Linh Tinh Phố Rùm Bài Viết Gia Chánh Lời Tình K Truyện Chọn Lọc Thơ Tình
Trở lại trang đầu
Đi Vào Phố Hồ Sơ Cá Nhân Thư Riêng (Private Message) Các Bài Đăng Từ Lần Cuối Bạn Vào Các Bài Đăng Ngày Hôm Nay Lịch Sinh Hoạt Ghi Danh Trở Thành Thành Viên của Phố Rùm Những Câu Hỏi Thường Gặp Danh Sách Các Thành Viên
Phố này chỉ để xem lại bài cũ, không còn đăng bài mới lên được. Xin mời các bạn qua thăm Phố Rùm mới .
Phòng ẢNH

Mạc Đĩnh Chi

 
Xem những đề mục liên hệ: (trong diễn đàn này | trong mọi diễn đàn)

Tham gia dưới tên: Guest
  In Ra
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Lịch Sử (trước 1930) >> Mạc Đĩnh Chi Trang: [1]
Tên login:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
Mạc Đĩnh Chi - 5/20/2004 12:53:43 AM   
Pho Buon

 

Bài: 27
Mạc Đĩnh Chi (1272-1346), tự là Tiết Phu, người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Khi Mạc Đĩnh Chi sinh ra, tướng mạo vô cùng xấu xí: lùn, đen, mồm rộng, mũi tẹt, trán dô. Người làng thường bảo đó là con khỉ tinh nghiệm vào. Nhưng ông lại rất thông minh, ngay từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng. Đời Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), ông đi thi, văn bài làm trội hơn mọi người nhưng vì mặt mũi xấu xí nên nhà vua không muốn cho ông đỗ. Ồng bèn dâng bài “Ngọc Tỉnh Liên Phú” (bài phú: Sen trong giếng ngọc) để nói lên cái phẩm giá thanh cao của mình. Trong bài phú có những câu như:

Phi đào lý chi thô tục; phi mai trúc chi cô hàn
Phi tăng phòng chi cẩu kỷ; phi Lạc thổ chi mẫu đơn
Phi Đào lệnh đông ly chi cúc; phi linh quân cửu uyển chi lan
Nãi thái hoa phong đầu ngọc tỉnh chi liên….


Nghĩa là:

Chẳng phải như đào trần, lý tục; chẳng phải như trúc cỗi, mai gầy
Cẩu kỷ phòng tăng khó tránh; mẫu đơn đất Lạc nào bì
Giậu Đào lệnh cúc sao ví được; vườn Linh quân lan sá kể gì
Ấy là giống sen giếng ngọc ở đầu núi Thái Hoa vậy!…

Vua xem xong bài phú, tỏ ý rất cảm phục, liền cho Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên. Về sau ông làm tới chức tả bộc xạ (thượng thư) và là ông quan thanh liêm, được nhân dân rất yêu mến.

Có lần Mạc Đĩnh Chi phụng mệnh vua dẫn đầu đoàn sứ giả nước Đại Việt sang sứ nhà Nguyên bên Tàu. Đã một lần biết tiếng trạng nguyên nước Việt, người xấu xí nhưng ứng đối như thần, bọn quan lại nhà Nguyên vẫn muốn thử tài quan trạng. Tuy đã có hẹn trước với người Tàu ngày mở cửa ải, bất ngờ hôm ấy trời lại mưa, Mạc Ðĩnh Chi sai hẹn, hôm sau tới cửa ải Phong Lũy thì người Tầu đóng kín không cho vào.

Một vế đối được thả theo dây buộc xuống thách đối lại, nếu không đối được sẽ không mở cửa ải. Vế đối như sau:

Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan

Nghĩa là: Qua cửa ải trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa quan.

Vế đối chỉ có mười một chữ, nhưng hiểm ở chỗ có tới bốn chữ "quan", còn chữ "quá" được nhắc tới ba lần. Đây hẳn là câu đối được chuẩn bị khá kĩ từ trong triều nhà Nguyên, chứ không phải viên quan trấn ải nghĩ ra được. Nếu không đối được thì quá bẽ mặt, chỉ còn cách cả đoàn sứ ra về, nhục quốc thể. Mạc Đĩnh Chi nghĩ một lát rồi ứng khẩu:

Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối”.

Nghĩa là: Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, mời tiên sinh đối trước.

Vế đối lại dùng mười một chữ, cũng dùng tới bốn chữ "đối" trong vế, còn chữ "tiên" được nhắc 2 lần. Ý đối chỉnh và người đối lại rất nhanh, lại có thể hiện sự nhún nhường.

Bọn quan coi ải vô cùng kinh ngạc vì tài ứng đối, vội ra lệnh mở cửa và bày nghi lễ đón tiếp trọng thể sứ đoàn Đại Việt.

Tới kinh đô, Mạc Đĩnh Chi được vời vào diện kiến hoàng đế nhà Nguyên. Vua Nguyên vốn kiêu căng, tự cho mình là thống lĩnh trái đất, tự ví mình như mặt trời đỏ. Để trấn áp quan trạng Việt Nam và tỏ ý coi thường nước Đại Việt nhỏ bé, hoàng đế Nguyên đọc một câu đối (do triều thần soạn sẵn), đòi trạng Việt phải đối lại:

Nhật: hỏa; vân: yên; bạch đàn thiên tàn ngọc thỏ”.

Nghĩa là: Mặt trời (là) lửa, mây (là) khói; ban ngày đốt cháy vầng trăng.

Mạc Đĩnh Chi hiểu rõ dụng ý kẻ cả nước lớn và cả mục đích đe dọa của vua Nguyên. Cần phải khẳng định ý chí của Đại Việt và sức mạnh quật cường của Đại Việt, quan Trạng ứng khẩu đọc vang:

Nguyệt: cung; tinh: đạn; hoàng hôn xạ lạc kim ô”.

Nghĩa là: Trăng (là) cung, sao (là) đạn; chiều tối bắn rơi mặt trời).

Vế đố lại thật giỏi về nghĩa về chữ. Lại thấy trăng lưỡi kiềm như cánh cung, những vì sao tròn như viên đạn, đây là sự hình dung thật tuyệt. Song, hay hơn cả là vế đối tỏ rõ sức cứng rắn của người nước Việt, không lời đe dọa nào làm cho run sợ, sẵn sàng đối phó với kẻ thù.

Vua tôi nhà Nguyên nhìn nhau, lòng đầy thán phục. Hoàng đế sai mang lụa và vàng bạc tặng thưởng Mạc Đĩnh Chi, rồi nói:

- Có một bài thơ của sứ thần của ta mà vua nước Nam không hiểu nổi, phải nhờ đến ngươi mới xong, chẳng hóa ra vua nhà Trần dốt nát chăng?

Mạc Đĩnh Chi cười ầm lên, rồi chắp tay cung kính đáp:

- Tâu hoàng thượng! Giải nghĩa một bài thơ nhỏ là phận của kẻ bầy tôi, chứ đâu phải là công việc của bậc cao tôn như vua nước tôi.

Vua Nguyên cảm phục tài và đức, bỏ qua những đố kị với nhà Trần. Khi hết nhiệm vụ sắp về nước, Mạc Đĩnh Chi được vua Nguyên đích thân phê bút phong “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên”.


Tham khảo tại www.vietsuns.com, www.limsi.fr/Recherche/CIG/edefi.htm
Bài số: 1
RE: Mạc Đĩnh Chi - 10/10/2006 6:33:13 AM   
tokito_sama

 

Bài: 2
Có tài liệu nào nói về chuyện tình giữa Mạc Đĩnh Chi với 1 nữ nhân thời Goryeo của Cao Ly không ạ??
Nếu ai biết về chuyện này xin giúp đỡ!!

(trả lời: Pho Buon)
Bài số: 2
RE: Mạc Đĩnh Chi - 12/20/2006 1:18:45 AM   
tokomo

 

Bài: 1
Ông Mạc Đĩnh Chi khi đi xứ sang Hàn Quốc đã có một chuyện tình với một cô con gái của viên quan bên đó (không rõ ràng lắm), sinh được hai người con trai. Hai người này sau đó, một người trở thành quan văn và một trở thành quan võ, con cháu của họ có người đã nhiều lần tìm về Việt Nam để rỗ tổ. Gần đây con cháu của họ cũng tìm về thắp hương tại đền thờ Mạc Đĩnh Chi. Nếu bạn muốn biết chuyện này thì tìm cuốn "Mạc Thi Thế phả hợp biên" may ra có chút thông tin.

(trả lời: Pho Buon)
Bài số: 3
RE: Mạc Đĩnh Chi - 12/20/2006 8:31:45 PM   
hoanghac

 

Bài: 4418
Thể loại và chủ đề của cuộc thi:
Chủ đề cho thể loại thi viết: gồm 2 đề tài
* Hãy cho biết cảm nhận của bạn về khẩu hiệu “Dynamic Korea” của Hàn Quốc và sự thành công trong chiến lược quảng bá hình ảnh này trên các phương diện kinh tế, văn hóa…tại Việt Nam?Liên hệ với tình hình thực tế ở Việt Nam.
* Mối quan hệ gần gũi giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong lịch sử tiểu biểu là truyền thuyết về hoàng tử Lý Long Tường của Việt Nam đã trở thành người đầu tiên sáng lập ra dòng họ Lý ở Hwasan, Hàn Quốc; huyền thoại về mối tình của danh sỹ Mạc Đĩnh Chi với một nữ nhân thời Goryeo…?

http://www.hanquocngaynay.com/embassy_detail.php?key=26

Hình như bạn muốn tìm tài liệu để dự thi ?  Chúc may mắn

(trả lời: tokomo)
Bài số: 4
RE: Mạc Đĩnh Chi - 12/20/2006 9:15:25 PM   
hoanghac

 

Bài: 4418
      Ngoài truyền thuyết về họ Lý , thì huyền thoại về mối tình của lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi với một nữ nhân Cao Ly cũng là một chủ đề vô cùng hấp dẫn , cần quan tâm , nghiên cứu một cách sâu sắc.

     Cụ Mạc Đĩnh Chi khi xưa đi sứ sang bên Tàu đồng thời với Trạng của nước Cao Ly, nhân lúc có một nước đến cống mấy cái quạt , vua Tàu ra bài Phiêu Minh ( Thơ đề quạt) cho hai trạng làm. Mạc Đĩnh Chi đang còn đắn đo tìm tứ thơ thì sứ Cao Ly đã cầm bút viết thoăn thoắt. Liếc theo quản bút lông , Mạc Đĩnh Chi thấy sứ Cao Ly viết rằng :

     “ Nóng nực oi ả thì như Y Doãn , Chu Công
             Rét mướt lạnh lùng thì như Bá Di , Thúc Tề”
Thế là Mạc Đĩnh Chi vội phát triển ý và viết luân :
          “ Chảy vàng tan đá, trời đất là lò lửa
            Người lúc ấy như Y Doãn , Chu Công là các bậc cự nho
            Gió bấc lạnh lùng, mưa tuyết đầy đường


Người lúc ấy như Bá Di , Thúc Tề là những ông già chết đói
            Ôi ! Dùng thì chuyên tay , bỏ thì xếp xó
            Chỉ có ta và ngươi là như thế chăng ? ”



Cuối cùng , bài của Mạc Đĩnh Chi xong trước mà ý tứ lại cao hơn , sâu sắc hơn bài thơ của sứ Cao Ly . Vua Nguyên xem xong gật gù , khen mãi và phê sau chữ “Ôi” bốn chữ : “ Lưỡng Quốc Trạng Nguyên”.

    Vì bài “Phiêu Minh” ở trên mà vua Nguyên cho hai trạng làm : “Lưỡng quốc trạng nguyên”. Hai trạng được phong rồi làm quan ở bên Tàu ít lâu. Khi trạng Cao Ly về nước có mời Mạc Đĩnh Chi về chơi nhà . Lần đầu , Mạc Đĩnh Chi ở chơi bên Cao Ly  bốn tháng. Lần ấy , Trạng Cao Ly làm mối cho Mạc Đĩnh Chi một người cháu gái trong họ để làm thiếp . Mạc Đĩnh Chi đưa người thiếp ấy cùng về bên Tàu , được 5 năm thì bà thiếp ấy trở về nước Cao Ly, có dắt về 2 đứa con : một con trai và một con gái. Bà thiếp ấy về nhà có nói với anh em rằng : “ Khi ông trạng tôi về nước An Nam có viết mấy chữ để lại cho tôi rằng : Ngày nay tôi về nước là theo lệnh quân vương, ngày sau sang thì không có kỳ hạn nào cả . Ơn trời , chúng ta sinh hạ được hai đứa con , nhờ nàng nuôi nấng , dạy dỗ cho nên người . Về sau này nàng sẽ có nơi trông cậy , mà ta cũng không đắc tội với chúng nó là chỉ biết sinh con mà không biết nuôi , biết dạy con .Cứ như thế thì tôi không còn hy vọng ông trạng Mạc nhà tôi trở lại nữa mà thân tôi đây bỗng dưng trở nên người vị vong rồi vậy”. Ai nghe thấy cũng phải ái ngại cho người thiếp đó mới ngoài hai mươi tuổi đầu không goá cũng thành như goá , lại thêm bên kẽ nách hai đứa con thơ, biết lấy gì nuôi nhau cho được nên người , giữ làm sao cho được toàn danh tiết ? Ở vào địa vị bà thiếp ấy thật là khó khăn!

    Thấm thoắt đã mười năm trời , một hôm bà thiếp ấy đang ngồi khâu vá chợt thấy ông trạng Mạc đến , bà giật mình lăn đùng ra . Ông Trạng Mạc chạy lại ôm lấy bà , gọi mãi mới tỉnh. Khi tỉnh lại rồi vẫn còn bâng khuông như một giấc chiêm bao , lại thỉnh thoảng nói một câu như mơ mẩn. Ông Trạng Mạc an ủi hồi lâu thì người thiếp đó tỉnh lại, trước còn ngại ngùng , sau ra êm đềm, sảng khoái . Lần này , Mạc Đĩnh Chi lưu lại ở nước Cao Ly trong sáu tháng trời. Trong khoảng thời gian 6 tháng trời ấy, ông đi du lịch gần khắp nước Cao Ly. Ông đi đến đâu , ai cũng hoan nghênh, vì ai cũng biết ông là bậc thông minh xuất chúng , lại là người rể trong nước . Ông có làm tập thơ truyền lại cho hậu thế , hiện nay vẫn còn nhiều người truyền tụng. Hết sáu tháng thì ông trở lại Tàu , khi ấy bà thiếp vừa có mang 3 tháng. . Lần này , bà thiếp nhớ ông quá nên lập bàn thờ sống ở trong nhà, để sớm tối hương hoa  cho thoả lòng hoài vọng . Cái bàn thờ sống đó chẳng qua là bà thiếp đặt ra để kỷ niệm sự thương nhớ chồng thôi , ban đầu không có nguyện khấn gì như các bàn thờ thánh khác. Đến tháng sinh con trai út, bà thiếp có biện xôi gà làm lễ ở trong bàn thờ ấy là lần đầu tiên. Khi người con trai út được một tuổi thì bị một cơn sốt mê man , bất tỉnh nhân sự , hai ba hôm không ăn uống gì được. Các thầy thuốc đến xem bệnh ai cũng nói là rất nguy kịch , không thể chữa được nữa. Bà thiếp lại sửa lễ xôi gà, đến quỳ trước bàn thờ chồng cầu nguyện vào lúc chập tối thì đến lúc nửa đêm người con trai út đã ngớt cơn sốt , đến sáng hôm sau thì tỉnh hẳn. Cả nhà ai cũng thấy là lạ.

    Từ ấy trở đi, tiếng linh ứng truyền đi khắp mọi nơi. Trước hết là một vài  nhà hàng xóm xin duệ - hiệu ông Trạng về thờ , sau đó dần dần lan ra khắp cả châu, cả huyện , khắp cả nước không mấy nhà là không lập bàn thờ ông. Việc thờ phụng Mạc Đĩnh Chi bên Cao Ly cũng linh ứng , chẳng kém gì như thờ đức Thánh Quân ở nước An Nam .

    Khi cụ Trạng Mạc sang tàu để trở về An Nam, bà thiếp chịu thương chịu khó nuôi nấng, dạy bảo các con, khi các con đã khôn lớn , dựng vợ gả chồng xong rồi, bà thường ở với người con trai út. Ở được hai năm thì bà từ biệt , đi vào chùa ở . Bà hưởng thọ 93 tuổi. Trong cửa thiền , bà ăn ở rất từ bi và độ lượng , mọi người đều cảm phục . Khi bà tịch ở chốn thiền môn , người ta lập đàn cầu nguyện cho bà  rất linh đình , xưa nay chốn thiền môn chưa có đám tang nào rực rỡ, vẻ vang như thế.
    Con trai cả của ông , sau này xuất thân làm quan võ , sinh được 12 người con gồm 8 trai , 4 gái . Sau còn hai ba đời đỗ đạt làm quan , không hiển hách lắm. Ngành này , phần nhiều là người giàu có . Con trai út khi được 19 tuổi thì đỗ cử nhân , không chịu ra làm quan , chỉ ở nhà làm thuốc và dạy học . Ông này sinh được 4 con trai đều học giỏi. Người con thứ 3 của ông này sinh được một người con văn võ song toàn , đã từng đánh đuổi quân Tàu , đánh đông dẹp bắc hiển hách một đời.
Nghành thứ 2 này về sau sinh ra nhiều nhân tài , phần lớn là người trung hiếu, liêm khiết. Cháu đời thứ 8 có một thi sỹ , văn thơ hay nhất trong đời , không kém gì Lý, Đỗ bên Tàu , ông có làm một bài phú về con Rùa , ngụ ý rằng nước Cao Ly tiến hoá chậm như Rùa bị các cận quốc khinh bỉ , song cách tiến hoá thông thả, vững vàng như con Rùa bò không vấp váp . Sau này các cận quốc tự phụ là linh tiệp như hùm như hổ sẽ bị non yểu tiêu diệt dần đi , dừng lại con sông Hoàng Hạc trong khoảng trời đất ngàn thu. Lời văn thanh thoát rất ly kỳ, quân đô hộ Tàu xem xong phải tấm tắc khen ngợi , rồi kể với vua Tàu, vua Tàu sai sứ sang hậu thưởng cho 100 tấm lụa và mời ông sang làm quan bên Tàu. Ông đã làm một bài trần-tạ và thoái thác không chịu sang Tàu làm quan : Tôi chỉ thích yên phận làm một con rùa hèn mà không thích nghênh ngang làm một con sư tử dữ . Tôi chỉ thích làm một anh đồ mạc áo vải ở nước Triều Tiên hơn là một người có thiên tư văn chương ở bên Trung Quốc. 

    Nếu so sánh thì ngành thứ nhiều người hiển đạt, nhiều người anh hùng hơn ngành cả. Mới ngày nào ở bên nước Cao Ly chỉ có một vết chân cụ Trạng Mạc bước tới mà dần dà nảy nở , hoá ra hàng trăm , hàng ngàn con cháu làm quan , có cả chức quan to tác đông đến cả vận mệnh nước Cao Ly. Vì thế sự tôn kính, thờ phụng Mạc Đĩnh Chi ở Cao Ly không phải là ngẫu nhiên theo sự linh ứng : sống khôn chết thiêng.

    Qua đây ta thấy An Nam và Cao Ly co mối quan hệ huynh đệ . Nước ta có một địa vị vẻ vang với Cao Ly. Mạc Đĩnh Chi sang Tàu làm cho cả vua quan phải thán phục , cụ sang Cao Ly tạo được một dòng họ phồn thịnh , lưu lại khí phách thiêng liêng làm cả nước Cao Ly sùng bái. “Đem chuông đi đánh nước người ” , tưởng không kêu nhưng lại kêu. Tiếng kêu này vang lừng một hồi bên nước Tàu, lại vang lừng một hồi nữa bên nước Cao Ly. Tiếng kêu đó đã chấn động ở nước ngoài, mà dư âm của nó vẫn văng vẳng ở tai ngưòi đời đến ngàn thu không bao giờ dứt, phảng đãng vào tai cả người cố quốc là nước An Nam ta.

     Qua truyền thuyết  về Hoàng thúc Lý Long tường và huyền thoại về mối tình của Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi , chúng ta thấy rất rõ Việt Nam và Hàn Quốc từ rất xa xưa đã có mối quan hệ thật mật thiết, thân tình, hai nước là : “huynh đệ”, “ nước thông gia” với nhau. Lý Long Tường và Mạc Đĩnh Chi là những nhân vật lịch sử tiêu biêu cho mối giao lưu Hàn -Việt. Các ông là là điển hình về người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống , dù với lý do riêng vẫn giữ được phẩm chất văn hoá Việt , phát huy truyền thống văn hoá Việt , luân hướng về Tổ Quốc thân yêu , lại xây dựng được một sự nghiệp vẻ vang. Lịch sử hai nước, nhân dân hai nước Hàn-Việt ghi nhận về các ông , tự hào vè các ông  Đó là một nền tảng vững chắc để hai nước thắt chặt hơn nữa, mở rộng và phát triển  mối quan hệ truyền thống này cho hôm nay và cho mai sau.  

http://www.hanquocngaynay.com/doc/BuiXuanGiang_02.doc

< Sửa đổi: hoanghac -- 12/20/2006 9:17:47 PM >

(trả lời: hoanghac)
Bài số: 5
Trang:   [1]
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Lịch Sử (trước 1930) >> Mạc Đĩnh Chi Trang: [1]
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết


Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 6-10/2009:
Mai Dang, Bao Cuong, vann, Tương Kính

Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh

Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.

Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode