, có tâm hồn thanh cao sẽ thành tiên. Còn tiên mà lòng vương tục lụy rồi cũng xuống lại trần, điều này chẳng lạ.
Nói đoạn, giai nhân đứng lên mời quan Trạng ra phía sau quán trúc. Cả một vùng trời xanh, núi biếc thần tiên hiện ra. Thấp thoáng ngôi đền rêu phong bên triền núi. Hai người sánh bước thoắt chốc đã đến cổng, bước lên thềm, vết tích một kiến trúc tuyệt mỹ tuy nhiều chỗ đổ nát, điêu tàn. Trước sân, gốc cổ thụ già, tàn lá rủ xuống bức đại tự treo ngay tiền đình, Quan liếc mắt đọc:
“Mão Khẩu Công Chúa”
Ngài miên man suy nghĩ khi nhìn thấy cội cây bên đền… cây là mộc. Mộc ghép chữ mão là liễu, mộc ghép chữ khẩu là hạnh, như vậy đúng là Liễu Hạnh Công Chúa.
Quan nhìn sang bên, lại thấy bốn chữ:
“Băng Mã Dĩ Tẩu”
Ngài lẩm nhẩm… Băng ghép mã là phùng, dĩ ghép tẩu là khởi. Thôi rồi, Trạng vừa nghĩ ra đây chính là ngôi đền thờ Liễu Hạnh Công Chúa, đền bị đổ nát, nàng tiên tri và có ý nhờ ta khởi công trùng tu. Ý ẩn dụ trong tám chữ đã rõ, Phùng Trạng Nguyên thấy lạnh mình, quay lại thì giai nhân đã biến, trở ra quán trúc bên đường, quán cũng không còn. Vừa lúc đó tùy tùng chạy đến hầu, Trạng kể lại câu chuyện rồi lệnh cho quan sở tại chọn ngày khởi công trùng tu.


Khi đi sứ trở về, Trạng Nguyên Phùng Khắc Khoan còn được hội ngộ thêm lần nữa với Liễu Hạnh Công Chúa bên hồ Lãng Bạc (Hồ Tây) ở kinh đô Thăng Long. Chính nơi đây, sau này phủ Tây Hồ được dựng lên, quanh năm hương khói. Khởi thủy từ đó, những người theo Mẫu thờ tự, bài trí, sinh hoạt ra sao?


Ngay từ khi phát khởi vào khoảng cuối đời Hậu Lê (thế kỷ 16), việc thờ tự này bị triều đình và nhiều người coi là mê tín, dị đoan vì nó chỉ thoát thai từ thuật phù thủy. Vì vậy, việc thờ Mẫu thường phải nép bóng các sinh hoạt tôn giáo lớn để tồn tại.


Trước khi quan sát một ngôi đền Mẫu, xin thử tìm hiểu những cơ sở phụng tự khác như đình, chùa, miếu…Trong mỗi làng xã thường có một ngôi đình thờ thành hoàng (các vị anh hùng dân tộc, danh nhân, nhiều khi cả kẻ tầm thường nhưng chết vào giờ thiêng), thành hoàng được sắc phong của Vua (Thiên Tử - Con Trời). Ngoài ra hương chức cũng dùng đình làm việc, hội họp dân chúng. Theo người viết, cơ sở này không mang tính chất tôn giáo chỉ nên coi như di tích lịch sử, tưởng niệm anh hùng hoặc một nơi mang tín-niệm-hệ địa phương như với những đình thờ trộm cắp, dâm thần… (Tín-niệm-hệ là niềm tin của dân chúng địa phương, thường sai lạc nhưng đã ăn sâu, thời gian sẽ thay đổi). Ngoài ra còn chùa thờ Phật. Nhiều chùa xây thêm điện thờ Mẫu (chùa Bút Tháp, chùa Trăm Gian…). Ở miền Bắc dùng từ chùa ai cũng rõ là nơi thờ Phật, miền Nam gọi là chùa Phật để phân biệt với chùa Ông (thờ Quan Thánh Ðế) hay chùa Bà (thờ Thiên Hậu). Các miếu, am nhỏ bên đường thờ các oan hồn yểu tử.


Trở lại cơ sở thờ Mẫu, nếu nguy nga, đồ sộ được gọi là phủ (phủ Giầy, phủ Tây Hồ), hay đền (đền Kiếp Bạc, đền Sòng Sơn…), nhỏ hơn nằm trong đình, chùa hay tư gia là điện. Sinh hoạt thờ Mẫu (Tứ Phủ) không có tổ chức tu sĩ như các tôn giáo, không có kinh điển, chỉ có ông Ðồng, bà Ðồng, cô Ðồng Ðền (thủ từ - giữ đền) và những câu chuyện truyền khẩu về Mẫu, về việc cúng bái. Ðối với Ðức Thánh Trần, ngoài chính sử có thêm một số điều được thêm thắt. Bà Liễu Hạnh không có trong chính sử nhưng tương đối các lời truyền khẩu còn ít mâu thuẫn. Hàng chục các vị Tiên Thánh khác qua miệng những ông bà Ðồng bằng thì thầm, rỉ tai (sợ bị Thánh quở phạt) nên càng nhiều khác biệt, mâu thuẫn, phi lý.


Ða số ông, bà, cô Ðồng vẫn có vợ chồng, con cháu nhưng cũng có người độc thân vì góa bụa hay những lý do thầm kín khác. Họ đã tự xây hay mua bán, sang nhượng do đó đền là sở hữu riêng, toàn quyền hưởng lộc thánh (hoa lợi mọi mặt). Ðể hiểu thêm về những ông, bà, cô Ðồng xin được nói rõ hơn: Ông, Bà, Cô trước chữ Ðồng thường để chỉ tuổi tác, giới tính (nam nữ, cả những người bán nam bán nữ…) nhưng thường do căn đồng của người đó. Một người đàn ông, có đồng cô phải được gọi là Bà hay Cô Ðồng (Cô Ðồng Mùi đền Sòng Sơn Phú Nhuận) hay một phụ nữ có đồng nam phải gọi là Ông Ðồng (Ông Ðồng Dần đền Nghĩa Dũng Hà Nội trước 54. Bà này cũng bị gọi là Ðồng “hỗn” vì hung ác khét tiếng, nhưng những người ở đền vẫn cúc cung phục vụ, coi là thánh ra oai chứ không phải Ông Ðồng hung ác). Như vậy đối với các phụ nữ có đồng Ông ngay trong sinh hoạt thường ngày cũng có cung cách của nam giới và ngược lại dáng vẻ, nói năng, ăn mặc gần như phụ nữ với một người nam có đồng Cô.

Nói về người tới lui các đền, phủ… số rất ít mới có đồng hay đã đội bát nhang (như đã rửa tội, thêm sức hay quy y) còn lại chỉ tới lễ bái cầu tài lộc, an lành... Vậy lý do, mục đích nào một người phải có đồng hay đội bát nhang? Thông thường đến lễ Mẫu một thời gian, ông, bà, cô Ðồng sẽ khuyến khích đội bát nhang. Nghi thức rất đơn giản: trong một buổi lễ, người này ngồi trước ban thờ Mẫu, được chùm một khăn đỏ lớn phủ kín mặt, vai, thân mình, đầu đội chiếc mâm trên đặt bát nhang. Qua sự khấn vái, đọc sớ của thủ từ, người đội bát nhang sẽ từ từ xoay đảo thân, đầu, mình theo vòng tròn ít phút từ chậm tới nhanh rồi chậm lại, dừng hẳn như vị thế lúc đầu. Bát nhang, khăn được hạ xuống như vậy là lễ tất. Từ đây người này trở thành một con nhang. Sau đó, từ vài ba tháng tới một năm, người đã đội bát nhang có thể làm ăn thấy chưa phát đạt hoặc thua lỗ, yếu đau… ông, bà, cô Ðồng có lý do thúc đẩy mạnh hơn để con nhang phải xin trình đồng (ra đồng). Ðây là bước gắn bó chặt chẽ hơn với Nhà Ðền, với Mẫu. Trước khi tìm hiểu thêm về một vấn hầu thánh ra sao, xin đến một ngôi đền Mẫu hay điện để quan sát kiến trúc, bài trí như thế nào.
Xin mượn ngôi đền Ðông Cuông ở Sài Gòn của ông bà Ðồng Tiệp (là vợ chồng) và đền Nghĩa Dũng bên Hồ Tây Hà Nội của Ông Ðồng Dần làm tiêu biểu. Ðền Nghĩa Dũng dựa lưng đê Yên Phụ, nhìn thẳng xuống Hồ Tây, sát bên đường Cổ Ngư, địa điểm hữu tình, kiến trúc rất nguy nga được coi là lớn nhất Hà Nội ngày ấy (trước di cư 54). Ðền Ðông Cuông vì nằm ngay khu thị tứ Phú Nhuận, khung cảnh giới hạn, nhưng cũng khá khang trang.

Ðền, phủ ít xây cao, bên trong âm u, ánh sáng leo lét, tù mù từ các ngọn đèn nhỏ. Ngoài hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng như ở những ngôi nhà xưa, ngay chính giữa, trên cao thường treo tấm hoành phi mang bốn chữ Mẫu Nghi Thiên Hạ để tôn vinh Liễu Hạnh Thánh Mẫu.

Tính từ phía trong đền (hậu cung) trở ra, có ban thờ Tam Tòa Thánh Mẫu trên cao nhất. Tượng Bà Thượng Thiên Thánh Mẫu Liễu Hạnh (khăn áo đỏ) ngự chính giữa, bên hữu tượng Ðệ Nhị Thượng Ngàn (bà Chúa trên rừng/ngàn) khăn áo xanh, bên tả tượng Ðệ Tam Thoải (thủy) Phủ Thánh Mẫu (Bà Chúa dưới thủy cung) khăn áo trắng. Ban thờ phía ngoài, thấp hơn là ban thờ Tứ Phủ


 Chầu Bà gồm Ðệ Nhất Chầu Bà (khăn áo đỏ), Ðệ Nhị Chầu Bà (xanh), Ðệ Tam Chầu Bà (trắng) và Ðệ Tứ Chầu Bà (vàng). Phía ngoài cùng là ban Công Ðồng, gồm tượng Vua Cha và Ngũ Vị Tôn Quan: Quan Lớn Ðệ Nhất (khăn áo đỏ), Quan Lớn Ðệ Nhị (xanh), Ðệ Tam (trắng), Ðệ Tứ (vàng) và Ðệ Ngũ (xanh lam).

Tất cả các pho tượng đều mặc khăn áo gấm vóc, trang điểm vàng bạc rực rỡ không như tượng trong nhà thờ Chúa hay chùa Phật. Các sập (giống như bộ ngựa) để hầu thánh kê cao thấp xen kẽ giữa các ban thờ. Hai gian trái phải, tôn trí tượng các Cô, Cậu bưng khay trầu, rượu, cầm quạt đứng hầu chư vị tiên thánh. Ngoài ra, rải rác nhiều nơi đặt những giá binh khí cổ như đao, mâu, kích… để tăng uy nghi. Trên trần treo những nón, khăn, hài lớn nhỏ cùng nhiều đồ thờ tự khác. Trên trần có những cặp rắn chầu, quấn theo xà nhà. Ngoài ra, tiền đường đền hay miếu phụ còn bài trí bốn ban thờ: Lầu sơn trang, Ngai Trần Triều, Bà Chúa thủ đền, bạch hổ…Tất nhiên tùy cơ ngơi của ngôi đền, nếu “đền to, phủ lớn” như Nghĩa Dũng, Hòa Mã (Hà Nội xưa), Phủ Giầy, Thủy Lâm Ðộng (Túc Trưng, Long Khánh) thì căn bản như trên. Ngược lại, nếu cảnh “đền nghèo, lính khó” thì thu nhỏ, đơn sơ như đền Hàng Trứng, Hàng Trống (Hà Nội) hay các điện tại gia.
Một buổi lên đồng (vấn hầu) diễn tiến ra sao?

Vào những dịp hội (Phủ Giầy, Kiếp Bạc…) hay những ngày tiệc (tiệc Quan Hoàng Ba, Hoàng Bảy, Quan Lớn Tuần Tranh…) người có đồng tự ý xin nhà đền hay các ông, bà Ðồng sẽ nhắc nhở, thúc bách để hầu thánh cho được “mát mẻ” (ngôn ngữ cửa Mẫu). Trước hết người muốn hầu phải cho biết sẽ sửa lễ lớn hay nhỏ. Lớn khoảng 2, 30 mâm cỗ, nhỏ 5, 7 mâm. Rồi tới vàng mã (bằng giấy, khung tre) các hình nhân (người), voi ngựa, thuyền rồng… sau này còn làm cả nhà lầu, xe hơi… Mã thường bày bán ở phố Hàng Mã (Hà Nội) hoặc từ người có nghề do nhà đền giới thiệu (tất nhiên có hoa hồng) cả đôi bên. Người hầu thánh đưa tiền cho nhà đền đặt vàng mã, nấu cỗ bàn, hoa trái…Mọi thứ phải là loại tố hảo (tốt đẹp, hảo hạng) nên giá tiền theo đó phải khác. Người ta có tâm lý hơn thua, vay trả nên bà A sửa lễ mười phần, thì bà B phải vài ba lần hơn, và theo đó “leo thang”, nhất là có sự khích bác của các ông bà Ðồng mưu chước, giảo hoạt…

Ngày hầu thánh, người đi hầu cần mời vài ba bạn thân đi hầu dâng làm nhiệm vụ giúp người ngồi đồng thay đổi khăn chầu áo ngự, kêu cầu giúp người đến lễ bái. Phần “khăn chầu áo ngự” người giầu sang may sắm riêng loại thượng hảo hạng trong khi “đồng nghèo lính khó” phải mượn của nhà đền. Một bộ phận rất quan trọng là nhóm cung văn để hát chầu. Chầu văn là một điệu hát đặc biệt, rất truyền cảm xin nhớ lại mới đây vidéo Ái Vân, Ngọc Hạ đã trình diễn. Trưởng cung văn thường là thân nhân, hay gần cận nhà đền. Ít nhất cũng cần một người đàn nguyệt, một hai người hát chầu, thêm ít người trống phách nhị hồ… chẳng khác gì ban nhạc sống ngày nay.


Người theo Mẫu còn tin rằng ngoài Mẫu Thượng Thiên còn nhiều vị tiên thánh khác. Có vị ngự trên ngàn (rừng) (Bà Chúa Thượng Ngàn), dưới sông nước (Bà Chúa Thoải Phủ), chư vị Tôn Quan, Cô Bơ, Na Tra…nên một vấn thường hầu năm bẩy giá (vị). Ngày nay nhiều người hầu tới mấy chục giá, mục đích chắc chỉ để “trình diễn thời trang“ vì không còn giờ truyền phán gì cả.


Trở lại vấn hầu, lấy thí dụ giá Bà Chúa Thượng Ngàn. Khi giá trước thăng, vuông vải đỏ phủ kín sẽ được bỏ ra (giống như mỗi lần kéo mở màn sân khấu), người hầu thánh dơ mấy ngón tay làm hiệu. Hầu dâng khấn vái, cung văn sẽ hát đúng giá mới nhập. Người hầu thánh (nay xin nói tắt là Thánh) được hai người hầu dâng dâng áo, thánh cầm cây nhang phất qua lại làm phép trước khi mặc. Cũng nên nhớ khi hầu luôn mặc áo dài trắng vào trong, giá khác nhập, chỉ thay đổi khăn áo ngoài. Khi đã tề chỉnh, thánh hướng về phía ban thờ làm lễ. Nếu giá các vị quan lớn, ngài sẽ lễ theo cách lên gối xuống gối, còn giá chầu (bà, cô) chỉ ngồi xếp bằng lễ mà thôi. Khi lễ xong, thánh ngồi ăn trầu, hút thuốc, nghe cầu khấn rồi truyền phán… Trước khi thánh dùng rượu, thuốc…hay ban lộc (bùa, dấu, tiền…) thánh đều dùng cây nhang phù phép. Người hầu dâng phải dùng chiếc quạt trầm che miệng thánh mỗi khi các ngài sơi trầu, rượu. Sau những thủ tục thông thường, nếu là giá các Quan thì múa gươm đao để “diễu võ dương oai”, giá Bà Chúa Thượng Ngàn múa đăng (2 tay kẹp hai mồi lửa nhỏ), Bà Chúa Thoải chèo đò… Cung văn cứ theo đó đàn hát các câu, bài thích hợp. Giá các Quan thường đặt chiếc gối xếp sát bên để Quan tì cánh tay lên hoặc khi truyền phán điều gì thường đập tay trên gối làm oai. Con nhang đệ tử sẽ kêu cầu điều này điều nọ. Nếu chưa có ai, để tránh “temps mort” (thời gian trống) người hầu dâng sẽ khấn vái đại khái như sau:
Con lậy thánh mớ (nhiều) bái, họ Nguyễn chúng con (không xưng tên, chỉ dùng họ) là ghế đệm của Mẫu (tự coi mình thấp hèn), con xin Mẫu xá u xa mê, xá lầm xá lỗi cho con, xin Mẫu khai tâm mở miệng cho con để con biết làm tôi cửa Mẫu, ăn mày lộc Mẫu…”
Thường sau mỗi đoạn sẽ kéo dài, miệng xuýt xoa, như người bị phỏng, bị đau rồi khấn vái tiếp:
Lậy thánh mớ bái. Con xin Mẫu cho phu quân (chồng) con được thăng quan tiến chức, cho con được buôn may bán đắt…” (tha hồ xin Mẫu). Có người tham lam, xin nhiều quá, bị chung quanh khó chịu lườm nguýt. Sau khi nghe tấu trình, van vái như vậy có khi Mẫu vui vẻ gật gù ban tài phát lộc (tiền bạc, kẹo bánh, hoa quả…) có khi Mẫu giận dữ, quở trách:
Hừ! hay cho nhà ngươi há! chẳng những ngươi không biết đến cửa Mẫu ta, lại còn dám báng bổ (cười chê, dè bìu), ta sẽ làm cho ngươi biết quyền phép ta nghe!”
Nếu ai bị thánh quở phạt như vậy sẽ thất kinh, xì sụp van lạy hay nhờ những người khác vào “cứu bồ”. Người kia sẽ van vái giúp:
Tấu Cô! Con cắn rơm cắn cỏ lậy Cô. Họ Vũ con kêu thay cho họ Nguyễn, họ Nguyễn có mắt như mù, có tai như điếc. Cô là người nhà trời, Cô là con Vua, cháu Chúa, Cô chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan, Cô đánh kẻ chạy đi nhưng không ngăn kẻ chạy lại…”
Khi ấy Mẫu (hay Cô) sẽ đổi từ giận dữ sang vui vẻ, rồi tiếp tục ban tài phát lộc. Mẫu cũng có nguyên tắc: trước hết cho lộc thủ từ, hầu dâng, đến các vị vọng, rồi cung văn, gía trị lộc thánh từ cao giảm lần xuống đến người lễ bái, trẻ con. Lộc cũng khác biệt giữa người hầu sang cả so với người hầu nghèo túng. Chính vì vậy cung văn hát cho những đồng thuộc (như đạo gốc), giầu sang thì nhiệt thành, hứng thú vì lộc thánh sẽ hậu hĩ, trái lại hát uể oải, lơ là vì lộc thánh cũng chỉ điếu thuốc, viên kẹo…(như ban nhạc đối với ca sĩ cây nhà lá vườn). Ở hải ngoại hiện nay, số cung văn rất hiếm, thường dùng băng cassette thâu lại, người hầu dâng chỉ cần bấm nút. Mọi việc ban phát, phán truyền mỗi giá hầu kéo dài khoảng từ 20 đến 30 phút. Sau đó thánh lại phủ tấm vải đỏ rồi thăng (ra khỏi xác). Giá khác nhập, khăn phủ lại bỏ xuống. Ví dụ đến giá Quan Lớn đệ nhất (áo đỏ), lập tức người hầu thánh biến đổi ngay mọi phong cách, lời ban truyền thích nghi với giá vừa nhập. Khăn áo được thay: bài ngà, cân đai bố tử… riêng khăn trên đầu (khăn xếp) sẽ do các hầu dâng quấn.


Nhân đây cũng xin viết về khăn. Xưa kia, các cụ ông chúng ta, thường tự quấn lấy mỗi khi ra ngoài, sau này mới dùng loại khăn xếp (khăn đóng) đội lên. Thời đệ nhất cộng hòa, lãnh đạo dùng quốc phục trong dịp giỗ tổ, quốc khánh, tết nguyên đán... Các vị này vì hiểu biết nên chỉ dùng khăn và áo đen, đôi khi áo xanh lam nhưng vẫn khăn đen. Nhiều quan niệm khắc khe, không dùng cả mầu xanh, vì cho rằng mầu này chịu ảnh hưởng nhà Thanh. Mầu truyền thống vẫn là đen. Gần đây trong nhiều buổi lễ cộng đồng, có vài ông chủ tịch lại mặc luôn khăn và áo đồng mầu vàng, hay đỏ. Có thể do không hiểu hay tự cho mình là đại diện cộng đồng trên cả nước, cả tỉnh bang so ra ít gì cũng ngang tầm với… vua hay phó vương nên mặc vậy cho đúng “nghi vệ”. Khổ cho những người hiểu biết vì nhìn ai mang khăn áo như vậy chẳng khác nào ông đồng hay người ái nam ái nữ (mạn phép dịch nôm là “lại cái”) chứ đâu phải truyền thống dân tộc.


Nói chung dù một vấn hầu thánh có bao nhiêu giá cũng chỉ quanh quẩn truyền phán chung chung, kêu cầu tài lộc như vậy. Riêng việc cầu tự (cầu con) là dài dòng hơn. Ðộc giả chắc còn nhớ hình ảnh một con cầu tự trong tiểu thuyết Số Ðỏ của Vũ Trọng Phụng và mới đây qua hồi ký của một tướng “tàu bay”. Những cặp vợ chồng lấy nhau lâu chưa con mới đi “cầu tự” chứ con cái như hình ảnh “gia đình bác Lê” trong tiểu thuyết TLVÐ thì thánh có gọi đến cho “free” chắc cũng lậy thánh mớ bái. Khi đi cầu tự về, hai vợ chồng thường mua thêm một vé tàu xe (cho bé), nếu “cầu được ước thấy” đứa bé là con cầu tự. Cha mẹ phải đem đến đền bán khoán cho đức thánh Trần, thánh sẽ đặt tên. Bất kể đứa bé họ gì, ví dụ Nguyễn Cao Cờ cũng được đổi thành Trần Ðình Cờ hay một tên gì đó nhưng phải là Trần Ðình (họ của thánh). Từ đây tuy cha mẹ sinh ra nhưng bé là con Mẫu không được gọi con, phải gọi “chú”, “em” hay “cậu”. Ðến khoảng 12 tuổi (hết tuổi sài đẹn) mới sửa (mua sắm) lễ đến đền “chuộc” về. Ðại đa số con cầu tự rất hư vì cha mẹ ngoài tình thương yêu sẵn có còn sợ chúng là con Mẫu, chỉ gởi vào nhà, nếu để chúng giận hờn, bất ý sẽ bỏ về với Mẫu ngay (chết) nên nuông chiều vô lối, vô giới hạn.


Về việc hầu thánh, có người thắc mắc không rõ lúc hầu, người ngồi đồng có “mê”, “ngất trí”… còn biết chuyện xẩy ra chung quanh không. Thực sự nó chỉ giống như người đến vũ trường: tiếng nhạc, ánh đèn mầu, không khí vui khiến người biết khiêu vũ thấy hào hứng, bước ra sàn. Người có đồng nghe chầu văn, mùi nhang, khung cảnh thần tiên cũng muốn hầu thánh. Có người vẫn chưa hết thắc mắc: nếu không phải là thánh nhập sao có thể tự cắt lưỡi để ra dĩa, xiên lình (dùng que sắt xuyên suốt hai má) hay thắt cổ mặt to như cái mâm, giá ngài chúa sơn lâm nhập ăn nguyên chiếc đùi heo sống… Xin thưa: trong cả ngàn người hầu, chưa chắc có một làm được điều trên, nhất là thực hư sao kiểm chứng. Các fakia ấn độ còn làm được nhiều điều ghê gớm, trên TV biết bao điều lạ thường, ngoạn mục cũng do xảo thuật.


Như vậy rất ít người thành tâm, số đông hùa theo, hơn nữa bỗng nhiên mình được mọi người vái lậy, van xin… được dịp phô trương sao không thích thú. Trước 75 ở đường Nguyễn Thông Sàigòn một người tự xưng Chiêu Thánh Hoàng Ðế, chuyện thật tiếu lâm, nhưng cũng có bao nhiêu trí thức, vị vọng xin đến chầu. Ðức Ngài cũng phong thượng thư, tổng đốc, ban cả thẻ ngà, sắc chỉ có sao đâu. Thiếu chi người cả đời cứ tự cho mình là vua, tổng thống…Theo tâm-lý học đây là hội chứng tâm thần. Người có đồng tánh nết thường đột ngột thay đổi khi rất cởi mở, dễ dàng với mọi người, khi thật khó chịu, ngay cả tự nhiên cười khóc vì vậy mới có câu “tánh đồng bóng”. Khi độc giả được mời dự lễ hầu thánh, quý vị muốn khen tặng theo xã giao người vừa ngồi đồng, không nên khen cách thông thường như buổi hầu, quần áo trang điểm đẹp đẽ. Xin đề nghị một câu rất đứng ngôn từ của “tôi con nhà thánh” như sau:
“Hôm nay anh, chị hầu thánh, thánh thương rất là sát căn đổi diện, khăn chầu áo ngự thật tố hảo!”.
Câu khen này mang ý nghĩa thánh ban cho họ hầu thánh rất chuẩn xác, giá ông Hoàng uy nghi, oai vệ, giá Mẫu, Cô xinh đẹp, trẻ trung, khăn áo sang trọng, mỹ miều…Bảo đảm với lời khen này lần tới thánh sẽ ban lộc 5, 7 lần nhiều hơn cho quý vị.


Mấy trăm năm qua, việc thờ Mẫu khi có khi không cho đến năm 45, Việt Minh (CS) cướp chánh quyền lấy lý do bài trừ mê tín đã cấm tuyệt việc đồng bóng, bói toán. Nhưng ngày nay, sau chính sách “đổi mới”, đồng bóng trong nước “phục hoạt” phát triển đồng bộ với chính sách du lịch, tắm hơi, bia ôm... Bọn cán bộ VC thấy mối lợi lớn nên quay ra khai thác, nắm thùng tiền các đền phủ cũ và tự xây cất thêm mới vừa được tiếng tôn giáo tự do, vừa thu lợi riêng. VC còn mở rộng ngành kinh doanh “buôn thần bán thánh” bằng cách cho các “đồng cô bóng cậu” ra nước ngoài “giao lưu văn hóa” nữa. Thật nhất cử lưỡng tiện.



Bài viết đã dài, người viết xin trở lại một dịp khác về các nghi lễ Mỡi của người Mường, Then của người Tày và những hình thức gần gũi tục lên đồng như phụ đồng chổi, đồng chén, đồng ếch…

NGUYỄN ÐÌNH PHÚC

http://www.langchai.com/Lieu%20hanh.htm




_____________________________

Một quê hương-một ngôi nhà-một tuổi thơ vá lại
EaSola
Bài số: 1
Lễ hội Kỳ Yên - 2/11/2006 9:41:55 AM   
áo vàng xưa


Bài: 2017
Lễ hội Kỳ Yên
 
Hàng năm, mỗi đình làng ở Bình Dương có nhiều ngày lễ:
- Các lễ tiết tứ thời có ngày đưa thần (25/12), rước thần (30/12), nguyên Đán (1/giêng), Đoan Ngọ (5/5), khai sơn (7/1).
- Xưa kia, ngày 25 tháng chạp, lúc hội có còn làm việc tại đình, có lợi rửa con dấu bỏ vào hộp niêm kín, rồi dựng nêu báo tin thời gian nghĩ tết. Do đó ngày đưa thần còn gọi là ngày dựng nêu hoặc ngày niêm ấn. Đồng thời đến chiều ngày mồng 7, hương chức hội tề làm lễ khai ấn.
- Các ngày lễ của các tôn giáo xâm nhập vào chốn đình trung có ba ngày Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên.

- Các ngày lễ mang tính dân gian như lễ cúng miếu, cầu an tống phong.
Nhưng quan trọng nhất là lễ Hạ Điền và Thượng Điền. Lệ Hạ Điền thường tổ chức đầu mùa mưa - biến dạng của lễ Xuân Tế và thường ba năm có lệ lấy ngày Hạ Điền là ngày Kỳ yên. Còn lễ Thượng Điền tổ chức vào cuối mùa mưa, gọi là Thượng Điền chạp miễu. Nhưng ở Bình Dương thường không tổ chức lễ Thượng Điền vào những ngày cuối năm mà lại ảnh hưởng điển lễ "thu tế", tổ chức lễ Cầu Bông (còn gọi là lễ Cầu Hoa, Kỳ Huê) tổ chức vào khoảng giữa tháng 8. Đại khái các đình trong tỉnh Bình Dương mỗi năm đều có một lễ lớn và một lễ phụ Kỳ yên có nghĩa là cầu an, có nơi gọi là vía thần Thành Hoàng, vía Ông. Đây là lễ hội quan trọng nhất trong năm. Lễ này kéo dài một ngày rưỡi đến ba ngày. Theo Trịnh Hoài Đức tác giả sách Gia Định Thành Thông Chí thì ngày giờ cúng tế tuỳ theo tục lệ của từng làng. Có chỗ chọn tháng giêng, tháng hai, giữ nghĩa "Xuân kỳ", có nghĩa vào mùa xuân làm lễ cầu thần cho được sắp tới. Hoặc có chỗ tháng 8, tháng 9, giữ nghĩa "thu báo", có nghĩa vào mùa thu làm lễ báo đáp sau khi gặt xong. Hoặc dùng trong ba tháng mùa Đông, giữ nghĩa trọn năm đã thành công nên tế "chưng", tế "lạp" tạ ơn thần (ta gọi là chạp miễu). Như thế lễ Kỳ yên hay lễ Cầu Bông đều nhằm mục đích cầu "Phong điều vũ thuận", mùa màng bội thu, "Quốc thái dân an", làng xóm yên vui, dân giàu nước mạnh.

Kỳ yên thường tổ chức vào các ngày 12 - 13 hoặc rằm - 16 là những ngày có trăng để dân làng có thể đến tham dự suốt đêm, ra về thuận tiện. Trong những ngày này triều cường cao, ghe xuồng tới lui cũng tiện. Kỳ yên thường tổ chức vào những tháng giao mùa như tháng 2, tháng 4, tháng 11… là thời điểm dân làng rãnh rỗi. Hiện nay chúng ta thấy nhiều đình ở gần nhau thì có ngày lễ hội trùng gống nhau. Tương truyền đó là ngày đưa sắc thần về làng nên dân làng tổ chức hội hè ăn mừng. Nhưng đó chỉ là một cách giải thích.

Chương trình lễ Kỳ yên tại các ngôi đình ở Bình Dương diễn tiến như sau:
-Lễ Khai môn
-Lễ thỉnh sắc thần
-Lễ Tiền Hiền, Chiến sĩ, Cúng miếu.
-Tế Túc Yến
-Tế Đàn Cả
-Lễ Đưa Sắc

Lễ Kỳ yên (tại đình làng) hay các lễ cúng tế ( tại các miếu thờ phúc thần) đều mục đích tạo việc cho dân địa phương đến lễ bái cầu làng xóm bình yên, quốc gia thịnh vượng. Lễ Cầu Bông còn mang nét đặc trưng của nông nghiệp, lễ này có nghi tiết tế Thần Nông, Vũ Sư, Phong Bá, Lôi Công, Điển Di… cùng các vị thần sông núi để cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Ngày Kỳ yên cũng là ngày tế Tiền Hiền - Hậu Hiền, Tiền Bối - Hậu Bối … Đây là một nghi lễ bắt nguồn từ nếp nghĩ quý trọng công lao của các bậc tiên tổ có công, biểu thị tư tưởng truyền thống uống nước nhớ nguồn, một hình thức tri ân các bậc tiền nhân có công khai sáng bồi đắp cho địa phương.

Gần đây các đình trong tỉnh Bình Dương thịnh hành tục thờ phượng cúng tế các liệt sĩ, là con dân trong làng hy sinh vì sự nghiệp cứu nước và giữ nước. Hoặc các đình định ra nghi thức niệm hương tưởng nhớ đên Chủ Tịch ****, Vị lãnh tụ tài ba của dân tộc. Các tục lệ này bao hàm ý nghĩa cũng tương tự như tục lệ thờ cúng các danh nhân hữu công ở địa phương, cần duy trì và phát huy.

Theo tên gọi, "Kỳ yên" tức là "Cầu an". Do đó ngoài nghi thức tế tự chính thống còn mang nhiều dạng tính ngưỡng dân gian. Như trong ngày Kỳ yên có lễ cúng miễu, có thể mời bà bống diễn xướng múa hát. Một số nơi ngày Kỳ yên có thể mời thầy Pháp đến làm lễ tống ôn, tá thổ. Một số nơi, nhiều nhà sư đến tụng kinh cầu an cho bà con trong làng trong xóm. Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng như thế vì xưa kia có nơi quan niệm chính thống đã lấn át các loại tín ngưỡng dân gian. Hơn nữa, càng về sau các loại nghi lễ không còn hợp thời, (như lễ Tống On, Tá Thổ) cũng bị trào lưu khoa học tấn công nên đã bị trừ. Thế nhưng từ khi kinh tế thị trường mở cửa thì các dạng tính ngưỡng dân gian này có khuynh hướng khôi phục.
Lễ hội là dịp trưng bày tài nghệ, sự khéo léo của dân chúng. Đây là dịp chị em phụ nữ thi tài làm bánh, thổi sôi (thông qua lễ vật dâng cúng). Đây là dịp các nghệ nhân giới thiệu tài chưng kết bằng hoa quả, cây lá, giới thiệu bộ đỉnh đồng, cái lọ cắm hoa… có một số nơi ngày Kỳ yên còn là dịp giới thiệu các loại trái cây đầu mùa… xa hơn có nơi còn tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, triển lãm gia súc, gia cầm… sau lễ hội ban tổ chức thường trích một phần quà phát thưởng (có thể là một khúc vải, một ít tiền) giá trị vật chất tuy không nhiều nhưng về tinh thần thì không có gì sánh được.

Nói đến lễ hội là nói đến tiệc tùng, hát xướng. Thế nhưng ở địa phương Bình Dương không có cảnh "chiếu trên, chiếu dưới" cũng không có cảnh "miếng thịt làng bằng một sàng xó bếp". Lý do là theo tục lệ ở Nam bộ khi chức vụ cao được phần nhiều thì phải đóng góp nhiều. Hơn nữa, ngay từ khi những ngày đầu bị đô hộ, đình làng hội hè đã không còn do chính quyền địa phương trực tiếp quản lý. Do đó những người tham gia lễ hội có tính tự nguyện và bình đẳng, nhưng mang tính chiêu đãi thù tạc vui vẽ. Ở thị xã, thị trấn… cảnh ăn uống nhậu nhặt say sưa trong ngày lễ hội đã bắt đầu lùi vào quá khứ.

Còn hát bội trong ngày Kỳ yên là chương trình văn nghệ mang tính nghi lễ gồm ba tiết mục: Khai chầu đại bội, hát tuồng và tôn vương, hồi chầu. Tiết mục cuối cùng mang tính chúc tụng. Tiết mục đầu tiên mang tính nghi lễ như tẩy uế, thử trống và đánh ba hồi trống khai tràng. Chương trình đại hội là chương trình văn nghệ gồm các điệu múa cung đình giải thích thuyết tạo lập vũ trụ theo Dịch lý từ Thái cực sinh Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Ngũ Hành. Tiếp theo chương trình đại hội là ba màn hát: hai màn đầu có thể là cảnh loạn lạc, người trung bị gian thần hãm hại, vua bị tiếm quyền. Nhưng màn cuối cùng bắc buộc chính nghĩa phải thắng gian tà. Như vậy chức năng hát bội cung đình không hoàn toàn là trò biểu diễn giúp vui mà còn mang tính nghi lễ. Như thế người cầm chầu là người thay mặt thần, thay mặt khán giả khen chê bằng tiếng trống.

"Nghe trống chiến chết điếng cái đầu, nghe trống chầu cái đầu láng mướt" là tâm trạng của dân làng trong ngày Kỳ yên. Xưa kia theo nguyên tắc "tam niên đáo lệ Kỳ yên", tức là ba năm phải tổ chức Kỳ yên to, có tế lễ, có hát xướng. Thế nhưng sau giai đoạn chiến tranh kéo dài một phần truyền thống được khôi phục, nhưng nhìn chung chỉ mới có một số đình đủ điều kiện tổ chức theo lễ.

Sưu Tầm (http://www.vietnhim.com)



_____________________________

Con cò bay lả bay la
Bay từ cổ tích bay qua đời mình
...

(trả lời: CoBa)
Bài số: 2
Trang:   [1]
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Nhân Văn >> MỘT CÁI NHÌN VỀ VIỆC THỜ TỨ PHỦ Trang: [1]
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết


Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 6-10/2009:
Mai Dang, Bao Cuong, vann, Tương Kính

Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh

Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.

Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode