Thân chào các anh chị văn hữu trong Phố nhà.
Tôi xin nêu vài điều nhỏ nhặt bên cạnh các ý đã nêu “giác ngộ” còn là một động từ, cần túc từ.
Giác ngộ cái gì?
Sau bao năm tu khổ hạnh hành xác, Thái Tử Tất Đạt Đa ngồi dưới gốc cây bồ đề chiêm nghiệm, và tổng duyệt những kết quả trực nghiệm; Thái Tử uống chén sửa do bé chăn dê Chiên Đà dâng (có sách nói kẻ khác dâng); Ngài đã hồi lực và trên hành trình nội tâm, ngài giác ngộ những điểm chính sau đây:
Phật tính là bẩm sinh, ai cũng có Phật tính; Tâm và thân bất nhị, chẳng là hai chẳng là một Trung đạo là trí tuệ của chư Phật Vạn pháp chi phối bởi luật nhân quả và nhân quả đồng thời Định luật vô thường. Chỉ nói tóm như thế thôi, chứ còn nữa như chư Phật biết rốt ráo tận cùng cách vận hành của các pháp (tạm gọi là hiện tượng tâm linh). Đến khi giảng dạy (chuyển pháp luân) Ngài nói về tứ diệu đế, bát chánh đạo cũng nằm trong hệ thống tư duy nêu trên. Danh khả danh bất thành danh, đạo khả đạo bất thành đạo.
Do đó nói dài như tôi trình trên, coi ra thì có lý, nhưng làm mất cái uyên nguyên của sự giác ngộ. Cho nên chữ giác ngộ đã biến thành một động từ trực lập, không cần túc từ; nói vậy cũng chưa tới, chưa đạt cái bao dung của giác ngộ như nó kèm lý tưởng từ bi và cứu độ và muôn vàn thứ khác.
Cho nên giác ngộ hiểu bằng trực giác là như thị, như rứa lấy tâm linh mà hiểu. Đức Phật có sự giác ngộ ấy; nhưng ở những bậc thượng thủ, sở hữu biến thành thể tính; to have is to be; avoir c’est être. Cho nên nói Phật là Đấng Giác Ngộ. Cũng như Chúa Trời có tính thiện (goodness); Chúa Trời chính là tính thiện ấy, Goodness knows, thank Goodness, oh my Goodness.
Chữ ngộ, theo tôi, không có tính cách tổng quát và rộng lớn như giác ngộ; nhưng là một chữ có nhiều diệu dụng và được dùng rất nhiều. Nói là không rộng lớn như giác ngộ, vì các trường hợp gọi là ngộ có một đối tượng tương đối giới hạn, biết thấy một khía cạnh, một sự việc nào đó nhưng nó làm một khởi điểm trên đường tiến đến giác ngộ toàn diện.
Ví dụ câu chuyện sư trưởng bảo thiền sinh hãy đi rửa chén nên thiền sinh ngộ. Thiền sinh, tuy tưởng tượng sư trưởng sẽ truyền dạy cho những điều ghê gớm, trực nhận giá trị nhân bản chính là sự sống, cuộc sống hàng ngày mà con người cho là tầm thường và nhàm chán. Đó là cánh cửa đưa thiền sinh đến chân trời mới bao la. Câu chuyện làm liên tưởng đến đoạn mở đầu kinh Kim Cương. Đức Phật kinh hành khất thực xong trở về thọ phạn, và tự rửa bình bát, sửa y tề chỉnh rồi mới giảng kinh Kim Cương. Điều đó cho thấy Phật cũng bình thường như mọi người.
Nói lại, nếu từ cái ngộ nhỏ rồi đi vào tổng thể để giác ngộ thì ngộ cũng có thể xem là giác ngộ. Tuy không biết chữ Hán, tôi tin chữ ngộ đứng một mình hay trong tiếng đôi giác ngộ viết cùng chữ Hán Việt và hy vọng cũng giống như chữ ngộ là gặp. Tha hương ngộ cố tri, cuộc hội ngộ thân ái; đền ơn tri ngộ.
Tôi cũng xin nêu vài câu liên quan đến chữ ngộ. Tu một kiếp nhưng ngộ nhất thời. Câu ấy muốn nói ngộ (hay giác ngộ) là một hiện tượng đột phát vùng lên, bừng cháy như sấm chớp. Có người Mỹ đã chơi chữ: enlightenent is lightning. Nguyện sanh tây phương tịnh độ trung; cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu; hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh; bất thối (thoái) bồ tát vi bạn lữ. Hư tâm kiến Phật; ngộ không giác tha. Khai thị ngộ nhập là bốn mục tiêu liên hoàn của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (nói gọn Kinh Pháp Hoa) nói trong Phẩm thứ hai. Chùa Liên Hoa Garden Grove, Ca viết ngắn theo thể năm chữ như sau:
Các Đức Phật ra đời
vì một nhân duyên lớn
khai mở trí huệ Phật
chỉ cho chúng sanh thấy
làm cho chúng sanh rõ
đưa chúng sanh đi vào
chứng nhập Trí Huệ Phật
tức thành tựu Phật quả.
Chữ
ngộ thứ ba được viết thành làm cho chúng sanh rõ, chưa nói hết chữ nầy; theo tôi phải hiểu là gặp gỡ, thân cận quen biết, hiểu rõ rành rẻ. Chữ ngộ ở đây đang còn ở giai đoạn “hiểu biết”, giai đoạn gọi là tri. Cho nên muốn giác ngộ thực sự thì phải chuyển qua vế thứ tư là nhập, đi vào trí huệ Phật, sống bằng trí huệ Phật.
Phương pháp của ngành Pháp Hoa có phần khác với Thiền. Với thiền, thấy được lẽ vô thường, thấy được tánh không, gọi là giác ngộ tức thành Phật (hư tâm kiến Phật). Theo Kinh Pháp Hoa, huệ nhãn là kết quả Phật từng thân cân muôn ngàn Đức Phật, thực hành muôn ngàn lời dạy của chư Phật.
Sự hiểu biết, tri thức - không phải là huệ thức – rất khác với sự chứng nhập. Bạn có thể hiểu biết tường tận Tân Ước và Cựu Ước, bạn biết Thánh Peter (Pierre) đã làm gì, lịch sử của Vatican và các giáo hội khác nhưng bạn không có đức tin Thiên Chúa (Christian faith; foie chretienne), bạn chỉ là một học giả lạnh lùng; Thiên Chúa Giáo chẳng giúp ích gì cho đời sống tâm linh và xã hội của bạn.
Cũng thế, một học giả Phật Học không tin vào sự vận hành của nghiệp lực thì không thể thành tựu Phật quả. Nói theo ngôn ngữ Tây phương là phải embrace the faith.
Tôi ngại đã đi quá lãnh vực ngôn ngữ của Forum nầy. Đặt vấn đề thành Phật rất chi là vô bổ nhưng những điều gọi là ngộ (thay vì giác ngộ, cho khiêm tốn) giúp chúng tá thấy những sự thật ẩn tàng.
Ở post #10, Bống viết: mọi thứ trên đời của người này đều không có ý nghĩa mother gì hết đối với kẻ khác. Thật vậy, đây là một ví dụ về trung đạo; đừng đem những giá trị hữu hạn thành những giá trị vĩnh cữu. Ngô Khởi giết vợ để được vinh thân, nhưng có kẻ treo ấn từ quan hay bỏ đi như Phạm Lãi để ngao du Ngũ Hồ cùng người đẹp. Hoàng đế Tàu cuối cùng là Phổ Nghi đã mừng vì con dế thời ấu chúa không chết theo ngai vàng. Người hãy hát lúc thịnh thời sắc nước; mãi đi lên trước giờ thái dương cư ngọ, nhưng sau giờ thái dương cư ngọ hãy nghĩ đến những gì bền vững hơn vì ta đã biết, đã ngộ định luật vô thường chi phối sắc đẹp, danh vọng ….
Tôi đã edit ba lần để xuống hàng và thay font chữ nhưng đều thất bại.
Sorry
________________________
PS: đã thử làm lại.
TC