Viêm Xoan mủi (Full Version)

Các Diễn Đàn >> [Đời Sống - Xã Hội] >> Sức Khoẻ/Sắc Đẹp



Thân bài


ThuongNhatHuong -> Viêm Xoan mủi (7/1/2007 10:23:15 PM)

Xin các ACE nào biết về bịnh viêm xoan mủi mãn tính cho TNH biết với? Em có người chị ở VN bịnh đã này đã lâu , nghe chị nói 0 có trị được, khi nào viêm và có mủ bác sỉ cho trụ sinh và bơm thuốc vào rửa thôi? Em không biết bị như vậy lâu có sao 0? và ở Mỹ có thuốc nào trị cho dứt 0?
Em xin cảm ơn trước
TNH




hoài vọng -> RE: Viêm Xoan mủi (7/1/2007 10:41:50 PM)

  Gửi TNH
Ngưòi nhà của HV cũng bị viêm nặng  nên phải vào bệnh viện Chợ Rẫy dể giải phẫu
TNH đưa ngưoi chi  đến Chợ Rẫy dể bác sĩ khám xem sao




LeThu -> Viêm Xoan Mủi... (7/2/2007 4:37:50 PM)

 






quote:

Viêm Xoan mủi - 7/2/2007 9:23:15 AM
ThuongNhatHuong
Nhà Lá
Bài: 3
Xin các ACE nào biết về bịnh viêm xoan mủi mãn tính cho TNH biết với? Em có người chị ở VN bịnh đã này đã lâu , nghe chị nói 0 có trị được, khi nào viêm và có mủ bác sỉ cho trụ sinh và bơm thuốc vào rửa thôi? Em không biết bị như vậy lâu có sao 0? và ở Mỹ có thuốc nào trị cho dứt 0?
Em xin cảm ơn trước
TNH

RE: Viêm Xoan mủi - 7/2/2007 9:41:50 AM
hoài vọng
Nhà Lá
Bài: 7
Gửi TNH
Ngưòi nhà của HV cũng bị viêm nặng nên phải vào bệnh viện Chợ Rẫy dể giải phẫu
TNH đưa ngưoi chi đến Chợ Rẫy dể bác sĩ khám xem sao
_____________________________

bao nhiêu năm...sao ta còn hoài vọng

(trả lời: ThuongNhatHuong)








VIÊM XOANG... theo Dr RR




[image]http://l.yimg.com/us.yimg.com/i/nt/ic/ut/bsc/srch12_1.gif[/image]Viêm xoang là một bệnh thường gặp, chỉ riêng ở Mỹ đã có hơn 37 triệu người bị viêm xoang. Sự gia tăng của bệnh viêm xoang trong vòng 10 năm trở lại đây đó là do sự gia tăng ô nhiễm môi trường, sự mở rộng của các đô thị, và sự gia tăng của hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn.

*** Nhắc lại giải phẫu :

Mặt được cấu tạo bởi nhiều xương nhỏ ghép lại, trong đó phần lớn là xương rỗng. Xoang chính là những hốc rỗng trong xương đó. Các xoang có liên quan đặc biệt tới hốc mũi và cơ quan lân cận. Một cách đại cương có 8 xoang xếp thành bốn đôi cân đối hai bên hốc mũi. Đó là xoang trán, xoang hàm, xoang sàn và xoang bướm:
- Xoang trán: là những hốc rỗng trong xương trán, tương ứng với hai đầu lông mày.
- Xoang sàn: là nhiều hốc nhỏ (gọi là tế bào sàng) nằm dọc hai bên bờ sóng mũi.
- Xoang hàm: là xoang lớn nhất trong các xoang.
- Xoang bướm: ở sâu trong mũi.


*** Đặc điểm sinh lý và chức năng của xoang:

- Thành các xoang được niêm mạc lót với những hàng tế bào có lông chuyển luôn luôn rung động theo một chiều, quét các chất nhầy vào mũi. Do đó các xoang đầu rỗng, thóang và khô.
- Chức năng của xoang:
+ Cộng hưởng âm thanh.
+ Làm ẩm niêm mạc ổ mũi.
+ Sưởi ấm không khí.
+ Làm nhẹ đi trọng lượng khối xương đầu mặt.
+ Đảm bảo sự cân bằng cần thiết giữa mặt và sọ làm cho mặt được cử động thuận lợi hơn.


*** Định nghĩa và phân loại:

- Viêm xoang là tình trạng viêm nhiễm màng niêm mạc lót ở trong xoang, đặc biệt là những xoang quanh mũi.
- Phân loại: có hai loại
+ Viêm xoang cấp: Là tình trạng viêm xoang trong một thời gian ngắn mà tình trạng viêm xoang này đáp ứng tốt với thuốc kháng sinh và thuốc chống phù nề.
+ Viêm xoang mãn: được đặc trưng bởi ít nhất 4 đợt viêm xoang cấp tái phát, để điều trị loại viêm xoang này thì có thể dùng thuốc hoặc phẫu thuật.


*** Nguyên nhân:phổ biến nhất là do viêm mũi, do cảm, cúm, đôi khi do viêm họng, do răng. Ngoài ra có thể do tắm (nhảy cầu, lặn) do chấn thương, do áp lực thay đổi đột ngột khi đi máy bay do dị vật ở mũi...do biến chứng gây viêm xoang của các bệnh cúm, sởi, ho gà, viêm phổi do phế cầu khuẩn.
- Vi sinh vật gây viêm xoang cũng là những vi sinh vật gây viêm nhiễm đường hô hấp trên


*** Yếu tố thuận lợi: môi trường ô nhiễm, ăn ở kém vệ sinh, vẹo vách ngăn, dị ứng, u lành, u độc ở mũi; tình trạng của phổi, phế quản: viêm xoang- giãn phế quản, kết hợp viêm xoang- giãn phế quản với dị tật tim sang phải


*** Các thể viêm xoang cấp tính

* Viêm xoang trán cấp: ít khi đơn thuần, thường phối hợp với viêm xoang sàng trước. Khởi đầu như một sổ mũi thông thường kéo dài 5-6 ngày rồi xuất hiện những cơn đau đặc biệt của viêm xoang trán: cơn đau phía trên ổ mắt, một bên và có 2 chu kỳ mỗi ngày. Cơn đau tăng dần từ sáng đến giữa trưa thì đạt mức tối đa, lúc đó mũi chảy nhiều mủ, xoang vơi đi và cơn đau dịu xuống, đến chiều lại tái diễn cơn đau đó. Đôi khi kèm chảy nước mắt, mắt đưa đi đưa lại cũng đau, da vùng xoang tưng cảm giác, chỉ sờ cũng đau, ấn dây thần kinh trên hố mắt ở góc trên- trong ổ mắt cũng đau nhói.

* Viêm xoang hàm cấp: bắt đầu như sổ mũi thông thường nhưng kéo dài rồi xuất hiện cơn đau ở vùng dưới ổ mắt, một bên, đau xuyên về một phía hàm răng, đau tăng khi gắng sức, khi nhai, khi nằm. Có điểm đau rõ dưới ổ mắt, hốc mũi xung huyết, thường tiến triển tốt trong 10 ngày.
- Trường hợp viêm xoang do răng, thường có sâu răng hàm nhỏ hoặc răng hàm, ổ áp xe quanh răng, mủ chảy vào trong xoang. Bệnh nhân đau nhức răng dữ dội, lợi quanh răng thường sưng, vài ngày sau mủ thối đổ ồ ạt vào xoang. Nhổ bỏ răng sâu bệnh khỏi nhanh chóng

* Viêm xoang sàng cấp ở trẻ em: Có thể gặp ở thời kỳ 2-4 tuổi. Bệnh có thể xuất hiện sau một đợt viêm mũi nhiễm trùng hoặ sau một đợt sổ mũi thông thường. Do tính chất giải phẫu học của xoang sàng có liên quan mật thiết với thành trong ổ mắt do đó dễ gây biến chứng vào mắt và dấu hiệu về mắt xuất hiện rất sớm.Triệu chứng: sưng nề mi trên, góc trên trong của ổ mắt sưng đỏ lên, chạm vào rất đau. Nặng hơn, mắt có thể bị phù hết, nhãn cầu bị đẩy lệch xuống dưới, ra trước và phía ngoài.

* Viêm xương tủy hàm trên, giả dạng viêm xoang hàm: xuất hiện ở trẻ còn bú thường từ 1-3 tháng, do lúc này xoang vẫn còn nhỏ vì vậy lúc này nếu có viêm là viêm phần xương của xương hàm trên; thường do nhiễm tụ cầu khuẩn của xương hàm trên. Triệu chứng: má sưng, mũi chảy mủ, lợi răng cũng thấy sưng, có khi có lỗ rò.

* Điều trị: Chống nhiễm khuẩn và dẫn lưu: kháng sinh kết hợp với các thuốc chống viêm, corticoid được dùng khi có ứ đọng mủ, dùng thuốc giảm xung huyết.


*** Viêm xoang mạn tính

* Nguyên nhân:

- Viêm mũi mạn tính từ bé kéo dài, lớn lên có thể biến thành viêm xoang mạn tính.
- Ở người lớn sau một một đợt viêm xoang cấp tính, nếu chữa không dứt điểm có thể biến thành viêm xoang mạn tính.

* Triệu chứng:

- Một trong các dấu hiệu chính của viêm xoang là nhức đầu. Tính chất của nhức đầu cũng thay đổi tùy người, tùy từng vị trí của xoang bị viêm.
- Viêm xoang trước thường nhức đầu vùng trán, vùng mặt , nhức mắt có khi nhức đầu theo nhưng giờ nhất d0ịnh, nhức đầu về buổi sáng.
- Viêm xoang sau thường nhức đầu vùng sau, nhức ê ẩm vùng chẩm vùng gáy sau.
- Ngạt mũi, mũi chảy nhày mủ kéo dài tái phát.
- Ở trẻ nhỏ do nuốt phải chất dịch tiết thường gây viêm phế quản tái diến, viêm dạ dày-ruột non, ho từng cơn


* Điều trị : Tùy thuộc niêm mạc lót có tổn thương không mà điều trị bảo tồn hay điều trị ngoại

- Điều trị bảo tồn: kháng sinh, kháng histamin, thuốc co mạch. chọc rửa xoang, vi phẫu thuật qua mũi, cắt polip, mổ vẹo vách ngăn, chữa răng
- Điều trị tiệt căn (sau khi điều trị bảo tồn thất bại) bằng các loại thủ thuật xoang: nạo sàng qua mũi hoặc qua đường ngoài, nạo sàng hàm, mổ xoang trán, xoang bướm, mổ liên xoang, dùng phương pháp vi phẫu nhằm tái tạo lại sinh lý bình thường của xoang.

* Đông y:

Ngoài ra theo GS-TS dược học Đỗ Tất Lợi cũng như kinh nghiệm trong nhân dân là dùng lá cây cứt lợn cũng rất hiệu quả ( chú ý: bị đặt oan là “ cứt lợn” chứ thật tình lá cây này không thối chút nào, chỉ có mùi hăng hắc: khi đun lên thì có mùi thơm dễ chịu nên các chị em vùng quê hay dùng để gội đầu.)
Lấy một nắm lá tươi, rửa nhẹ tay cho sạch, giã nát rồi vắt lấy nước đem rỏ vào hai lỗ mũi, trong tư thế nằm ngửa chừng 10-15’, dưới hai vai có kê gối, nhằm để lỗ mũi dốc ngược, cho phép thuốc ngấm vào xoang. Làm mỗi ngày 1-2 lần cho đến khi khỏi.







Điều trị viêm xoang hiện nay... theo Dr RR   





[image]http://l.yimg.com/us.yimg.com/i/nt/ic/ut/bsc/srch12_1.gif[/image]
 



BS. Trần Thiện Tư - Trung tâm Đào tạo
và Bồi dưỡng Cán bộ Y tế TP.****


 



 



 



I. Sơ lược các hiểu biết mới về bệnh viêm xoang



Những hiểu biết mới trong những năm gần đây về sinh lý xoang và với sự áp dụng các kỹ thuật hiện đại trong chẩn đoán (Nội soi mũi xoang, X quang chụp cắt lớp điện toán, cộng hưởng từ ...) đã làm cho việc điều trị viêm xoang ngày càng nhẹ nhàng và chính xác hơn.
Trong bài này, chúng ta thử đề cập đến điều trị nội khoa một số bệnh viêm xoang thông thường như viêm xoang cấp, viêm xoang mạn tính, viêm xoang do nấm và một số phương pháp điều trị ngoại khoa mới.

II. Điều trị nội khoa viêm xoang cấp
Mục đích điều trị viêm xoang cấp là giải quyết nhiễm trùng, làm các triệu chứng bệnh nhẹ hơn và lành bệnh nhanh hơn, tránh các biến chứng. Đa số các bệnh nhân bị viêm xoang cấp thường được điều trị tại các Bác sĩ đa khoa, chỉ có những trường hợp bệnh nặng mới cần Bác sĩ chuyên khoa, thực hiện thêm một số thủ thuật chuyên môn như làm khí dung mũi, rửa xoang theo phương pháp di chuyển (proetz), chọc rửa xoang...
Giải quyết dẫn lưu xoang được tốt trở lại và điều trị đúng tác nhân gây bệnh là mục đích điều trị viêm xoang cấp.
Dẫn lưu trong viêm xoang cấp có thể bằng phương pháp nội khoa hay ngoại khoa.
- Dẫn lưu nội khoa là dùng các thuốc co mạch tại chỗ ở mũi hay thuốc uống. Các thuốc co mạch uống gọi chung là anpha-adenergic vasoconstrictor gồm có pseudophedrine, phenyl propanolamine (hiện bị cấm dùng ở Hoa Kỳ), phenylephrine. Các thuốc này có thể được dùng từ 10 đến 14 ngày, giúp sự hồi phục hoạt động lông chuyển và dẫn lưu ở mũi xoang. Vì các loại thuốc co mạch có thể gây cao huyết áp, tim đập nhanh, nên không dùng ở những bệnh nhân bị bệnh về tim mạch. Thuốc cũng không được dùng ở các lực sĩ khi thi đấu theo qui định. Các loại thuốc co mạch tại chỗ (phenyephrine hydrochloride, oxymethazoline) giúp dẫn lưu tốt, nhưng chỉ nên dùng tối đa 3 ngày vì có thể gây nghẹt mũi bù trừ, dãn mạch và bệnh viêm mũi do thuốc nếu dùng lâu dài.
- Thuốc làm loãng chất nhày trên lý thuyết giúp làm loãng chất nhày và dẫn lưu dễ hơn, nhưng thực tế không cho kết quả nhiều khi điều trị viêm xoang cấp. Cũng vậy, các thuốc corticoides dùng tại chỗ ở mũi cũng ít tác dụng.
- Thuốc kháng histamine có thể làm giảm phù nề nơi lỗ thông từ xoang ra mũi ở người bị viêm cấp do dị ứng, tuy nhiên, nó góp phần làm tăng sự bài tiết và làm đặc chất nhày nên cũng ít được dùng.
Bệnh nhân bị viêm xoang cấp do nằm bệnh viện đặt ống mũi khí quản hay mũi dạ dày cần được rút ống để giúp sự dẫn lưu dễ hơn.
- Chọc rửa xoang hàm nhằm xét nghiệm vi trùng gây bệnh, giúp làm sạch bệnh tích và dẫn lưu, được thực hiện khi điều trị nội khoa kéo dài chưa đạt kết quả, hoặc bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, viêm xoang cấp nặng.
Phẫu thuật dẫn lưu xoang qua nội soi chỉ nên thực hiện khi bị viêm cấp nhiều xoang hoặc bị biến chứng do viêm xoang (như áp xe quanh hốc mắt, cần mổ giảm dẫn lưu mủ và làm giảm áp lực hốc mắt).
- Điều trị kháng sinh toàn thân:
Khoảng 1-5% viêm nhiễm đường hô hấp trên gây biến chứng viêm xoang mủ cấp. Do đó có một số tác giả đề nghị chỉ cần điều trị nội khoa theo chứng mà thôi.
Khi bị viêm xoang cấp do nhiểm trùng, cần phải điều trị tùy theo loại vi trùng gây bệnh. Các loại vi trùng thường gặp là:
- S.pneumonia (4-48% kháng beta-lactamase, 9% kháng macrolides, sulfa, tetracycline, chloramphenicol).
- H.influenzae (40% kháng beta-lactamase).
- M. catarralis (90% kháng beta-lactamase).
Điều trị kháng sinh đầu tiên (tạm gọi là theo phương án 1) cần chú ý đến tác nhân gây bệnh và sự đề kháng thuốc của các tác nhân đó. Thuốc được dùng trước nhất là Amoxicilline hoặc Macrolides (trong trường hợp bệnh nhân bị dị ứng với Amoxicilline). Thời gian dùng là từ 10 đến 14 ngày. Hầu hết các trung tâm điều trị viêm xoang ở Hoa Kỳ và trên thế giới đều dùng thuốc này vì giá rẻ, dễ dùng và ít độc.
Bệnh nhân ở cộng đồng có tỷ lệ vi trùng kháng thuốc cao, không đáp ứng với điều trị trên sau 48 đến 72 giờ hoặc những người các triệu chứng bệnh không giảm sau 10 đến 14 ngày điều trị có thể chuyển sang điều trị kháng sinh theo phương án 2. Các kháng sinh thường dùng cho phương án này là Amoxicillne clavulanate, cephalosporin thế hệ thứ 2, các Macrolides ( azithromycine, clarythromycin), fluoroquinolones (ciprofloxacin, levofloxacin) và clindamycin.
Bệnh nhân bị viêm xoang do răng (chảy mũi mủ thối) thường do vi trùng yếm khí, cần dùng clindamycin hay amoxicilline kết hợp với metronidazole.
Bệnh nhân viêm xoang cấp nặng do nhiễm trùng bệnh viện thường dùng kháng sinh điều trị vi trùng Gram âm dùng theo đường tĩnh mạch. Kháng sinh nhóm Aminoglucoside thích hợp nhất vì vào xoang dễ và điều trị vi trùng Gram âm tốt.
Viêm xoang cấp gây biến chứng nên dùng kháng sinh nhóm cephalosporine thế hệ thứ 3 theo đường tĩnh mạch kết hợp với Vancomycine vì các kháng sinh này vào não dễ.





Điều trị kháng sinh theo phương án 1




Tên kháng sinh


-


S pneumoniae


H influenzae


M catarrhalis


Anaerobic bacteria



Liều


Nhạy cảm


Trung bình


kháng


-


-


-



Amoxicillin


500 mg
uống
3lần
Mỗi ngày


+++


++


+


++


+


+



Clarithromycin


250-500 mg
Uống 2lần
Mổi ngày


++


++


+


++


+++


+



Azithromycin


500 mg
Uống ngày 1,
Sau đó
250mg
ngày 2;3;4


++


++


+


++


+++


+



Điều trị kháng sinh theo phương án 2



Amoxicillin/Clavulanate


500 mg
Uống 3lần/ngày


+++


++


+


+++


+++


+++



Cefuroxime


250-500mg
uống
2lần/ngày


+++


++


+


+++


++


++



Cefpodoxime
+
Cefixime


200 mg
Uống 2l/n
400 mg
Uống 1lần/ngày


-

++


+++

-


++

-


+

+++


+++

+++


+++

-



Ciprofloxacin


500-750mg
Uống 2lần/ngày


++


+


+


++


+++


+



Levofloxacin


500 mg
Uống 1lần/ngày


+++


+++


+++


+++


+++


+++



Trovafloxacin


200 mg
Uống 1lần/ngày


+++


+++


+++


+++


+++


+++



Clindamycin


300 mg
Uống 3 lần/ngày


+++


+++


+++


-


-


+++



Metronidazole


500 mg
Uống 3 lần/ngày


-


-


-


-


-


+++



Kháng sinh tiêm tĩnh mạch







-


-


S pneumoniae


H influenzae


M catarrhalis


Gram negative


Anaerobic bacteria







Piperacillin


3-4g IV
Mỗi 4-6giờ


+++


+


-


+++


+++







Pip/Tazobactam


3.375g IV mỗi 6giờ


+++


+++


+++


+++


++







Ticarcillin


3gIV mỗi 4giờ


+++


-


-


+++


++







Tic/Clavulanate


3.1g IV mỗi 4 giờ


+++


+++


-


+++


++







Imipenem


500mg IV mỗi 6giờ


+++


+++


+++


+++


+++







Meropenem


1g IV mỗi 8giờ


+++


+++


+++


+++


++







Cefuroxime


1g IV mỗi 8giờ


+++


+++


+++


++


++







Ceftriaxone


2g IV 2lần/ngày


+++


+++


+++


+++


++







Cefotaxime


2g IVmỗi 4-6 giờ


+++


+++


+++


+++


++







Ceftazidime


2g IV mỗi 8giờ


+++


+++


+++


+++


++







Gentamicin


1.7mg/kg IV mỗi 8giờ


-


+++


+++


++


-







Tobramycin


1.7mg/kg IV mỗi 8giờ


-


+++


+++


++


-







Vancomycin


1g IV mỗi
6-12giờ


+++


-


-


-


++




























[image]http://www.medinet.****city.gov.vn/ttyh/bshkhkt/dtviemxoanghiennay04-12-2003_files/image002.jpg[/image]

[image]http://www.medinet.****city.gov.vn/ttyh/bshkhkt/dtviemxoanghiennay04-12-2003_files/image004.jpg[/image]




Biến chứng do viêm xoang


III. Điều trị nội khoa viêm xoang mạn
Điều trị nội khoa viêm xoang mạn theo nguyên tắc cố gắng tìm được nguyên nhân gây bệnh và điều trị nguyên nhân này.
- Thuốc điều trị gồm: kháng sinh, thuốc loãng chất nhày, rửa mũi, corticosteroides và thuốc chống dị ứng tùy vào bệnh cảnh lâm sàng và các biểu hiện phối hợp.
- Điều trị các nguyên nhân như dị ứng, rối loạn vận mạch, sự suy kém miễn dịch và rối loạn chức năng của hệ thống lông chuyển.
- Tái lập sự thông khí mũi xoang và điều chỉnh niêm mạc để phục hồi lại hoạt động hệ lông chuyển ở mũi. Ít khi có tổn thương niêm mạc không hồi phục ở mũi xoang, do đó trong điều trị cố gắng bảo tồn niêm mạc.
Điều trị nội khoa rất thích hợp trong trường hợp tắt nghẽn dẫn lưu do bất thường về sinh lý. Các trường hợp bệnh viêm xoang mạn do bất thường về giải phẩu cần phẫu thuật.
- Về dinh dưỡng, thức ăn có nhiều tỏi (chứa chất n-allyl thiosulfinate) có tác dụng làm giảm nghẹt mũi, cũng có tác dụng điều trị đáng kể.
- Điều trị kháng sinh: thường dùng kháng sinh uống. Các tiêu chuẩn chọn kháng sinh căn cứ trên:
1/ Chọc xoang hàm lấy mủ thử vi trùng và làm kháng sinh đồ.
2/ Sự hiểu biết về vi trùng kháng thuốc trong cộng đồng.
3/ Hỏi bệnh sử về dị ứng với các kháng sinh, đặc biệt là dị ứng với sulfamide hay cephalosporins.
4/ Các phản ứng phụ có hại do thuốc.
5/ Giá thuốc và điều kiện kinh tế của người bệnh.
6/ Hiểu biết về công thức và liều lượng thuốc.
Hiện nay, kháng sinh hàng đầu điều trị viêm xoang mạn tính là Amoxicilline-clavulanate, cephalosporin thế hệ 2 và erythromycine-sulfasoxazole. Beta-lactamase chất trung gian tạo sự đề kháng vi trùng với các cephalosporin được sản xuất đầu tiên của thế hệ thứ hai rất cao ở nhóm vi trùng Haemophilus influenzae và Moraxella catrrhalis. Cefixime, cephalosporine thế hệ thứ 3 có thể được chọn để điều trị nhiễm trùng do hai vi trùng này, nhưng lại hiệu quả ít với vi trùng Streptococcus pneumonia. Macrolides thế hệ mới clarithromycin và azithromycin thấm vào niêm mạc rất tốt, nên dùng để dự phòng. Azithromycin có vẻ đáp ứng tốt với H.influenzae, trong khi clarithromycin tốt hơn khi điều trị S. pneumoniae kháng thuốc. Clindamycin nên dùng cho nhóm S.pneumonia kháng thuốc, thuốc này ít tác dụng với nhóm vi trùng H.influenzae.
Thuốc co mạch giúp làm giảm phù nề niêm mạc, làm sự dẫn lưu dễ hơn và duy trì sự thông khí các lỗ dẫn lưu xoang. Do đó, thuốc co mạch rất cần thiết cho điều trị viêm xoang. Thuốc co mạch gồm 2 loại: dùng tại chỗ và loại uống:
- Loại dùng tại chỗ như phenylephrine HCl 0,5% và oxymetazoline HCl 0,5% làm giảm ngay triệu chứng do làm co niêm mạc mũi bị viêm nhiễm, phù nề. Thuốc co mạch mũi không nên dùng quá 3 đến 5 ngày liên tục vì nguy cơ sinh ra bất dung nạp, viêm mũi do dùng thuốc và phản ứng ngược lại khi ngưng thuốc.
- Loại thuốc co mạch uống được dùng khi tác dụng co mạch cần kéo dài hơn 3 ngày. Thuốc co mạch uống tác dụng toàn thân như phenyl propanolamine (đã bị thu hồi ở Mỹ) hay pseudoephedrine tốt hơn. Thuốc co mạch uống là loại kháng alpha-adrenergic, làm giảm luợng máu lưu thông. Theo lý thuyết, các loại thuốc này tác dụng mạnh ở mô sâu trong phức hợp lỗ thông mũi xoang trong khi các loại thuốc co mạch tại chỗ không vào sâu đúng mức để đạt kết quả.


Chăm sóc ngoại trú
- Xông hơi nóng: nhằm mục đích làm loãng chất tiết, làm mềm vảy mũi trong khi cung cấp độ ẩm cho niêm mạc mũi bị khô. Hướng dẫn người bệnh xông mũi theo truyền thống gồm có:
· Nấu nước sôi trong nồi nhỏ.
· Cho người bệnh ngồi choàng khăn che đầu phủ luôn nồi nước.
· Cuối mặt xuống gần nồi nước và hít thở khoảng 10 phút.
- Rửa mũi: Một trong những phương pháp hiệu quả nhất để giảm phù nề ở mũi là thường xuyên làm vệ sinh mũi bằng dung dịch nước muối ưu trương được trung hòa. Dung dịch này được dùng cho hàng ngàn bệnh nhân khắp thế giới, đã chứng tỏ an toàn và hiệu quả. Nên rửa mũi ít nhất hai lần mỗi ngày.
- Thuốc corticosteroids: Chưa có một nghiên cứu nào cho thấy hiệu quả chất cortisone dùng tại chỗ hay toàn thân trong điều trị viêm xoang mạn. Thuốc steroid được dùng ở mũi một cách rộng rãi cùng lúc với điều trị kháng sinh và dùng lâu dài khi bệnh nhân đã hết đợt dùng kháng sinh. Steroid dùng toàn thân được dành riêng trong trường hợp người viêm xoang mạn bị cystic fibrosis và polyp mũi.
IV. Điều trị viêm xoang do nấm


 






[image]http://www.medinet.****city.gov.vn/ttyh/bshkhkt/dtviemxoanghiennay04-12-2003_files/image006.jpg[/image]


Viêm xoang hàm phải do nấm Aspergillus
 



Điều trị nội khoa tùy thuộc loại nấm và sự xâm lấn của nấm vào xoang. Điều trị chủ yếu của viêm xoang do nấm là phẫu thuật. Tùy theo mức độ xâm nhập của nấm vào xoang, ta có nhiều cách điều trị khác nhau:
- Allergic fungal sinusitis (viêm nấm xoang do dị ứng): thường cần phẫu thuật. Các điều trị hỗ trợ là steroid uống (prednisone 0,5mg/kg, giảm liều dần trong 3 tháng, steroid dùng tại chỗ ở mũi sau phẫu thuật, rửa mũi bằng nước muối, điều trị miễn dịch...). Không cần dùng thuốc chống nấm khi vi nấm không xâm lấn vào xoang.
- Sinus mycetoma (vi nấm vào xoang): cần phẫu thuật, khi lấy hết mô nấm, không cần điều trị gì thêm, không cần thuốc chống nấm.
- Chronic invasive fungal sinusitis (viêm nấm xâm lấn vào xoang mạn tính): phẫu thuật kết hợp dùng thuốc Amphotericin B (2g/ngày) hoặc thay thế bằng ketoconazone hay itraconazole khi bệnh được ổn định.
- Acute invasive fungal sinusitis (viêm nấm xâm lấn vào xoang cấp tính): Điều trị cấp cứu ngay sau khi phẫu thuật cắt lọc với liều cao amphotericine B (1-1,5 mg/kg/ngày). Khi giai đoạn cấp tính qua khỏi có thể dùng itraconazole (400mg/ngày) thay thế amphotericine B. Cần điều trị thêm suy giảm miễn dịch tiềm ẩn nếu có.
- Chronic granulomatous fungal sinusitis: Điều trị phẫu thuật theo sau điều trị nấm, ít khi bị tái phát.
Điều trị phẩu thuật: nhằm làm sạch mô nấm và dẫn lưu. Có thể mổ qua nội soi hoặc qua đường ngoài.
V. Điều trị phẩu thuật nội soi viêm xoang hiện nay
A. Sơ lược lịch sử
- Phẫu thuật nội soi chẩn đoán được bắt đầu từ đầu thế kỷ 20.
· Năm 1903 Hirshmann đã dùng cystoscope không nguồn sáng để soi mũi.
· Năm 1960 Karl Storz- Hopkins đã nội soi mũi với ánh sáng lạnh.
- Các nhà phẫu thuật nội soi mũi xoang gồm: Draf (1978,1982), Messerklinger 1980 và Stamberger 1985, Wigand (1981) sau đó Dixion, Friedrich, Kennedy…
B. Chỉ định điều trị bằng phẩu thuật nội soi mũi xoang gồm có:
- Bệnh lý nhiễm trùng:
· Vi trùng
· Vi nấm
- Bệnh viêm mũi xoang
· Polýp mũi: chỉ phẫu thuật sau khi điều trị nội khoa không kết quả.
· U nang nhày các xoang.
- Khối u mũi xoang: rất ít khi dùng.
- Chấn thương do tai nạn hay phẫu thuật gây dò dịch não tủy.
C. Điều trị viêm xoang bằng phẫu thuật
Do sự phát triển khoa học chung áp dụng cho ngành y tế, ngày nay, các phẫu thuật điều trị viêm xoang thường thực hiện qua nội soi, rất ít trường hợp cần dùng đến phẫu thuật theo đường ngoài hay vi phẩu.
Trong phẫu thuật nội soi, điều quan trọng nhất là cố gắng điều trị bảo tồn, nhằm duy trì hoạt động sinh lý bình thường cho mũi xoang. Đa số phẫu thuật là mở khe giữa dẫn lưu, mổ nội soi chức năng (FESS: functional endoscopic sinus surgery ) hay mini FESS.












VIÊM HỌNG CẤP VÀ MÃN TÍNH...  . 

MỤC TIÊU BÀI GIẢNG :

Sau khi học xong bài này, SV có khả năng:
1. Nêu được nguyên nhân và các yếu tố dịch tể của viêm họng cấp và mãn tính.
2. Trình bày các triệu chứng lâm sàng và cách điều trị của viêm họng đỏ cấp thông thường, viêm họng đỏ có bựa trắng, viêm họng có giả mạc, viêm họng mãn tính.
3. Phân biệt giữa viêm họng virus và viêm họng liên cầu.
4. Nêu lên các biến chứng của viêm họng.
5. Đề ra các biện pháp dự phòng của viêm họng.

i. đại cương :
  A. MỘT SỐ KHÁI NIỆM TỔNG QUÁT :
   1. Nói đến viêm họng chủ yếu là nói đến viêm ở họng miệng.
   2. Trong viêm họng cấp tính chủ yếu là do viêm Amygdale khẩu cái. Do đó hiện nay người ta có xu hướng nhập lại thành Viêm họng-Viêm Amygdale cấp.
Trong lúc đó viêm họng mãn tính và viêm Amygdale mãn tính vẫn là hai vấn đề riêng biệt.
  B. Nhắc lại giải phẩu và sinh lý vùng họng :
Họng là ngã tư giữa đường ăn và đường thở, là cửa ngõ của không khí, thức ăn và nước uống. Vì vậy có thể nói là nơi rất thuận lợi cho các yếu tố ngoại lai, virus và vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể.
Họng là một ống cơ màng nối từ vòm họng xuống miệng thực quản, tiếp giáp ở dưới với thanh quản (ở trước) thực quản (phía sau) và được chia làm 3 phần: họng mũi, họng miệng và hạ họng.
Niêm mạc họng thuộc tế bào gai với biểu bì nhiều tầng, trong lớp đệm có nhiều tuyến nhầy và nang lympho. Ở vùng họng mũi và họng miệng, có những vùng rất giàu các nang lympho tập trung thành những khối gọi là vòng Waldeyer.
Sinh lý:
Họng có các chức năng: nuốt, thở, phát âm, nghe và bảo vệ.
Chức năng bảo vệ của họng có được nhờ vòng bạch huyết Waldeyer.

II. VIÊM HỌNG CẤP TÍNH:                                                                                                                       
Là bệnh rất thường gặp ở cả người lớn lẫn trẻ em nhất là về mùa đông khi thời tiết thay đổi. Bệnh có thể xuất hiện riêng biệt hoặc đồng thời với viêm VA, viêm A, viêm mũi, viêm xoang v.v... hoặc trong các bệnh nhiễm khuẩn lây của đường hô hấp trên như cúm, sởi.
Cần nhắc lại rằng viêm họng cấp tính tức là viêm cấp tính của niêm mạc họng miệng kết hợp chủ yếu với viêm A khẩu cái, một số ít trường hợp kết hợp với viêm A đáy lưỡi.
Trong viêm họng cấp, chúng ta nghiên cứu chủ yếu là viêm họng đỏ cấp, viêm họng bạch hầu và viêm họng Vincent do tính chất thường gặp và các sự trầm trọng của các biến chứng của chúng.
 
a. viêm họng đỏ cấp:
Chiếm 90% viêm họng cấp. Rất thường gặp trong mùa lạnh khi thời tiết thay đổi.
1. Virus, vi khuẩn:
a. Virus :
Là chủ yếu chiếm 60 - 80% gồm Adénovirus, virus cúm, virus para - influenzae, virus Coxsakie, virus Herpès, virus  Zona, EBV. 
b. Vi khuẩn:
Ít gặp hơn, chiếm 20 - 40% gồm liên cầu b tan huyết nhóm A (còn các nhóm B, C, G ít gặp), Haemophilus influenzae, tụ cầu vàng, Moraxella catarrhalis, vi khuẩn kị khí.
Các vi khuẩn Neiseria, phế cầu, mycoplasme rất hiếm gặp.
2. Nguyên nhân:
Do thời tiết thay đổi, nhất là về mùa lạnh. Viêm họng đỏ cấp thường bắt đầu bằng sự nhiễm vi rút. Sau đó do độc tố của vi rút, cấu trúc giải phẩu của amiđan và sức đề kháng của cơ thể đã gây nên sự bội nhiễm các tạp khuẩn khác, thường là các vi khuẩn hội sinh có sẵn trong họng như liên cầu, phế cầu và đặc biệt nguy hiểm là loại liên cầu khuẩn tan huyết b nhóm A.
Bệnh lây lan bằng nước bọt, nước mũi.
3. Lâm sàng:
Bệnh thường xảy ra đột ngột .
a. Triệu chứng toàn thân:
Sốt vừa (38 - 390) hoặc sốt cao, người ớn lạnh, nhức đầu, đau mình mẩy, mệt mỏi, kém ăn.
b. Triệu chứng cơ năng:
Lúc đầu là cảm giác khô nóng ở trong họng, dần dần đau rát trong họng nhất là khi nuốt kể cả chất lỏng. Khi ho, khi nói thì đau nhói lên tai.
Có thể ho từng cơn, ho khan hoặc ho có đờm nhầy.
Giọng nói mất trong và có thể khàn tiếng nhẹ.
Thường có kèm theo chảy mũi nhầy và tắc mũi.
c. Triệu chứng thực thể:
Toàn bộ niêm mạc họng đỏ, xuất tiết. Tổ chức bạch huyết ở thành sau họng đỏ mọng và có những mao mạch nổi rõ.
Hai amiđan khẩu cái cũng sưng to đỏ, có khi có những chấm mủ trắng hoặc lớp nhầy trắng như nước cháo phủ trên mặt A.
Trụ trước và trụ sau cũng đỏ.
Có hạch góc hàm sưng nhẹ và hơi đau.
Khám mũi thấy niêm mạc sung huyết và hốc mũi đọng xuất tiết nhầy. 
4. Tiến triển :
Nếu là do virus, bệnh thường kéo dài 3 - 5 ngày thì tự khỏi, các triệu chứng giảm dần.
Nếu là do vi khuẩn bội nhiễm đặc biệt là liên cầu, bệnh thường kéo dài ngày hơn và đòi hỏi 1 sự điều trị kháng sinh có hệ thống để tránh các biến chứng có thể xẩy ra.
5. Biến chứng :
a- Biến chứng tại chỗ: Viêm tấy hoặc áp xe quanh A. Viêm tấy hoặc áp xe các khoảng bên họng, áp xe thành sau họng ở trẻ nhỏ 1-2 tuổi. Viêm tấy hoại thư vùng cổ rất hiếm gặp nhưng tiên lượng rất nặng.                                                                     
b- Biến chứng lân cận: Viêm thanh khí phế quản, viêm phổi. Viêm tai giữa cấp. Viêm mũi viêm xoang cấp.
c- Biến chứng xa: Đặc biệt nếu là do liên cầu b tan huyết nhóm A có thể gây viêm thận, viêm khớp, viêm nội tâm mạc Rendu Osler, choáng nhiễm độc liên cầu hoặc cá biệt có thể nhiễm trùng huyết.
6. Điều trị:
Điều đáng nhấn mạnh ở đây là nhiều tác giả đều thống nhất là mọi viêm họng đỏ cấp đơn thuần hoặc có chấm mủ trắng hoặc bựa trắng trên bề mặt amiđan, xuất hiện ở bệnh nhân trên 3 tuổi đều phải được điều trị như một viêm họng đỏ cấp do liên cầu khi không có xét nghiệm định loại virus hoặc vi khuẩn.
Do đó thái độ điều trị như sau:
a. Hoặc là điều trị bằng kháng sinh một cách hệ thống:
Penicilline V uống: 50 - 100.000 UI/kg cho trẻ em và 3 triệu UI cho người lớn chia làm 3 - 4 lần trong ngày, kéo dài 10 ngày.
Hoặc tiêm bắp thịt một liều duy nhất của Penicilline chậm loại Benzathine - Penicilline G với liều 6.000 UI cho trẻ < 30kg; 1,2 triệu UI cho trẻ  >30 kg và 2,4 triệu UI cho người lớn.
Hoặc céphalosporine thế hệ I, hoặc Penicilline A trong 10 ngày.
Trường hợp dị ứng với PNC, thì có thể thay thế bằng nhóm macrolide như Josacine, Dynabac hoặc Rulid trong 10 ngày, hoặc Zithromax trong 5 ngày.
b. Hoặc làm xét nghiệm vi trùng rồi điều trị chứng bằng các thuốc hạ sốt, kháng viêm, giảm đau khi thấy các triệu chứng còn nhẹ.
Khi có kết quả vi trùng trong 3 - 4 ngày sau sẽ hiệu chỉnh điều trị.
c. Điều trị tại chỗ: súc họng và nhỏ mũi.
b. viêm họng lóet: chiếm 5%.
Chúng ta chỉ đề cập đến viêm họng Vincent.
Là loại viêm họng 1 bên, thường gặp ở thiếu niên và người trẻ. Thể trạng suy nhược nhưng sốt không cao. Đau cổ, nuốt đau nhẹ một bên, đặc biệt hơi thở hôi thối. Khám họng thấy amiđan bị loét, bề mặt được bao phủ bởi một lớp bựa vàng dày nhưng sờ bằng ngón tay thấy Amygdale mềm mại. Vài hôm sau giả mạc rụng đi để lại một vết lóet không sâu, bờ cao, thành đứng, đáy màu xám hoại tử. Xét nghiệm vi khuẩn thấy sự phối hợp của thoi và xoắn trùng không đặc hiệu.
Điều trị bằng Penicilline.
c. viêm họng giả mạc: chiếm 2 - 3%.
Trước hết phải nghĩ đến viêm họng bạch hầu là 1 bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Klebs - Loefler gây nên với đặc điểm là viêm họng có giả mạc lan rộng, có phản ứng hạch và toàn thân có hội chứng nhiễm độc. Bệnh chủ yếu gặp ở trẻ em và có thể gây tử vong.
1. Triệu chứng:
Bệnh có các thể lâm sàng khác nhau là thể thông thường, thể phối hợp và thể ác tính.
a. Triệu chứng toàn thân:
Thường thể hiện bằng hai hội chứng lớn là nhiễm độc và nhiễm khuẩn. Bệnh chủ yếu gặp ở trẻ em, trẻ sốt vừa 38 - 3805 bắt đầu từ từ người mệt mỏi, da xanh, không chịu chơi, biếng ăn, có khi mệt lả, mạch yếu có khi không đều, đái ít, nước tiểu đỏ, có thể có albumin. Ở thể ác tính trẻ sốt cao, vật vả, xanh tái, dẫn tới mê sảng.
b. Triệu chứng cơ năng:
Chủ yếu là đau họng, lúc đầu đau nhẹ, sau đau tăng dần.
Chảy nước mũi nhầy, có khi lẫn máu.
Nếu giả mạc lan xuống hạ họng hoặc thanh quản, em bé có ho, khàn tiếng, khó thở thanh quản nặng dần.
c. Triệu chứng thực thể:
Khám họng thấy giả mạc mỏng hoặc dày, màu trắng hoặc xám, có khi xám đen phủ trên bề mặt amiđan, lan đến các trụ, có khi đến tận lưỡi gà và thành sau họng. Giả mạc rất dính khó bóc, dễ chảy máu và không tan trong nước, lấy đi giả mạc hình thành lại rất nhanh.
Trước bệnh nhân có giả mạc như vậy, nhất thiết phải quệt để soi tươi và nuôi cấy tìm vi khuẩn bạch hầu.
2. Tiến triển:
Thường là nặng cần phải điều trị kịp thời.
Ở thể nhẹ, nếu điều trị có thể khỏi nhanh chóng.
Ở thể nặng, có thể chết nhanh chóng trong vài ngày do nhiễm độc. Dù được điều trị tích cực, bạch hầu họng cũng có thể lan xuống thanh quản gây bạch hầu thanh quản làm bệnh nhân khó thở có thể tử vong.
3. Điều trị :
Tiêm ngay huyết thanh chống bạch hầu (SAD) 10 - 30.000U cho trẻ em, 30 - 50.000U cho người lớn theo phương pháp Besredka: nửa liều tiêm dưới da, nửa liều tiêm bắp thịt. Trước khi tiêm cần thử phản ứng với 0,1ml dung dịch pha loãng 1/1000 tiêm trong da.
Tiêm ngay Penicilline liều cao (hoặc macrolide nếu có dị ứng với NPC).
Đồng thời phối hợp với tiêm Corticoides.
Giải độc tố: tiêm ngay 1/10ml dưới da, 3 ngày sau tiêm 1/2ml, rồi cách 5 ngày lại tiêm 1ml, rồi 2ml, 3ml.
Nghỉ ngơi tuyệt đối, đề phòng biến chứng tim dùng spartein hoặc Vitamin B1, Vitamin C. Ở thể nặng có suy tim loạn nhịp, tiêm Uabain, strychnin.
Nếu có biến chứng xuống thanh quản cần mở khí quản.
III. Viêm họng mạn tính:
Viêm họng mạn tính là một bệnh thường gặp, nam nhiều hơn nữ.
1. Nguyên nhân thuận lợi:
a. Do viêm mũi, viêm xoang gây tắc mũi phải thở miệng đồng thời mũi chảy xuống ở thành sau họng.
b. Do môi trường: Hít thở không khí bụi hữu cơ, vô cơ, nóng khô, hơi hóa chất.
c. Do thói quen: hút thuốc, uống rượu.
d. Do bệnh dị ứng, bệnh goutte, trào ngược dạ dày thực quản, viêm đại tràng, viêm gan.
2. Triệu chứng:
a. Toàn thân:
Có thể rất nghèo nàn, không sốt, không khó chịu gì. Nhưng thường hay có những đợt tái phát viêm họng cấp tính khi bị lạnh, khi cảm mạo, cúm v.v... thì lại xuất hiện sốt, mệt mỏi, đau rát họng.
b. Cơ năng:
Có cảm giác ngứa, vướng trong họng hoặc khô rát, nóng trong họng, thường phải khạc nhổ luôn, ra ít đờm nhầy, có khi đóng thành vảy. Có khi có cảm giác như dị vật ở trong họng, khi nuốt nhô lên, nhô xuống hay như có khối u bất thường, hoặc như thở hụt hơi khó chịu (thường gọi là loạn cảm họng).
c. Thực thể:
Theo giai đoạn tiến triển, có thể chia làm bốn loại:
Viêm họng mạn tính sung huyết đơn thuần niêm mạc họng đỏ, nổi nhiều tia mao mạch máu.
Viêm họng mạn tính xuất tiết: thành sau họng có tăng xuất tiết nhầy, trong, hơi dính vào niêm mạc, chảy từ vòm xuống hạ họng, tạm thời mất đi khi bệnh nhân nuốt. Niêm mạc họng cũng đỏ và nổi nhiều tia mao mạch máu.
Viêm họng mạn tính quá phát: Niêm mạc họng đỏ và dày lên. Tổ chức bạch huyết ở thành sau họng phát triển mạnh, quá phát thành từng đám to nhỏ không đều, màu hồng hoặc đỏ. Có khi tập trung thành một dãi gồ lên ở phía sau và dọc theo trụ sau của amiđan trông như một trụ sau thứ hai gọi là “trụ giả”. Thể nầy gọi là viêm họng hạt.
Viêm họng teo: niêm mạc họng teo dần, những tuyến nhầy dưới niêm mạc cũng teo đi làm cho niêm mạc họng từ đỏ thẩm biến thành màu hồng rồi nhợt nhạt, khô và đọng những vảy mỏng, vàng, khô bám vào từng chỗ. Niêm mạc họng trở thành mỏng, các trụ sau cũng teo biến đi làm cho họng trở nên rộng hơn. Viêm họng teo thường là viêm họng do nghề nghiệp, hoặc ở người già hoặc ở những người trĩ mũi.
3. Điều trị:
a. Điều trị nguyên nhân:
Điều trị viêm mũi, viêm xoang, viêm A, viêm VA nếu có. Giảm bớt các kích thích hút thuốc lá, uống rượu. Tổ chức phòng hộ lao động tốt.
b. Điều trị tại chỗ:
Nhỏ mũi.
Rửa mũi.
Khí dung họng.
Thể viêm họng xuất tiết có thể chấm glycérine  iode.
Viêm họng quá phát: đốt các hạt quá phát bằng cautère điện hoặc Nitrate bạc 10% hoặc bằng nitơ lỏng.
Viêm họng teo: phải bôi họng, súc họng bằng các thuốc kích thích (loại có iode loãng, thuốc dầu), nước khoáng.
c. Điều trị toàn thân:
Thay đổi thể trạng: Điều trị nước suối nóng, thay đổi điều kiện khí hậu, môi trường sinh hoạt làm việc nếu có thể.
Uống Vitamin C, A, D.



... theo BS NTQL... 

... theo TTYDVN...  

... theo YHCT...   . 

... theo TNOL....   . 

... theo NTGT ĐTVX... 

... theo đoạn phim ngắn của ĐYS NHT...  

... theo Bách Khoa Tự Vị...  





SK/SĐ theo LT... 

LT  















ThuongNhatHuong -> RE: Viêm Xoan Mủi... (7/2/2007 6:05:25 PM)

Cảm ơn HV và LT thật nhiều!
Cho tnh hỏi thêm là người nhà của HV sau khi giải phẩu đã dứt hẳn bịnh không?
tnh




Tran.ngo -> RE: Viêm Xoan mủi (7/3/2007 10:04:29 AM)

Chào Bạn,
Viêm xoang mũi kinh niên khó chữa. Có nhiều nguyên nhân gây viêm xoang mãn tính. Bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng thường giải phẫu, đục lỗ xoang và rửa bằng thuốc kháng sinh. Bệnh nhân cần bác sĩ chuyên khoa hay bác sĩ gia đình theo dõi, vì bệnh có thể tái phát. Nếu có triệu chứng như đau nhức nơi xoang, có trường hợp bị nóng sốt phải vào nhà thương cấp cứu hay phải gặp bác sĩ tai mũi họng thật sớm để điều trị kịp thơì. Đây chỉ là những lời khuyên sơ đẳng, bệnh nhân cần gặp bác sĩ của mình để theo dõi bệnh và trị bệnh.
Bs Trần Mạnh Ngô (www.yduocngaynay.com)




LeThu -> Viêm Xoan Mủi... Mãn Tính (7/3/2007 6:09:56 PM)

 






quote:

Viêm Xoan mủi - 7/3/2007 9:04:29 PM
Tran.ngo
Nhà Lá
Bài: 9
Chào Bạn,
Viêm xoang mũi kinh niên khó chữa. Có nhiều nguyên nhân gây viêm xoang mãn tính. Bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng thường giải phẫu, đục lỗ xoang và rửa bằng thuốc kháng sinh. Bệnh nhân cần bác sĩ chuyên khoa hay bác sĩ gia đình theo dõi, vì bệnh có thể tái phát. Nếu có triệu chứng như đau nhức nơi xoang, có trường hợp bị nóng sốt phải vào nhà thương cấp cứu hay phải gặp bác sĩ tai mũi họng thật sớm để điều trị kịp thơì. Đây chỉ là những lời khuyên sơ đẳng, bệnh nhân cần gặp bác sĩ của mình để theo dõi bệnh và trị bệnh.
Bs Trần Mạnh Ngô (www.yduocngaynay.com)

(trả lời: ThuongNhatHuong)








Chào mừng BS TMN đã đến với PRĐT, xin cảm ơn BS đã cho các lời khuyên... 



Các cách chữa trị cho Viêm Xoan Mũi Mãn Tính (Chronic Sinusitis)... từ Bệnh Xá Mayo  

Viêm Xoan Mũi (Sinusitis)... theo WP  

... theo Thư viện Y khoa Quốc Gia HVYTQG... 

... và BS Tichenor... dưới dạng PDF  



















hvt_ -> RE: Viêm Xoan Mủi... (7/4/2007 6:55:27 PM)

quote:

Trích đoạn: LeThu


* Đông y:

Ngoài ra theo GS-TS dược học Đỗ Tất Lợi cũng như kinh nghiệm trong nhân dân là dùng lá cây cứt lợn cũng rất hiệu quả ( chú ý: bị đặt oan là “ cứt lợn” chứ thật tình lá cây này không thối chút nào, chỉ có mùi hăng hắc: khi đun lên thì có mùi thơm dễ chịu nên các chị em vùng quê hay dùng để gội đầu.)
Lấy một nắm lá tươi, rửa nhẹ tay cho sạch, giã nát rồi vắt lấy nước đem rỏ vào hai lỗ mũi, trong tư thế nằm ngửa chừng 10-15’, dưới hai vai có kê gối, nhằm để lỗ mũi dốc ngược, cho phép thuốc ngấm vào xoang. Làm mỗi ngày 1-2 lần cho đến khi khỏi.


 
Chào bác LT,
 
Cho hvt hỏi hoa này trông như thế nào ạ? Cảm ơn bác




hoài vọng -> RE: Viêm Xoan Mủi... (7/5/2007 3:22:25 AM)

Ngưòi nhà cua HV đã khỏi 90%  khoảng nửa năm phải đến Chợ Rẫy dể tái khám
Ở Saigon đến chỗ bán cây kiểng hòi  cây trâm bầu đó là cây cứt lợn hoa chùm cỡ miệng tách uống trà




LeThu -> Viêm Xoan Mủi... Hoắc Hương Kế (7/5/2007 4:44:29 AM)

 





quote:

Viêm Xoan Mủi... - 7/5/2007 5:55:27 AM
hvt_
Nhà Lá
Bài: 19
Trích đoạn: hvt_

quote:

Trích đoạn: LeThu


* Đông y:

Ngoài ra theo GS-TS dược học Đỗ Tất Lợi cũng như kinh nghiệm trong nhân dân là dùng lá cây cứt lợn cũng rất hiệu quả ( chú ý: bị đặt oan là “ cứt lợn” chứ thật tình lá cây này không thối chút nào, chỉ có mùi hăng hắc: khi đun lên thì có mùi thơm dễ chịu nên các chị em vùng quê hay dùng để gội đầu.)
Lấy một nắm lá tươi, rửa nhẹ tay cho sạch, giã nát rồi vắt lấy nước đem rỏ vào hai lỗ mũi, trong tư thế nằm ngửa chừng 10-15’, dưới hai vai có kê gối, nhằm để lỗ mũi dốc ngược, cho phép thuốc ngấm vào xoang. Làm mỗi ngày 1-2 lần cho đến khi khỏi.



 
Chào bác LT,
 
Cho hvt hỏi hoa này trông như thế nào ạ? Cảm ơn bác






... hay còn gọi là Hoắc Hương Kế... theo CIMSM  


[image]http://vnexpress.net/Vietnam/Doi-song/2006/04/3B9E88C1/cutlon.jpg[/image]

Cây HCL... theo Việt Hỏa Tốc... Ký, ở đây! .  


[image]http://www.vnexpress.net/Vietnam/Suc-khoe/2004/06/3B9D36EA/04061011.jpg[/image]

Thuốc từ cây HCL..., ở đây!  .  


[image]http://www.khoahoc.com.vn/photos/Image/2006/04/11/Ageratum_conyzoides.jpg[/image]


Chữa bệnh bằng cây HCL... theo KHVN..., ở đây!  .   


Theo trang ĐT..., ở đây! 

Theo trang của Đại Học Đường Purdue theo Lin Chau Ming..., ở đây!   


[image]http://www.rain-tree.com/pics/ageratum.gif[/image]

Theo trang RainTree..., ở đây!  


... hay còn gọi là cây Cỏ Dê Billy... hình ở đây! 

[image]http://www.tropilab.com/images/ageratum-conyzoides.gif[/image]

Theo trang "Bào Chế Thuốc Ôn Đới"...(TL), ở đây!  

Ageratum conyzoides or Billy Goat Weed... theo trang Birdman..., ở đây!  

Theo trang Bách Khoa Tự Vị..., ở đây! 








SK/SĐ theo LT... 

LT  




147 









TungDuong -> RE: Viêm Xoan Mủi... Hoắc Hương Kế (8/3/2007 12:40:50 PM)

Một số bệnh nhân cứ nghĩ rằng Viêm mũi mãn tính là bệnh suốt đời, thật ra không phải thế, nếu điệu trị đúng cách bệnh sẽ dứt hẳn. Có thể cho uống trụ sinh như Amoxicillin, Augmentin hay Omnicef khoảng 3 tuần lễ, hoặc đôi khi người Bác sĩ gia đình phải gửi bệnh nhân đến bác sĩ Tai Mũi Họng để chọc dò xoang, cấy vi trùng, và bơm trụ sinh vào xoang. Ngoài ra phải điều trị những bệnh hay dẫn đến viêm xoang như viêm mũi dị ứng (uống thuốc allergy, xịt steroid vào mũi...) hay tiểu đường (dễ gây ra viêm xoang do nấm )...Ngoài ra phải loại trừ  ung thư vùng xoang mà có thể xãy ra ở những người gốc Trung Hoa.
Bên Mỹ, thường trẻ em ít bị viêm xoang (sinusitis) do Streptococcus pneumonia từ khi có thuốc chủng ngừa Prevnar.




Trang: [1]



Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode