| Author |
Topic  |
|
Physics
Biệt Thự
   
882 Posts |
Posted - Jun 14 2002 : 10:50:45 PM
|
quote: Trích đoạn từ tuthuc: Thắc mắc
Nếu nói trong câu " Da trắng vỗ bì bạch " Chữ "BÌ BẠCH " là da trắng, thì tại sao người ta viết "Bạch tượng" , " Bạch diện thư sinh" mà không viết hay nói ngược lại ??? Vậy cái nào đúng đây .
Tuthuc à ... 
Đúng ngữ pháp thì viết tĩnh từ (bạch) trước danh từ (tượng hay bì) nhưng vì đây là lối viết chữ Việt Nam với phần tượng thanh (bì bạch) như tiếng (bì bỏm) mà được dùng sát nghĩa theo thứ tự khi chuyển dịch:
Da trắng - vỗ bì bạch
|
 |
|
|
langbian
Lều Tranh
Iceland
37 Posts |
Posted - Jun 22 2002 : 6:26:49 PM
|
III - lục bát song thất lục bát
Mấy câu tự thán của Nguyễn Trãi lúc chưa gặp minh quân, đã tả nỗi cô liêu và lòng hoài nghi về thời cục của người chí sĩ:
Tự Thán
Con thuyền lơ lửng bêb sông Biết đem tâm sự ngỏ cùng ai hay Chắc chi thiên hạ đời này Mà đem non nước làm rầy chiêm bao Đã buồn về trận mưa rào Lại đau về nỗi ào ào gió đông Mây trôi nước chẩy xuôi dòng Con thuyền hờ hững bên sông một mình.
###
Phan Bội Châu trong lúc bôn ba hải ngoại, đã nói lên khí phách và hoài bão của mình trong bài:
Đêm Trăng Hỏi Bóng
Đêm lơ lửng mình cùng trời đứng, Mình hỏi trời, trời lững làm thinh! Trên trăng, dưới nước, giữa mình, Thôi thời với bóng tự tình vân vi. Khen cho bóng thiệt tay lanh đợ, Chưa dứt câu, đã mở miệng rồi. Rằng: "Ai như nghĩa ông tôi? Khi đi, khi đứng, khi ngồi theo ông. Sao ông vẫn hình dung buồn bã? Khiến tôi cũng rầu rã vì ông! Điều chi uất kết ở trong? Xin ông kể hết nỗi lòng tôi nghe. - Ừ, muốn nói nhưng e đêm vắn. Lời quá dài thêm bận lòng ngươi. Lạ lùng cho mụ bà trời, Thình lình đẻ rớt một người là ông! Òa một tiếng non sông nứt nẻ, Nòi Rồng Tiên xin kể một người. Sáng hai mắt, tỏ hai tai, Khuôn thân bảy thước khá dài khá to. Đầu óc cũng tròn vo sâu hoáy, Rầu mày xem đáng thảy nam nhi. Mỹ, Âu đất há chật gì? Tình cờ sinh ở Trung Kỳ Việt Nam. Sao chẳng điếc chẳng câm cho rảnh? Sao hay mang hay gánh hoài hoài? Chân không, sao dám đá trời? Tay không, sao muốn lấp vời dời non? Lưỡi khua mỏ chẳng mòn sao nhỉ? Ruột quay tơ chẳng nghĩ vì sao? Gân đồng xương sắt thế nào? Đành cho muôn sắt bắn vào bia thân! Sao mãi mãi phong trần không đã? Mà gan vàng dạ đá trơ trơ? Ích gì nghĩ vẩn nghĩ vơ? Nghĩ mình mình luống ngẩn ngơ tháng ngày? Chẳng ích gì sao hay làm mãi? Làm mãi sao chẳng cái gì thành? Tại ai, hay tội tại mình? Tại mình hay cũng sự tình tại ai? Bóng nghe hỏi thở dài và nói: - Kể đầu đuôi: thưa tội tại ông Miệng đời độc ngọt gian nồng! Sao ai lừa gạt mà ông nghe liều? Ông xem xét sao nhiều hờ hững? Việc trăm năm tưởng những rày mai! Lòng ai ông tưởng như ai, Biết đâu rắn rít hươu nai đầy đường! Người khôn khéo ông càng sưa vụng. Trước bầy ma phun giọng phật linh! Ngu sao chúng trọc mình thanh, Cuồng sao chúng túy mình tinh làm gì? Ông chẳng thấy đời ni danh giá Chẳng gì hơn xe ngựa lâu đài, Ngon cơm tốt áo là rồi, Ai còn tưởng đến việc ngoài thân gia! Dầu lịch sử ông cha thây kệ, Nhục hay vinh họ kể gì đâu. Việc gì ông cứ bo bo? Trong thiên hạ kể rất ngu ai bằng! Ông thử giắt nường Trăng xuống hỏi, Xem như lời tôi nói phải không? Nghe lời lòng lại dặn lòng, Đã xe trước đổ còn hòng xe sau: - Bóng hỡi bóng dùm nhau tính dốn, Còn sau này với bạn tâm tri! Vừng trăng vừa ẩn non tây, Trời đông lựng lựng lại mầy với ta.
###
Hồi Đông Kinh nghĩa thục đề xướng phong trào Duy Tân có truyền tụng một bài ca cổ võ rất hùng hồn:
Bài Ca Á Tế Á
....................... Ngồi mà ngẫm thêm sầu lại tủi, Nước Nam ta gặp buổi truân chuyên, Dã man quen thói ngu hèn, Nhật Bản Minh Trị dĩ tiền, khác đâu? Tự giống khác mượn màu bảo hộ, Mưu hùm thiêng thua lũ cáo già, Non sông thẹn với nước nhà, Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu. Nỗi diệt chủng vừa đau vừa sợ, Nòi giống ta chắc có còn không? Nói ra ai chẳng đau lòng, Cha con tủi nhục, vợ chồng thở than. Cũng có lúc căm gan tím ruột, Vạch trời cao mà tuốt gươm ra. Cũng xương, cũng thịt, cũng da, Cũng hòn máu đỏ con nhà Lạc Long. Thế mà chịu trong vòng trói buộc, Bốn mươi năm nhơ nhuốc lầm than. Thương ôi! Đại Việt giang san, Văn minh đã sẵn, khôn ngoan có thừa. Hồn mê mẩn, tỉnh chưa, chưa tỉnh? Anh em ta phải tính sao đây? Tàu là bạn Nhật là thày, Trí khôn phải học, nghề hay phải tìm. .....................
###
Việc cải cách đầu tiên được tuyên truyền ráo riết nhằm vào sự cắt tóc ngắn, bỏ lối để búi tóc cổ hủ khi xưa:
Cắt Tóc
Phen này cắt tóc đi tu, Tụng kinh Độc Lập ở chùa Duy Tân. Đêm ngày khấn vái chuyên cần, Cầu cho ích nước lợi dân mới là. Tu sao mở trí dân nhà, Tu sao mộ được nước ta phú cường. Lòng thành thắp một tuần hương, Nam mô Phật tổ HỒng Bàng chứng minh. Tu hành một dạ đinh ninh, Nắng mưa dám quản công trình một hai. Chắp tay lạy chín phương trời, Kêu trời phù hộ cho người nước tôi. Tiểu tôi trông đứng trông ngồi, Trông sao cho đặng giống nòi vẻ vang. Nào là tín nữ thiện nam, Nào là con cái thập phương giúp cùng. Giúp tôi đúc quả chuông đồng, Đúc thành quả phúc. ta cùng hưởng chung Ai tu xin dốc một lòng, Nghìn năm thu tạc một chữ đồng đền xương. Nam mô Phật tổ Hồng Bàng.
###
Khoảng năm 1927 cụ Giải nguyên Lê Văn Huân người vùng Nghệ Tĩnh thấy ảnh hưởng văn hóa Pháp đã sâu rộng, lo rằng đám tân học sẽ quên hết gốc, nên có đôi lời nhắn nhủ:
Gửi Các Thày Thông Ký
Khi còn bé, bố cho đi học, Vào nhà trường, miệng đọc A, B. Sớm khuya đèn hạnh sách lê, Lam Kiều, xe ngựa đi về mặc ai. "Đích tê" với mấy bài phép toán, "Véc bờ" kia cũng rán sức chia, Ân cần dậy sớm thức khuya, Chỉ lo học tập, biết gì ăn chơi. Mấy năm trời xi lô xi lốc, Hạch đỗ rồi, ông đốc, ông thông. Lương ăn bảy tám chục đồng, Tưởng rằng vinh hiển bõ công tập rèn. Biết đâu chuyện nòi hèn nước mất, Xem ông Tây như Phật như Tiên. Trong trường nhồi sọ đã quen, Hễ khi mở miệng là khen Tây lành, Gà què chạy loanh quanh cối thóc, Thấy có ăn nhằn nhọc chui vào. Biết chi đồng chủng đồng bào, Biết chi thế giới phong trào là chi, Kiếm được tiền đem đi phung phá. Thấy việc hay cũng chả dám làm, Mình dơ thôi quản chi chàm, Tát tai đá đít cũng cam chịi vầy. Không phải là các thầy thông ký, chẳng biết điều liêm sỉ hiếu trung. Nếu như có kẻ nói cùng, Chắc là sẽ động đến dòng lương tâm: "Chúng tôi đã biết lầm từ trước, Rầy về sau việc nước xin lo. Nước nhà độc lập tự do, Trước lo lý luận, sau lo thực hành. Để thoát khỏi cái vành nô lệ, Người Nam ta trị lấy nước ta. Ai ơi! nghĩ lại kẻo mà, Thông ngôn, Ký lục cũng là người Nam ..."
###
Ở ấp Thái Hà nơi Hoàng Cao Khải hưu dưỡng, thường có mở ra những cuộc vui chơi, như chọi gà, đánh cờ người, chọi chim hoạ mi ... Một buổi chọi chim đã làm đầu đề cho bài vịnh sau đây, ám chỉ gian thần:
Chim Họa Mi
Họa mi, ai họa nên Mi, Mã thì cũng đẹp, hót thì cũng hay. Ai đưa Mi đến chốn này, Nước trong, gạo trứng Mi rầy cứ sơi. Lầu hồng gác tía thảnh thơi, Mi ăn, Mi nhẩy, sướng đời nhà Mi. Khen cho Mi cũng gặp thì, Tổ xưa Mi có nhớ gì hay không?
Ăn rồi rồi lại hót thong dong Bởi thế nên mi mắc phải lồng Gạo trứng nước trong Mi thú nhỉ Vào luồn ra cúi có vinh không?
###
Nói đến bọn "quần thần" không thể bỏ qua ông Vi, ở chức tổng đốc, được bổ về làm tuần phủ tỉnh Thái Bình.
Muốn biết sự hống hách của Vi thế nào, chỉ nhìn qua những đơn từ cũng rõ: đơn nào cũng phải đề:
Kính gởi Cụ lớn Hiệp tá Đại học sĩ, Thái tử thiếu bảo, thưởng thụ đệ tứ đẳng Bắc đẩu bội tinh, Tổng đốc lãnh tuần phủ Thái bình.
Vi tàn ác nổi tiếng, nên dân coi như hung thần: lão thẳng tay tàn sát những người dân Thái Bình đã nổi lên làm cách mạng. Khi được thay Hoàng Trọng Phu làm tổng đốc tỉnh Hà Đông, Vi bắt các quan lại và hương chức Thái Bình phải góp tiền tiễn chân.
Dịp này có người làm thơ ghi "công đức" Vi, dán ở trước dinh tuần phủ:
Vi trùng dịch tả đại nhân, Ngài nên hiểu thấu tình dân Thái Bình. Thái Bình lắm nỗi bất bình, Vì đói khổ phải biểu tình năm xưa. Trả lời, súng bắn như mưa, Chín mười mạng chết cũng chưa hả lòng. Lại còn đốt phá lung tung: Đông nho, Thanh giám chỉ trong mấy giờ Trâu bò gạch ngói trỏng trơ, Đống tro vô đạo bây giờ còn nguyên. Lời căm tức, tiếng rủa nguyền, Mấy năm nay vẫn còn truyền miệng nhau. Mùa qua lúa lại bị sâu, Lấy gì nộp thuế nuôi nhau lúc này. Quan ôn ngài tỉnh hay say, Mà không hiểu thấu tình này cảnh kia. Lại còn vênh váo mũ hia, Lại còn báo hại dân quê Thái Bình. Lại còn bắt góp từng trinh (1) Còn muốn bữa tiệc linh đình tiễn đưa. Vi trùng dịch tả hiểu chưa? Mấy nghìn, phù thủy (2) phải đưa tiễn ngài. Chúng tôi nếu đoán không sai, Sẽ rút ruột ngắn ruột dài của dân. Ơi ôn thần hỡi ôn thần, Sao không biết nhục tấm thân râu mày. Liệu mà xa chạy cao bay, Đừng quen kiếm chác vùng này nữa đâu. Gánh gồng vội cút cho mau!
### ___________________________ (1) Trinh là tiền Khải Định (2) Những tay sai của Vi, hoặc là những quan lại hương chức dưới quyền Vi.
Còn tiếp |
 |
|
|
langbian
Lều Tranh
Iceland
37 Posts |
Posted - Jun 23 2002 : 10:51:33 AM
|
(phần IỊI lục bát, song thất lục bát tiếp theo)
Sau khi Hitle tự tử, Nhật Bản trở thành mục tiêu duy nhất cho cuộc tấn công ồ ạt đêm ngày của phe Đồng Minh.
Đồ Phồn đã phỏng bài "Khóc Dương Khuê" của Yên Đổ, mà làm ra lời
Nhật Hoàng Khóc Hít-Le
Hít le, thôi bác toi rồi! Bom bay đạn nổ tơi bời lòng ta ... Nhớ từ thuở xông pha ngày trước, Trục tam cường, tôi bác cùng nhau: Tưởng rằng đè bẹp năm châu, Ai hay lụn bại, biết đâu cơ trời! ............................... Vốn đã biết bỏ đời là phải, Vội vàng chi bác mải ra ma! Chợt nghe tôi những xót xa: Đương thân bách thắng, hóa ra thua dồn ... Cờ chữ vạn không còn phấp phới, Ai người đem thế giới nhuộm đen? Máu tanh không có bạn hiền, Say sưa, không phải không phiền không lo! Thơ phát xít đắn đo không viết, Viết đưa ai, ai biết mà đưa? Trời Âu vừa tạnh gió mưa, Sóng dồn bể Thái, khổ chưa hỡi trời! Quân đổ bộ khắp nơi tua tủa, Thành Đông Kinh khói lửa mịt mùng. Nào Anh nào Mỹ tấn công Nào Nga cũng chực vào vòng đánh hôi! Bác biết trọn cái đời của bác, Trục, mình tôi, gánh vác sao đang Sóng dâng ngập cả ngai vàng Khóc tôi, khóc bác, hai hàng chứa chan ...
###
Cá rô sống trong ao bùn. Cá rô ở đầm Sét trong địa phận làng Thịnh Liệt tỉnh Hà Đông, vốn có tiếng là ngon hơn rô các nơi.
Một nhà nho tìm đến làng Thịnh Liệt để thăm một người bạn vừa phải lao đao vì thời cục, đã để lại mấy câu nói lên cái tình bằng hữu thật là ân cần và tế nhị:
Qua chợ Mơ, đến làng Thịnh Liệt Rằng cá rô đầm Sét là ngon. Bấy lâu cạn nước khô bùn Biết rằng phong vị có còn như xưa?
###
Chúng ta, ai cũng thuộc bài sau này của Tú Xương:
Sông kia, giờ đã nên đồng, Nơi làm nhà cửa, nơi trồng ngô khoai. Nửa đêm tiếng ếch bên tai, Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò!
Ta thuộc và ta hay ngâm bài đó vì nó có một nhạc điệu đầy âm hưởng u hoài. Song, nếu ta để ý một chút, ắt phải đánh dấu hỏi: nửa đêm còn ai gọi đò, mà nghe tiếng gọi đò can chi đến phải giật mình? Ấy là bởi ta không biết rằng: sông Vị Hoàng chảy ở gần nhà ông Tú, về thời ấy thỉnh thoảng được dùng làm chổ hò hẹn của những nhà ái quốc, hoặc từ Thanh Nghệ ra, như nhóm Phan Bội Châu, hoặc từ Hà Nội Hưng yên xuống như nhóm Nguyễn Thiện Thuật. Những kỳ tụ tập thường vào lúc đêm khuya, mà tất nhiên là có mặt ông Tú, vì ông được tiếng là người có nhiệt tâm. Mỗi khi ông Tú đến họp, lại cũng tất nhiên có tiếng gọi đò để ông sang. Về sau, quãng sông này bị lấp đi, cuộc hội họp phải thay địa điểm. Vả lại thời cục mỗi ngày một khó khăn, rồi ra cũng không gặp nhau được nữa, những người hội họp khi trước đều bị bắt bớ hoặc phải trốn tránh dần mòn. Vì thế, hễ nghe tiếng ếch đêm khuya, ông Tú lại giật mình nhớ lại tiếng gọi đò khi trước. Cho nên câu thơ hoài cổ trên kia, ngâm lên với một tâm trạng ôn cố mới thấy thật là "vô hạn cảm hoài".
###
Một nhà nho, tài học uyên bác mà chỉ đổ tú tài, sau vì sinh kế eo hẹp bất đắc dĩ phải xin đi làm thừa phái là bật thấp nhất trong ngạch "lại". Làm mà miễn cưỡng thành ra không mẫn cán, vả lại sãn cái tâm trạng bất đắc chí nên thường phát ra lời thơ không được từ tốn. Có bài thơ:
Ông Thừa Tự Thuật
Ông là Thừa phái Hoàng nông Ông ngồi ông nghĩ mình ông thật thừa Người trong thế giới đã vừa Cớ chi Trời lại lọc thừa ra ông Mắt thừa ông chẳng buồn trông Gặp gái mà hồng ông liếc ông chơi Tai thừa ông chẳng nghe ai Thấy chuyện nực cười ông chỉ thoảng qua Miệng thừa ông chẳng nói ra Câu chuyện mặn mà ông nói đủ nghe Tay thừa ông chẳng buồn phê Sẵn dấu son nhòe ông vạch mực đen Chân thừa ông chẳng buồn chen Sẵn bước đường liền ông cứ đi Bụng thừa ông chẳng buồn suy Ông cứ gan lỳ, mà việc cũng xong! Ông còn thừa cái chi không?
Đến đây nhà nho đâm cáu, đi vượt ra ngoài mức nhã độ, xin mạn phép bạn đọc chép ra cho đủ nguyên văn và cũng để hiểu cái tai vạ đã xảy đến cho tác giả:
Ông còn thừa cái giấu trong đũng quần Cô nào lịch sự thanh tân Hỏi rằng có thiếu, muốn mần ông cho! Ngán cho cái bọn nhà nho Mất tiền mất của đi lo Ông Thừa.
Chính vì mấy câu bông đùa thiếu với thừa, nên ông thừa sau này bị ông thiếu (1) bãi chức. Cho mới biết hoạn trường không phải chỗ được đem thừa bì với thiếu!
___________________ (1) Ông thiếu trỏ thiếu bảo Hoàng Trọng Phu
###
Thời xưa, các cụ những lúc cao hứng, hay lui tới "xóm chị em" thường được gọi văn vẻ là "quán Sở lầu tân".
Ả đào là những người vì cảnh ngộ xui nên mà phải làm cái nghề buôn phấn bán son. Nhiều cô lấy làm vạn bất đắc dĩ, là vì đã từng theo đòi bút nghiêng, nên những lúc cảm thương thân thế, thường viết ra những vần ai oán:
Chốn ca lâu đèn dong một ngọn, Đêm năm canh hao tổn tinh thần. Ngủ ngày thức tối hư thân, Biết đâu quán Sở lầu Tần thế gian! Thân như thể hoa tàn nhị rữa, Bỏ bên đường làm của chơi chung. Sang hèn có bạc thì xong, Tha hồ vợ vợ chồng chồng chén son. May gặp khách nha môn quyền quý, Chẳng may ra, gặp kẻ ngu hèn. Tháng ngày ẻo ọe chè men , Bẻ hành bẻ tỏi chị em đến điều ...
Nhưng, khi gặp khách tri âm, thì đến lúc chia tay có cô níu "anh" lại mà ngâm:
Anh về, em chẳng cho về, Em níu vạt áo, em đề câu thơ ...
Thơ rằng:
Ta chửa xa nhau đã nhớ nhau, Nhớ nhau vì nỗi phải xa nhau. Xa nhau chi để cho nhau nhớ, Mà có xa nhau mới nhớ nhau!
###
Một cô đào khác cũng không kém tha thiết. Cô đào từng quen thuộc với khách một đôi lần, sau bẵng đi một thời gian khá lâu, khách lại trùng lai nhưng lần này giai nhân đã "lần hôm mai đổi khác hình dung", nên khách không nhận được ra ngay.
Cô nghẹn ngáo ngâm:
Bước ra một bước một dừng Biết ai không nhớ, thà đừng nhớ ai! Đắn đo cân sắc cân tài Nỗi mình mình nhớ, mặc ai quên mình ...
###
Đôi khi có cô hoặt bát lại hay pha màu chanh chua trong sự chiều đãi.
Tú Xương một buổi kia đến chơi, sáng ra về tìm ô không thấy, tuy bực mình mà cũng không nỡ nói nặng, chỉ tức sự mấy câu:
hôm qua, anh đến chơi đây, Giầy, chân anh dận, ô, tay anh cầm. (1) Rạng ngày vừa trống canh năm, anh dậy, em hãy còn nằm trơ trơ. Hỏi ô, ô mất bao giờ, Hỏi em, em cứ ậm ờ, không thưa. Nữa rồi rầy nắng mai mưa, Lấy gì đi sớm về trưa với tình?
Em liền trả lời ngay vừa cho xuôi chuyện vừa không quên cong cớn:
Chiếc ô là của mấy mươi? Ngắn ngày xin chớ dài lời làm chi! Nắng thì nắng cũng có khi, Mưa thì mưa cũng có kỳ mà thôi. Ví dù anh có thương tôi, Thì xin anh cứ đội trời anh lên ... Hay là anh quyết bắt đền, Thì đây sẵn có cái đền ... bằng ba!
_____________________ (1) Có bản chép: giầy dôn, ô tây, là lầm vì những thứ ấy mới mẻ quá không phải đồ dùng của nhà nho hồi đầu thế kỷ. Đây tác giả muốn nhấn mạnh đến sự mình nhớ rõ chân dận giầy tay cầm ô.
###
Tú Xương một đêm đi chơi phố với một bạn gái, bỗng gặp trời mưa, vội lấy vạt áo bông mình đương mặc, nâng lên che đầu cho bạn và ngâm:
Này ai có thấu cho không? Đêm mưa một mảnh áo bông đội đầu ... Rồi ra ai biết ai đâu, Áo bông ai ướt, khăn đầu ai khô!
Chưa chi đã kể công, anh chàng xem chừng chỉ những muốn bắt đền! |
Edited by - langbian on Jun 23 2002 10:53:51 AM |
 |
|
|
langbian
Lều Tranh
Iceland
37 Posts |
Posted - Jun 25 2002 : 7:51:08 PM
|
IV - tập kiều - vịnh kiều
Truyện Kiều, ai cũng phải phục là một áng văn bất hủ. Có nhiều áng văn cũng vào hàng bất hủ, mà không được phổ biến sâu rộng trong quần chúng như truyện Kiều, là bởi vì đâu? Vì giá trị của truyện Kiều không những ở trong câu văn óng chuốt, ý tứ hàm súc, lại còn ở cái nhạc điệu dịu dàng êm ái khiến dễ nhớ, dễ ngâm, dễ truyền tụng; và nhất là vì tâm trạng con người được vẽ ra trong mọi cảnh ngộ hỉ nộ ai lạc: ai gặp trường hợp nào cũng có thể tìm được một câu Kiều vừa ý mà ngâm ngợi, giãi tỏ nỗi lòng.
Để tả những tâm trạng phức tạp mà một hai câu liền không đủ ngụ được hết ý, người ta đặt ra lối "lẩy kiều" hoặc "tập kiều", nghĩa là lấy một câu sáu ở đoạn này ghép vào với câu tám cùng vần ở đoạn kia. Dùng lối này, có người đã mô tả được những sự vật mà Nguyễn Du không từng đề cập đến, cả những sự vật chưa có trong thời ông.
Chẳng hạn như:
Cái Ống Máng
Trên vì nước, dưới vì nhà, Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng! Nhìn càng lã chã giọt hồng, Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra ...
Đèn Cầy
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà Sầu tuôn đứt nối, châu sa vấn dài. Một mình âm ỷ canh chầy Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi.
Diều Sáo
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Xe Hơi
Thênh thênh đường cái thanh vân, Một xe trong cõi hồng trần như bay!
Người Thông Manh
Tưởng bây giờ là bao giờ Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao Trong theo nào thấy đâu nào Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
Chó Mực
Đêm ngày giữ mực giấu quanh Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời!
Mỹ Nhân Soi Gương
Một mình lặng ngắm bóng nga, Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng! Ngập ngừng thẹn lục e hồng Hoa thơm phong nhị trăng vòng tròn gương.
Xe Đám Ma
Sắm sanh nếp tử xe châu, Song song ngựa trước ngựa sau một đoàn. Dựng cờ nổi trống lên đàng, Họa là người dưới suối vàng biết cho!
Cái Trung Tiện
Trông theo nào thấy đâu nào Hương thừa nhường hãy ra vào đâu đây.
Hàng Vệ Sinh
Cửa hàng buôn bán cho may Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi
###
Hồi Đông Kinh nghĩa thục, có truyền tụng một bài tập Kiều nói lên nỗi lòng của kẻ vong quốc:
Trời Tây Bảng Lảng
Trời Tây bảng lảng bóng vàng Bây giờ kim mã ngọc đường với ai? Cúi đầu nép xuống hiên mai, Còn toan mở mặt với đời cho qua! Trông người lại ngẫm đến ta Làm ra con ở chủ nhà đôi nơi. Người yêu ta xấu với người Đỉnh chung hồ dễ ăn ngồi cho yên ... Phẩm tiên đã bén tay hèn Làm cho bùn lại vẩn lên mấy lần. Đục trong thân cũng là thân Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi Tẻ vui âu cũng kiếp người Công đeo đẳng chẳng thiệt thòi lắm sao! Thân lươn bao quản lấm đầu Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi ... Phải điều ăn xổi ở thì Sao cho thoát khỏi nữ nhi thường tình? Lại còn dơ dáng dại hình Khư khư mình buột lấy mình vào trong. Làm cho dày tía vò hồng Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê Ra vào theo lũ thanh y Giãi dầu tóc rối da chì quản bao Ăn làm sao nói làm sao Quá ra khi đến thế nào mới hay?
###
Sau khi được tha, Phan Bội Châu bị đưa về Huế, ở đây tuy ông được sống tự do, nhưng nhà cầm quyền xét nét hành vi của ông rất gắt gao, chỉ sợ ông liên lạc với những người vận động ân xá, để thừa cơ dấy động phong trào cách mạng. Vả lại dư luận trong nước tỏ ra thắc mắc tự hỏi không biết ông có giữ trọn tiết khí hay không.
Ông không biết làm thế nào hơn là gửi cho quốc dân mấy câu tâm sự mà cô Kiều buổi đầu ngỏ với chàng Kim:
Ví chăng xét tấm tình si Thiệt ta mà có ích gì đến ai! Vội chi liễu ép hoa nài Còn thân ắt hẳn đền bồi có khi Sinh rằng: tưthuở tương tri Tấm riêng, riêng những nặng vì nước non Trăm năm tính cuộc vuông tròn Phải dò cho đến ngọn nguồn ngách sông Muôn đội ơn lòng ...
###
Đến trào nhà Ngô, dân di cư ở Bắc vào Nam tuy lao đao về sinh kế, mà vẫn còn tìm được thời giờ lẩy Kiều:
Ngô Trào
Trải qua một cuộc bể dâu, Trông vời cố quận biết đâu là nhà? Khéo oan gia, của phá gia Này là em ruột, này là em dâu! Cửa nhà dù tính về sau Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào!
###
Về lối "lẩy Kiều", ông bảng Mỗ là một trong những tay cự phách. Ông vốn là người phóng khoáng, vì phóng khoáng nên hay thiếu tiền, có lần đi vay nợ tây đen. Lệ vay phải có người ký bảo đảm, mình không trả được thì chủ nợ cứ người bảo đảm mà đòi. Đến hạn, ông bảng tất nhiên không trả được, mà rủi thay, người bảo đảm cũng không xoay ra tiền, cho nên việc phải đến đã đến: tây đen đệ đơn kiện, xin câu lưu ngay ông bảo đảm là người có tóc. Tòa cứ theo luật mà lên án: ông bảo đảm ngồi tù. Ông bảng ân hận lắm, nhưng biết sao bây giờ? Chỉ còn có cách gửi vào đề lao mấy câu Kiều lẩy để an ủi:
Tù Nợ
Tin tôi nên quá nghe lời, Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao! Phép công chiếu án luận vào, Ăn làm sao nói làm sao bây giờ! Chung quanh lặng ngắt như tờ, Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây ... Trông gương trong bấy nhiêu ngày, Khéo là mặt dạn mày dày khó coi ... Trăm điều ngang ngửa vì tôi, Còn thân, ắt hẳn đền bồi có khi!
Mấy câu này, ông bảo đảm ngâm nga, chắc cũng lấy làm thú, nên đành ngồi trong bóng rợp ít lâu mà không nỡ trách bạn một lời: cho hay cái ma lực của văn chương!
###
Ông bảng Mỗ còn lẩy nhiều vần kỳ thú, tiếc rằng chúng tôi chỉ chép được vài câu. Có lần ông đi dự tiệc do một người bạn cũ mời, bạn này mới đến trọng nhậm chức tổng đốc tỉnh Thanh nên tổ chức một bữa rượu mừng.
Bạn vốn chân cử nhân, lúc thiếu thời có gia nhập một đảng cách mạng. Đi phiêu lưu bên Tàu một dạo, ông từng làm ra bài "Hồ Trường" lâm ly khẳng khái, mà mỗi khi có tửu hứng, nghệ sĩ Trương Đình Thi lại lấy dao bào nhà ả đào làm gươm, vừa múa vừa hét, bi tráng như kẻ sĩ nước Yên nước Triệu khi xưa:
Hồ Trường
Trượng phu đã không hay xé gan bẻ cột (1) phù cương thường, Sao lại tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương? (2) Trời Nam nghìn dặm thẳm; Mây nước một màu sương. Học không thành, công chẳng lập, Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc; trăm năm thân thế bóng tà dương. Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi: Trời đất mang mang, ai là tri kỷ? Lại đây cùng ta cạn một hồ trường. Hồ Trường! Hồ Trường! ta biết biết rót về đâu? Rót về Đông Phương, nước bể Đông chẩy xiết, sinh cuồng lạn. Rót về Tây Phương, mưa Tây Sơn từng trận chứa chan; Rót về Bắc Phương, ngọn bắc phong vi vút, đá chạy cát dương; Rót về Nam Phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng. Nào ai tỉnh, nào ai say? Chí ta ta biết lòng ta hay. Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây!
Sau ít năm giang hồ ông về đầu thú, phản thày là cụ Sào Nam, tố giác bạn trong số đó có Đặng Văn Phương tức Đặng Đình Thanh, người Cần Thơ từng du học ở Đông Kinh, tại Đồng Văn thư viện (ông nầy sau bị đầy Côn Đảo mang số tù 193) do đó ông cử nhân cách mạng được bổ làm quan, chẳng bao lâu đã lên chức tổng đốc. Tiệc rượu họp toàn bạn cũ, thơ phú tất nhiên là nhiều, song lúc ra về, ai cũng chỉ còn nhớ có mấy câu Kiều mà ông Bảng đã lẩy:
Kể từ lạc bước bước ra đi Một là đắc hiếu, hai là đắc trung Giang hồ quen thú vẫy vùng Rầy xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?
Mấy câu "gọn thon lỏn" này đã làm cho mặt chủ nhân đương hồng hào, bỗng thành xám ngắt!
###
__________________________
(1) Xé gan bẻ cột: Chu Vân làm quan thời Hán Thành Đế, một hôm tâu vua: "Nay các đại thần, trên không phò chúa, dưới không giúp dân. Nếu được ban bảo kiếm, thần nguyện sẽ chém một kẻ nịnh thần để răn chúng". Vua hỏi chém ai? Vân tâu: "An Xương Hầu Trương Vũ". Vua nổi giận phán:"Kẻ tiểu thần dám phạm thượng, tội chết không thể tha được". Ngự sử cho bắt Vân. Vân trèo lên xà ngang cung điện. Xà gẫy. vân kêu: "Thần chỉ mong được xé gan như Tỉ Can khi xưa là mãn nguyện, nhưng không biết Thánh Triều rồi sẽ ra sao?"
Tả Tướng quân Tân Khánh Kỵ, bỏ mão, rập đầu kêu xin cho Vân. Vua tha. Sau các quan đề nghị thay cây xà gẫy. Vua phán đừng thay, chỉ cho sửa lại, để ghi nhớ hành động quyết liệt của người trung thần.
Tác giả tự dịch chiết hạm (gẫy xà) là bẻ cột, e không sát với điển. Các bản chép "bẻ cật" không hiểu theo điển nào.
(2) Có bản chép: Hà tất tiêu dao ... Nguyên Hán văn: Tiêu dao tứ hải hồ vi thử hương?
còn tiếp |
Edited by - langbian on Jun 25 2002 7:57:56 PM |
 |
|
|
langbian
Lều Tranh
Iceland
37 Posts |
Posted - Jul 30 2002 : 12:22:43 PM
|
IV - tập kiều vịnh kiều tiếp theo
Đối chọi sao cho lại được lối "lẩy Kiều" sắc bén của ông bảng! Ấy thế mà có lần một cô đào đã "lâßy" được cho ông phải "ứ hơi": ông bảng bữa kia qua chơi tỉnh Nam, lân la quán Sở lầu Tần, gặp cô đào nọ là trang thanh sắc. Nhân lúc cao hứng ông ngỏ ý sẽ giúp cô một nghìn đồng làm vốn dọn nhà riêng, cho cô khỏi phải than thân là đương ở lúc chân nâng.
Sau khi ông trở về Hà Thành, cô đào quả nhậ n được bưu phiếu, nhưng trong bưu phiếu chỉ ghi có con số 100$! Bực mình, cô gửi trả lại bưu phiếu, kèm hai câu:
Nghìn tầm, nhờ bóng tùng quân, Tiền trăm, lại cứ nguyên ngân phát hoàn!
***
Trong một cuộc đỏ đen, một được một thua, bên thua thiếu lại tiền, bên được đòi mãi không trả, đến hơn một năm lằng nhằng như thế, bên được gửi lại bên thua mấy câu:
Nợ Cờ Bạc
Rằng ngày hôm nọ giao binh Nỗi riêng còn mắc mối tính chi đây Tháng tròn như cuội cung mây Trường đông nghé mắt ngày ngày hằng trông Trách lòng hờ hững với lòng Đổi thay nhạn én đã hòng đầy niên Nào hay chưa hết trần duyên!
Lạ thay, mấy câu này công hiệ u hơn bao nhiêu thư hỏi, vì gửi đi là có tiền về ngay, lại còn kèm theo mấy câu:
Trước sau cho vẹn một lời Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau Rằng trong ngọc đá vàng thau Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì?
***
Một ông túng tiến - tình trạng này xảy ra rất thường, nhất là cho những người đàng hoàng xưa nay - đến nhờ bạn chạy cho một số, hẹn hai tháng sẽ trả. Chờ đến gần một năm, bạn cũng chẳng thấy hồi âm, bèn lẩn mẩn tập mấy câu Kiều:
Nhớ lời hẹn những bao giờ Đào đà phai thắm, sen vừa nẩy xanh Xa xôi ai có thấu tình Chúa xuân để tội một mình cho hoa!
Để tội cho hoa phải trả nợ một mình, kể cũng oan ức thật. Nhưng ư ử ngâm mấy câu trên, bể oan nhường cũng vơi vơi!
***
còn tiếp
|
 |
|
Topic  |
|
|
|