Linh Tinh Phố Rùm Bài Viết Gia Chánh Lời Tình K Truyện Chọn Lọc Thơ Tình
Trở lại trang đầu
Đi Vào Phố Hồ Sơ Cá Nhân Thư Riêng (Private Message) Các Bài Đăng Từ Lần Cuối Bạn Vào Các Bài Đăng Ngày Hôm Nay Lịch Sinh Hoạt Ghi Danh Trở Thành Thành Viên của Phố Rùm Những Câu Hỏi Thường Gặp Danh Sách Các Thành Viên
Phố này chỉ để xem lại bài cũ, không còn đăng bài mới lên được. Xin mời các bạn qua thăm Phố Rùm mới .
Phòng ẢNH

Bài Phỏng Vấn!

 
Xem những đề mục liên hệ: (trong diễn đàn này | trong mọi diễn đàn)

Tham gia dưới tên: Guest
  In Ra
Các Diễn Đàn >> [Đời Sống - Xã Hội] >> Giáo Dục >> Bài Phỏng Vấn! Trang: [1] 2   phần sau >   >>
Tên login:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
Bài Phỏng Vấn! - 9/6/2003 12:06:23 AM   
LeThu


Bài: 4963
Từ: Costa del sur el EUA
Bài phỏng vấn nhà văn Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ (TDS), do bác sĩ Trần Phương Châu (TPC) thực hiện. Trích trong Tập San Y Học Việt Nam số tháng 6 năm 1992. Lưu Vong Đạo Soái đánh máy.

TPC: Xin anh cho biết nguyên do nào đưa đến việc anh viết tiểu thuyết lịch sử?

TDS: Câu chuyện khởi đầu vào thời điểm 1950-1954, bấy giờ số người biết chữ Hán lác đác như sao ban mai, cho nên người ta đua nhau dịch tiểu thuyết Trung Hoa sang quốc ngữ, lập tức được độc giả hân hoan đón đọc. Những bộ có giá trị như Đông châu liệt quốc, Tam quốc chí, Thủy hử, ... chỉ có khoảng 15% là dựa theo chính sử. Còn thì toàn là hư cấu. Dĩ chí những loại, chưa tới 1% theo sử như Phong thần, Tây Hán chí (Hán Sở tranh hùng), Đông hán chí, Thuyết Đường, La Thông tảo Bắc, Chinh Đông, Chinh Tây, Ngũ hổ bình Tây, Ngũ hổ bình Liêu, Ngũ hổ bình Nam, Tây du ký v.v Mà hầu hết hư cấu của họ đều đặt trong ý thức chủ đạo của tộc Hán: Vua bao giờ cũng là con trời. Các văn thần thì phải là Văn khúc tinh quân, Văn xương tinh quân, võ tướng thì phải là Vũ khúc tinh quân, Nhị thập bát tú. Vua quan cùng vâng lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng sinh... Người dân trong thành, cũng như ngoài bưng, thi nhau mua, thuê về đọc. Thời đó đa số họ chưa đủ kiến thức suy nghĩ phân biệt tiểu thuyết với lịch sử. Cho nên họ đọc tiểu thuyết Trung Hoa, rồi tin rằng những sự kiện, những nhân vật là thật. Họ tự ti mặc cảm cho mình là Nam man, riết rồi họ còn kiêng húy, thờ kính những nhân vật tiểu thuyết đó. Bấy giờ tôi đang ở tuổi 10-15, sở học về Nho không bằng ông nghè, ông cử; nhưng kinh, sử, tử, tập là đã học hết. Mà hàng ngày thấy bạn hữu, thân nhân chúi đầu đọc tiểu thuyết Trung Hoa, rồi phùng mang trợn mắt mà bàn luận về những kiến thức trong tiểu thuyết. Tôi mất không biết bao nhiêu thời giờ giảng giải cho họ. Phụ thân tôi thấy vậy, thì khuyên:

Phàm giáo huấn, hay tranh luận, thì phải biết rõ kiến thức của người mình muốn dạy, muốn tranh biện. Khi con tranh biện với người mù rằng quả cam tròn hay vuông thì còn được; chứ tranh biện về cảnh hồ Hoàn Kiếm, Tháp rùa, hồ Tây, đê Yên Phụ với họ thì có ích gì? Sở dĩ dân ta ở vào hoàn cảnh đó, là vì mình không có những sách tương tự cho họ đọc. Bây giờ Nho học suy tàn, sợ rằng sau ba mươi năm nữa, cái cây đổ ngang cũng hiếm người biết rằng nó tượng hình chữ nhất. Vậy con hãy thựïc hiện di chí của tiền nhân. Bước đầu để hết thời giờ theo học ở trường, dư thời gian thì đọc sách cổ. Khi ra trường, có một nghề chắc chắn để kiếm sống, rồi con hãy sưu tầm hết thư tịch, bia đá, huyền thoại... viết lấy bốn bộ tiểu thuyết, thuật bốn thời kỳ hua hoàng của dân tộc Đại Việt: thời Lĩnh Nam, thời Đông a, thời Lam sơn, thời Tây sơn. Sau khi sách in ra, người ta đọc, thì tự nhiên cái nọc độc kia sẽ tựï biến đi trong dân gian.

TPC: Châu nghe nói anh là người con cực kỳ hiểu thảo. Thế mà theo di chí của tiền nhân thì các người muốn anh bỏ qua, không viết về thời Lý, thế sao lại có những bộ Anh hùng Tiêu sơn, Thuận Thiên di sử, Anh hùng Bắc cương (Bình Dương ngoại sử), Anh linh thần võ tộc Việt (Bảo Hòa ngoại truyện), và Nam quốc sơn hà, tổng số tới 18 quyển, 5,500 trang? Nguyên do nào có sự bất thường này?

TDS: Nguyên ngoại tổ và gia nghiêm đều là nhà Nho. Mà nhà Nho lại rất ghét hoạn quan. Các người cho rằng nếu tôi viết về cuộc đánh Tống, bình Chiêm, thì phải viết về quan thái úy Lý thường Kiệt; trong khi ngài là một quan hoạn. Các người không hề khuyên tôi bỏ giai đoạn lịch sử đời Lý, mà các người chỉ khuyên tôi viết bốn bộ kia; không khuyến khích tôi viết về ngài Lý thái úy mà thôi . Vả Châu nên biết thánh tổ nhà mình đã làm trái di chí của tổ tiên, mà lịch sử ghi chép nay còn truyền: Nguyên tổ An sinh vương Liễu chẳng di chúc cho thánh tổ Hưng Đạo vương cướp ngôi vua Trần đó ư? Hưng Đạo vương cũng chẳng từng không thựïc hiện di chúc đó ư? Vả thời đại huy hoàng Tiêu sơn, quan thái úy Lý chỉ là một trong hơn vạn anh hùng tạo dựïng lên, chứ đâu phải mình ngài?

TPC: Châu thấy rằng nguyên do để anh viết những đại tác phẩm ca tụng năm ngàn năm văn hóa cùng cuộc giữ nước anh hùng tộc Việt, không hoàn toàn do di chí của tiền nhân. Chính anh cũng mượn câu trong Văn tâm điêu long nói rằng: than ôi, văn chương là tấc lòng để lại nghìn sau (Ta hồ văn chương chi sự, thốn tâm thiên cổ dã). Vậy mục đích, hay cái gọi là tấc lòng của anh nó như thế nào?

TDS: Châu phải phân biệt nguyên do và mục đích. Di chí của ông cha dạy tôi là viết lấy mấy bộ lịch sử tiểu thuyết. Nhưng khi viết thì ba vấn đề quan trọng hoàn toàn do tôi quyết định, đó là hình thức, bố cục, và tư tưởng. Đành rằng thuật năm nghìn năm văn hóa cùng công cuộc dựïng nước, giữ nước của tổ tiên. Lịch sử là xương là thịt, nhưng tư tưởng là linh hồn. Vậy phải lồng trong chủ đạo dân tộc...

TPC: Khoan, khoan nói về chủ đạo đã. Xin anh cho biết nguyên do nào anh chọn hình thức chương hồi tiểu thuyết? Anh đã ảnh hưởng của những văn gia nào?

TDS: Về hình thức, hồi nhỏ, học chữ Hán, tôi bị ảnh hưởng rất nhiều từ La Quán Trung, Thi Nại Am, Ngô Thừa Ân, vì vậy tôi đã chọn chương hồi để thuật. Sau lớn lên, tôi lại chịu ảnh hưởng của Alexandre Dumas. Từ sau 1962, tôi lại chịu ảnh hưởng của Kim Dung. Cho nên trong tất cả những bộ tiểu thuyết của tôi, phân nửa do tôi sáng tạo, còn phân nửa tôi ảnh hưởng của năm văn hào trên. Về bố cục, thì chính tôi tự phân chia lấy . Tôi mượn thời Lĩnh Nam, để thuật lại những trang sử hồi mới lập quốc cho tới thế kỷ thứ nhất: Vua Hùng, thánh Tản, An Tiêm, Trương Chi My. Nương, thánh Chèm Lý Thân, thánh Gióng Phù Đổng Thiên Vương, An Dương vương, thành Cổ Loa, My. Nhâu Trọng Thủy, nẫy nỏ thần, Triệu Đà. Đến thời Tiêu Sơn, tôi lại mượn hoàn cảnh, để nhắc đến Sĩ Nhiếp, bà Triệu, Bố Cái đại vương, vua Ngô đánh Nam Hán, vua Đinh thống nhất đất nước, vua Lê đánh Tống cùng lược sử Phật giáo từ lúc truyền vào Đại Việt đến ngài Vạn Hạnh.

TPC: À, thì ra thế. Còn tư tưởng, anh ảnh hưởng của Nho ? Phật, hay của Lão ? Những tư tưởng của các anh hùng, là tựï lịch sử như vậy, hay anh tạo ra ?

TDS: Sự thực lịch sử như vậy cũng có, tôi lồng vào các nhân vật cũng có. Tôi không hề tạo ra tư tưởng. Thuở nhỏ học Nho, nhưng tôi không bị Nho chi phối. Ngược lại tôi chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của ngoại tổ và phụ thân về tư tưởng dân tộc. Mà tư tưởng dân tộc là gì? Một phần từ Nho, Phật, Lão từ Trung quốc truyền qua, được Việt hóa thành tư tưởng, đem tư tưởng ấy ra làm vũ khí giữ nước. Sau tôi trở thành Phật tử, bên ngoài các bìa sách, tôi đề bốn chữ Yên tử Cư sĩ, đã nói lên điều đó. Phật giáo mà tôi theo là Phật giáo Việt hóa, thành tư tưởng dân tộc, đạo pháp bất dị quốc đạo hay nói khác hơn, đạo pháp với dân tộc là một. Nghĩa là phải đem đạo pháp của đức Thế tôn hòa với dân, thành chủ đạo tộc Việt, chứ không phải là nước phải theo đạo Phật. Những nhân vật Bố Đại hòa thượng, Vạn Hạnh thiền sư, Sùng Phạm, Huê. Sinh, Lý Thái Tổ, Khai Quốc Vương, Bình Dương công chúa đã làm điều đó, tôi chỉ thuật lại mà thôi .

TPC: Anh là Phật tử, nhưng thực tế anh lại thân thiết với nhiều linh mục là tại sao ? Không lẽ còn có tư tưởng Thiên chúa giáo trong chủ đạo tộc Việt nữa sao ?

TDS: Hồi ở trong nước, tôi chỉ quen biết với một vài linh mục mà thôi . Nhưng từ khi ra ngoại quốc, tôi có dịp làm quen với khoảng trên 30 linh mục Việt. Nguyên do, khi tìm kiếm các tài liệu để viết bộ Anh hùng Tây Sơn, tôi phải sang Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, cùng cơ quan truyền giáo hải ngoại của Pháp (Rue du Bac, Paris) tìm trong kho tàng nhật ký, bút ký, thư tín của các cố đã sang Việt Nam truyền giáo vào thế kỷ thứ 17-18. Do vậy tôi hiểu nhiều về đạo Chúa tại Việt Nam. Từ chỗ đó tôi quen biết nhiều linh mục. Tôi thấy gần như tất cả các linh mục Việt Nam ở hải ngoại đều thâm cứu về văn hóa ,lịch sử, tư tưởng tộc Việt. Khi các đấng ở đâu, là y như tìm đủ cách tập hợp con chiên bổ đạo để sinh hoạt, để trao đổi, để giảng dạy về văn hóa, tư tưởng Việt. Cái thanh khí, lẽ hằng đó khiến tôi gần các ngài là thế. Còn vấn đề "Tư tưởng Thiên chúa giáo trong chủ đạo tộc Việt" thì đã có từ thế kỷ 16, 17 rồi . Trong bô. Anh Hùng Tây Sơn, tôi sẽ trình bày khi thuật hành trạng một số thánh tử đạo Việt Nam.

TPC: Anh thường nói rằng, anh viết để trình bày chủ đạo của tộc Việt. Vậy chủ đạo tộc Việt là gì? Ai đã tạo ra ?

TDS: Chủ đạo là niềm tin của một số người, kết hợp với nhau thành một dân tộc. Chủ đạo của tộc Việt kết hợp nhiều đời lại, chứ không do ai tạo ra cả. Như dân Do Thái thì tin rằng họ là dân được chúa chọn. Dân Hán thì tin rằng họ là con trời, khắp bốn phương đất nước tức thiên ha.. Người Việt thì tự hào là con rồng cháu tiên. Muốn tìm hiểu rõ chủ đạo của tộc Việt, xin đọc mấy bài bình luận bộ Anh Hùng Tiêu Sơn, Thuận Thiên di sử của giáo sư Lương Kim Định, mà tôi in vào cuối bộ Anh Hùng Bắc Cương (hay Bình Dương Ngoại Sử), hoặc giản dị hơn, đọc Anh Hùng Bắc Cương đoạn Trần Tự Mai và Tôn Đản đánh trận Tản Lĩnh. Nếu muốn tìm hiểu sâu xa, xin đọc bộ Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam của giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Việt Triết Nhập Môn và tất cả những sách của giáo sư Lương Kim Định.

TPC: Anh khởi công viết từ bao giờ? Có dư luận cho rằng anh viết từ năm mới mười tám tuổi, có đúng thế không?

TDS: Không. Tôi chỉ mới viết vào năm ba mươi tuổi. Tôi học rất đầy đủ, ước mơ được ông, cha nhắc nhở hàng ngày . Nhất là phụ thân, dường như ngày nào người cũng nhắc: "Con có số tử vi vừa làm thầy thuốc, vừa làm nhà văn, cố mà vun trồng kiến thức". Nhưng tôi phải lo học, để có chỗ đứng, khỏi bận lao sinh rồi mới có thể viết. Sau 7 năm đại học, năm 1964 tôi ra trường. Nhưng mãi cuối năm 1967 cuộc sống mới ổn định. Trong ba năm đó, vì tuổi còn trẻ, bồng bột, nên đôi khi tôi cũng viết báo . Phụ thân giáo huấn: "Viết báo thì thỏa điều mộng ước nhỏ. Nhưng với lối văn cổ điển, liệu con viết báo có bằng người ta không? Trong khi nếu viết tiểu thuyết lịch sử, thì con có cả kho tàng. Bỏ viết truyện mà đi viết báo tức là bỏ cái sở trường tìm cái sở đoản..." Thê rồi sang năm 1968, tuổi 30, tôi bắt đầu thựïc hiện di chí của ông cha. Ngày 10 tháng 3 năm Mậu Thân (1968) phụ thân dẫn tôi lên đền thờ vua Trưng ở Gia Định, đền thờ đức thánh Trần, làm lễ cáo yết, rồi trở về bắt đầu viết.

TPC: Anh viết bộ nào trước, bộ nào sau ?

TDS: Tôi viết cả 5 bộ cùng một lúc. Châu đã học y khoa, Châu nhớ định luật Kelvin chứ? Khi chúng ta làm việc bằng trí óc khoảng một hai giờ là mệt, cần phải đứng lên hoạt động, chạy chơi, hoặc đọc sách báo giải trí, tự nhiên mệt mỏi sẽ biến đi ...

TPC: Châu hiểu rồi, như vậy anh viết bộ này, mệt óc, thay vì đọc sách báo giải trí, anh đọc lại bản thảo bộ khác, rồi viết tiếp, thì cũng thế, phải không?

TDS: Đúng vậy . Như khi tôi viết bô. Anh Hùng Lĩnh Nam đến chỗ Đào Kỳ mùi với Chu Tường Quy ở trong hoang sơn. Mệt óc, tôi nghỉ, đem bản thảo bô. Anh Hùng Tiêu Sơn ra đọc lại, thì bộ này tôi đã viết đến đoạn ngài Bố Đại giảng về thiền cho công chúa Bình Dương. Mệt, tôi lại đọc bản thảo bô. Dựng Cờ Đông A, mà tôi đang viết dở đến chỗ ngài Trần Quốc Toản đại chiến Toa Đô ở Hàm Tử Quan... Cứ thế, tôi viết không biết mệt. Cho đến đầu năm 1975 thì xong cả năm bộ . Mỗi bộ khoảng 1200 trang hơn kém.

TPC: Thế sao mãi đến 1987 anh mới xuất bản bộ Anh Hùng Lĩnh Nam? Tại sao số trang đang từ 1200 lại lên tới 3500 tới hơn 5000?

TDS: Nguyên do là như thế này: Cha ông tôi thường giáo huấn: "Mỗi lời con viết lời đối thoại là vua Trưng nói, là đức thánh Trần nói . Vì vậy viết thì cứ viết, nhưng để đấy, thỉnh thoảng đọc lại sửa chữa, đợi tới tuổi 45, tính bồng bột giảm, bấy giờ hãy xuất bản. Còn lý do tại sao những bộ tiểu thuyết từ hơn nghìn trang, tăng lên ba nghìn, năm nghìn... cũng giản dị thôi . Hồi thơ ấu, ông cha để lại cho tôi một kho tàng thư thịch, nhưng những thư tịch đó, hầu hết chỉ giới hạn biên giới Hoa Việt như ngày nay . Hồi người Pháp cai trị Đông Dương, họ đã sưu tầm đầy đủ thư tịch của ta đem về. Khi trở lại Pháp năm 1975, tôi mò vào các thư viện của họ, tìm kiếm tài liệu mà họ sưu tầm được. Lại nữa từ năm 1977, tôi bắt đầu làm việc cho cơ sở nghiên cứu tổng hợp y học Đông Tây, mỗi năm phải đi Trung Quốc một đến hai lần. Trong mỗi chuyến đi, tôi sắp xếp sao cho thời gian công tác thu ngắn, để có thời giờ lần mò vào các thư viện, bảo tàng viện, đền, đình, miếu, kể cả bia đá của 5 tỉnh phía Nam Trung Quốc, xưa thuộc lãnh thổ Lĩnh Nam để tìm lại di tích cố thổ tộc Việt. Cứ mỗi lần đi như vậy, kho tài liệu của tôi càng nhiều, tôi sửa chữa bản thảo, hóa cho nên những bộ sách mới trở thành dài như bây giờ.

TPC: Châu thấy trước sau anh đi nghiên cứu 18 lần, thì đủ 18 lần anh say mê tìm tòi di tích tộc Việt. Vậy giáo sư viện trưởng không tỏ vẻ bực bội ư ?

TDS: Trái lại . Đã có người viết thư mách ông viện trưởng rằng tôi đi nghiên cứu nhân chủng, địa lý, lịch sử, văn minh Hoa Việt nhiều hơn là nghiên cứu y học. Ông viện trưởng đã cho điều tra . Ông tìm thấy rằng ông các chuyến đi, mỗi năm kết quả của phái đoàn càng tăng nhiều . Ông lại thấy rằng những tài liệu mà tôi sưu khảo được, làm giàu cho thư viện nước Pháp. Nhất là tôi đem về được hai cái trống đồng, tôi cũng bỏ vào bảo tàng viện chứ không giữ làm của tư . Ông thông cảm phúc trình lên trên, kể từ ngày hôm đó, khi tôi đi nghiên cứu tư như vậy, ông đài thọ hết phí tổn ăn ở, di chuyển và cho tiền vãng phản luôn.

TPC: Trong gia đình anh, ngoài ngoại tổ, phụ thân ra, còn ai giúp đỡ anh trong công việc tưới cây văn hoá này nữa ? Nghe nói anh có nhiều anh em lắm phải không? Họ có sở học giống anh không?

TDS: Gia đình tôi gồm có bà chị cả, sáu đứa em. Ngoài ra song thân tôi có nhận cô em con chú tên Trần Thị Thức (vợ giáo sư Đoàn Viết Hoạt) làm con nuôi . Như vậy là tám. Kể theo trong Nam tôi là anh tư . Kể theo ngoài Bắc tôi là anh hai . Chị tôi chỉ được học đến bặc trung học. Nhưng ngược lại bà rất giàu tình cảm, nên sáu đứa em trong bảy đứa, tuy chọc trời khuấy nước, mà đều kính yêu, và nghe lời bà hết. Bà chỉ là độc giả của tôi mà thôi . Người em kế là Trần Huy Phong, đương kim chưởng môn Vô Vi Nam Việt Võ Đạo, đang ở hoàn cảnh Nguyễn Phan hãm tại Thái Hà Trang, Bố Đại Hòa Thượng trong Hồng Hương Mật Cốc (hiện kẹt bên VN) nên không giúp được gì. Người em út là Trần Nguyên Đạo, chủ tịch Việt Võ Đạo châu Âu, bận rộn bù đầu, lại sở học khác nhau xa, nên chỉ là độc giả thôi . Hai người em, cũng là học trò tôi, có sở học giống nhau; thì một là Trần Thị Thức, kiến thức rộng rãi, đọc thiên kinh vạn quyển, có ý thức cùng tư tưởng sắc bén... Nhưng lâm cảnh cá chậu chim lồng (cùng với giáo sư Hoạt bị kẹt lại VN, chồng bà bị bắt giam vô cớ nhiều lần), thành ra cũng không giúp được gì. Người em giúp tôi đắc lực nhất từ đầu đến cuối là Trần Huy Quyền (chủ nhiệm tờ Việt Nam Thời Báo ở Úc). Nào đọc bản thảo rồi góp ý, nào sưu tầm tài liệu, nào bàn luận về bố cục, nào tìm phương cách làm nổi bậc cá tính anh hùng khác nhau của các nhân vật. Trong bộ Anh hùng Lĩnh Nam, Động Đình Hồ ngoại sử, Cẩm Khê di hận, các nhân vật Thiên Ưng Lục Tướng, cùng trận Tượng Quận hoàn toàn do Quyền đề nghị . Sang bộ Anh linh thần võ tộc Việt (hay Bảo Hòa ngoại truyện) , từ hồi 101 tới hồi 120 thuật cuộc khẩu chiến ác liệt giữa sứ đoàn Đại Việt với Tống triều, mà bất cứ ai đọc cũng say mê, là hoàn toàn do Quyền góp ý.

TPC: Châu được nghe vài giới chức Việt Võ Đạo ở Hoa Kỳ, ở Gia Nã Đại nói rằng trong anh em của anh, còn một người anh lớn nhất. Người này đã gây cho song thân anh, cũng như anh em của anh nhiều tủi hổ, nào vô học bất thuật, nào bất hiếu bất mục, nào làm điếm nhục gia phong. Sự thật ra sao ?

TDS: ... Tôi với người anh này sống xa nhau từ năm tôi 15 tuổi . 40 năm rồi còn gì nữa! Hồi trước 1975, thỉnh thoảng có gặp nhau . Vì sở học hoàn toàn khác nhau, nên ít nói chuyện với nhau, vả có nói với nhau, thì cũng như chim nói chuyện với cá, hiểu nhau sao được. Từ cuộc đổi đời 1975 đến giờ, 18 năm không gặp nhau nhau, không thư từ, chúng tôi hoàn toàn không biết gì về nhau .

TPC: Anh khỏi cần tránh né. Châu với anh cũng cùng một nguyên tổ. Những đau đớn của anh cũng là đau đớn của Châu . Chúng ta là y sĩ, khi cái nhọt mưng mủ sắp vỡ, nếu cần mổ xẻ, thì đành chịu cái đau nhỏ, mà trị dứt bệnh để tránh cái đau lớn. Dù sao, sau này lịch sử võ học Việt Nam khi chép về Vô Vi Nam Việt Võ Đạo cũng phải chép tài năng cùng đạo đức của anh Phong; công lao của anh Quyền, anh Đạo . Khi chép về lòng son đối với đất nước, cũng không thể bỏ qua anh Hoạt, chị Thức. Rồi khi luận về văn học nước nhà, không thể không chép về anh. Từ đó, họ sẽ nghiên cứu về gia thế anh... Nên Châu nghĩ anh nên nói thẳng ra thì hơn.

TDS: Trong một bông lúa, ắt có hạt lép, hạt bị sâu ăn, bị rầy đục. Trong một lâu đài tráng lệ, nếu có phòng chứa châu báu, ắt cũng có nhà vệ sinh. Gia đình tôi cũng không thoát khỏi cái định luật đó.

TPC: Ý anh muốn nói, cùng xuất xứ từ nguyên tổ Trần Lý, mà Hưng Đạo Vương, Chiêu Văn Vương, Chiêu Minh Vương, Uy Võ Vương anh hùng là thế, mà còn có Chương Tín Hầu Trần Kiện, Chiếu Quốc Vương Trần Ích Tắc... phải không?

TDS: Các "ả Trần" như Kiện, Lộng, Tắc còn có chút kiến thức. Chứ cái nhà vệ sinh nhà tôi kiến thức không có, trí thức không có, nói năng cục súc rõ ra phường vô học bất thuật; bất hiếu bất mục, làm điếm nhục gia phong. Thôi, tôi không muốn nói thêm về vấn đề này nữa .

TPC: Nếu La Quán Trung khi viết Tam Quốc Chí theo lối tam hư thất thực, thì anh lại đi theo sử nhiều hơn. Nhưng trong thời đại Tiêu Sơn, anh chép một dị biệt hết sức quan trọng. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, thì sinh mẫu của vua Lý Nhật Tông (Thánh Tông) là Mai phi . Trong khi anh chép là Triệu Liên Phương. Sao lại có sự khác biệt như vậy ?

TDS: Sinh mẫu của các công chúa Bình Dương, Kim Thành, Trường Ninh và vua Lý Thánh Tông là Triệu phi . Nhưng Triệu phi phạm tội, qua đời sớm. Đúng ra bà thất tiết, thì Khai Thiên Vương cùng các con bị đuổi ra khỏi hoàng thành. Nhưng bấy giờ vua Lý Thái Tổ còn tại thế. Ngài vốn là một Phật tử, từ bi, hỉ xả, khi Triệu phi tự tử, ngài ban chỉ ân xá. Mai phi thay Triệu phi nuôi dưỡng thái tử Nhật Tông, nên sau sử chép lầm bà là sinh mẫu . Chi tiết này, tôi lấy trong một cuốn phổ chép về Ỷ Lan, ái phi của vua Thánh Tông. Chi tiết này còn phù hợp với một sử liệu khác ghi rằng cuối đời Lý, Trần Thủ Độ muốn tiêu diệt Lý tộc, nên viên đô đốc họ Lý đem tông tộc vượt biển sang Cao Ly lập nghiệp. Tôi đã được đọc gia phả của 6 chi họ Lý ở Hàn Quốc đều chép sự kiện Triệu phi phạm tội tự tận, Mai phi thay thế bà, nuôi vua Thánh tông.

(Trích Tập San Y Học Việt Nam, số tháng 6 – 1992)

Ghi chú: Tác giả Trần Đại Sỹ trong thập niên 90 đã xuất bản tổng số 10 bộ tiểu thuyết võ hiệp lịch sử Việt Nam ...

Anh hùng Lĩnh Nam

Động Đình Hồ ngoại sử

Cẩm Khê di hận

Anh hùng Tiêu Sơn

Thuận Thiên di sử

Anh hùng Bắc Cương (hay Bình Dương ngoại sử)

Anh linh thần võ tộc Việt (hay Bảo Hòa ngoại truyện)

Nam Quốc sơn hà

Anh hùng Đông A - Dựïng cờ bình Mông

Anh hùng Đông A

Ngoài ra hai tác phẩm mà Trần Đại Sỹ đang viết là Anh hùng Tây Sơn và Anh hùng Lam Sơn.

<Edited by: LeThu -- 9/8/2003 1:43:21 PM >
Bài số: 1
RE: Bài Phỏng Vấn! - 9/8/2003 8:54:27 AM   
Nguyên Xưa

 

Bài: 853
Từ: USA
Xin khoanh tay ạ anh LeThu một cái ạ !

Nhìn cái bảng liệt kê những bộ sách mà Yên Tử Cư Sĩ đã xuất bản thấy dễ nể ghê nhỉ? Thế anh LeThu có biết nơi nào để mình đặt mua những bộ sách này không?

<Edited by: Nguyên Xưa -- 9/8/2003 6:54:50 AM >

(trả lời: LeThu)
Bài số: 2
RE: Bài Phỏng Vấn! - 9/8/2003 9:02:25 AM   
Cả Ngố


Bài: 7031
Từ: Thung Lũng Hoa Vàng
Chị vào http://www.thuvienvietnam.com/main.cfm sẽ đặt mua dễ dàng.

(trả lời: Nguyên Xưa)
Bài số: 3
RE: Bài Phỏng Vấn! - 9/8/2003 12:25:36 PM   
Nguyên Xưa

 

Bài: 853
Từ: USA
Cám ơn anh CN nha.

Tặng anh một hộp cigar chuẩn bị ăn mừng hén


Hình Mẫu


Đính kèm (1)

<Edited by: Nguyên Xưa -- 9/8/2003 10:33:15 AM >

(trả lời: Cả Ngố)
Bài số: 4
Bài Phỏng Vấn! - 9/8/2003 2:02:25 PM   
LeThu


Bài: 4963
Từ: Costa del sur el EUA
.
.


Ở đây có một ít bài vở trong dạng PDF! (PDF downloadable)

(trả lời: Nguyên Xưa)
Bài số: 5
Bài Tiểu Sử! - 9/8/2003 3:18:01 PM   
LeThu


Bài: 4963
Từ: Costa del sur el EUA
Bài đang cần kiểm chứng!

Tiểu sử của Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ
Yên-tử cư-sĩ (YTCS)

Giáo-sư Trường y khoa Arma (Paris).
Giám-đốc Trung-Quốc sự vụ tại viện Pháp-Á (Institut Franco-Asiatique).


Ông sinh trong một gia đình nho học. Ông ngoại là một đại khoa bảng của triều Nguyễn. Vì không có con trai, nên cụ theo tục lệ cổ Việt-Nam, nuôi cháu làm con. Cụ nuôi Trần Đại-Sỹ từ nhỏ. Thân phụ là một Thẩm phán, học tại Pháp, nhưng rất uyên thâm nho học. YTCS là con thứ ba trong gia đình sáu trai, một gái. Trên ông còn một người chị và một người anh. Hai người em nổi tiếng trong gia đình ông là Võ-sư Trần Huy Phong, và nhà văn, kiêm Võ-sư Trần Huy-Quyền.

YTCS được khai tâm học chữ Nho vào năm 5 tuổi, năm 6 tuổi gửi vào trường Pháp trong tỉnh học. Được quy y Tam-bảo học võ với ngài Nam-Hải Diệu-Quang năm 7 tuổi.

Bản-sư, ông ngoại cũng như phụ thân YTCS đều là những người rất uyên thâm về các khoa học huyền bí Đông-phương như : Tử-vi, Bói dịch, Nhâm-độn, Phong-thủy, Tử-bình... Ba vị nhìn thấy rất rõ thiên mệnh đã dành cho đệ tử, con cháu mình những gì, nên cả ba đã chuẩn bị sẵn một con đường cho cả đời YTCS. Hãy nghe YTCS tâm sự :

« Bấy giờ là thời gian 1950-1954, Nho học gần như đi vào giai đoạn chót của thời kỳ suy tàn, những vị khoa bảng cổ lác đác như sao mai. Chữ quốc ngữ được quần chúng hóa. Các tiểu thuyết chương hồi của Trung-Quốc được dịch sang tiếng Việt. Người Việt thi nhau đọc. Mà các tiểu thuyết của Trung-Quốc, viết trong chủ đạo của họ : Vua luôn là con trời sai xuống. Các quan thì luôn là những vì sao trên trời đầu thai, các nước xung quanh Trung-Quốc thì Đông là Di, Bắc là Địch, Tây là Nhung, Nam là Man. Bị ảnh hưởng của những tiểu thuyết đó, người Việt đọc rồi tin là thực, thậm chí lập tôn giáo thờ kính những nhân vật đó, tự ty mình là Nam-man ! Vì vậy sư phụ, cũng như ông cha tôi muốn mình phải có mấy bộ tiểu thuyết thuật những huân nghiệp của tổ tiên ta trong năm nghìn năm lịch sử, để người Việt mình hiểu rõ hơn. Các người biết số Tử-vi của tôi có thể thực hiện nguyện ước của các người, vì vậy các người cố công dạy tôi ».

Vì vậy YTCS phải chịu một chương trình giáo dục gia đình rất nặng nề. Ta hãy nghe ông tâm sự:

« Năm tuổi bắt đầu học Ấu-học ngũ ngôn thi. Sáu tuổi học Bắc-sử, Nam-sử. Bẩy tuổi học Tứ-thư, Ngũ-kinh. Tám tuổi đã học làm câu đối, văn sách, văn tế, chế, chiếu, biểu. Dù phải học nhiều, song nhờ được luyện Thiền-tuệ nên vẫn thu thái dễ dàng. Chín tuổi phải học thuật tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Mười tuổi học 24 bộ chính sử Trung-Quốc, Đại-Việt sử ký toàn thư, Việt-sử lược, Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục, Đai-Nam chính biên liệt truyện, và hằng trăm thứ sách khác. Thành ra cả thời thơ ấu, tôi sống với sách vở, với Thiền, chưa từng biết chơi bi, đánh đáo. Bất cứ ai cũng đặt câu hỏi: Làm thế nào tiền nhân tôi lại có thể nhét vào đầu tôi những thứ khô khan như vậy? Sau này lớn lên vào đại học Y-khoa tôi mới biết là nhờ Thiền-tuệ ».

Năm 15 tuổi, YTCS đỗ Trung-học, rồi ông ngoại qua đời, một người trong gia đình gây ra thảm cảnh không thể tưởng tượng nổi, khiến YTCS phải rời tổ ấm. Song cơ may đưa đến, ông được nhập học một trường có truyền thống giáo dục cực kỳ chu đáo. Tuy gặp thảm họa, nhưng những gì bản sư, ông cha đã hoạch định cho cuộc đời, YTCS vẫn cương quyết theo đuổi. Sống xa gia đình, YTCS phẫn uất dồn hết tâm tư vào việc học. Mười bẩy tuổi ông đỗ Tú tài 1, mười tám tuổi đỗ Tú tài toàn phần. Vào Đại học. Năm 25 tuổi ra trường (1964.) Đã có chỗ đứng vững chắc về danh vọng, về tài chánh. Bấy giờ ông mới trở về với gia đình trong vinh quang. Mà... cái người gây ra đau khổ cho YTCS, than ôi, y trở thành một tên lêu bêu, vô học bất thuật, và cho đến bây giờ (2000), y đã đi vào tuổi 66, vẫn là một tên ma-cô, ma cạo.

Năm 1968 ông bắt đầu viết những bộ tiểu thuyết lịch sử.

Năm 1977, ông làm việc cho Ủy-ban trao đổi y học Pháp-Hoa (Commité Médical Franco-Chinois viết tắt là CMFC) với chức vụ khiêm tốn là Thông dịch viên. Nhờ vào vị thế này, ông học thêm, đỗ Tiến-sĩ y khoa Trung-Quốc, rồi lại tốt nghiệp Trung-y học viện Bắc-kinh. Dần dần ông trở thành Giảng viên, rồi Tổng thư ký, và cuối cùng là Trưởng đoàn từ 1995 cho đến nay (2000).

I. Sự nghiệp văn học

1. Dịch Cân Kinh - Thư Viện Việt Nam Ấn Quán xuất bản năm 2003

2. Giảng Huấn Tình Dục bằng Y Học Trung Quốc (Bộ 3 quyển 900 khổ lớn) Thư-viện Việt-Nam (www.thuvienvietnam.com), Cali. USA, xuất bản 2002.

Về cuộc khởi nghĩa của vua Trưng, gồm 11 quyển, 3509 trang, do Nam-Á Paris xuất bản :

3. Anh-hùng Lĩnh-Nam, 4 quyển,1318 trang, 1987 tái bản 2000.

4. Động-Đình hồ ngoại sử, 3 quyển, 886 trang, 1990, tái bản 2001.

5. Cẩm-Khê di hận, 4 quyển, 1305 trang, 1992, tái bản 2001.

Về cuộc phá Tống, bình Chiêm thời Lý, gồm 19 quyển, 6634 trang, do viện Pháp-Á Paris xuất bản. Sẽ do Thư-viện Việt-Nam (www.thuvienvietnam.com), California, Hoa-kỳ tái bản 2001:

6. Anh-hùng Tiêu-Sơn, 3 quyển, 907 trang.

7. Thuận-thiên di sử, 3 quyển, 909 trang.

8. Anh-hùng Bắc-cương, 4 quyển, 1254 trang.

9. Anh-linh thần võ tộc Việt, 4 quyển, 1334 trang. Sẽ do Thư-viện Việt-Nam (www.thuvienvietnam.com), Cali. USA, tái bản 2003.

10. Nam-Quốc sơn hà, 5 quyển, 2230 trang, 1996. (Do viện Pháp-Á Paris xuất bản, Đại-Nam Hoa-kỳ ấn hành).

Về cuộc bình Mông. Do viện Pháp-Á Paris xuất bản, Đại-Nam Hoa-kỳ ấn hành ...

11. Anh-hùng Đông-A dựng cờ bình Mông, 5 quyển, 2566 trang, 1999. Tổng cộng đã xuất bản : 12.709 trang !

Đang viết sẽ xuất bản: • Anh-hùng Đông-A gươm thiêng Hàm-Tử, 5 quyển, khoảng 2500 trang.

Về cuộc khởi nghĩa Lam-Sơn : • Anh-hùng Lam-Sơn, 5 quyển, khoảng 2500 trang.

Về cuộc khởi nghĩa Tây-Sơn : • Anh-hùng Tây-Sơn, 5 quyển, khoảng 2500 trang.

Tính chung, YTCS đã và dự định viết là : 20.209 trang.

II. Sự nghiệp y học

Nếu so sánh với sự nghiệp văn học, thì sự nghiệp y học của YTCS rất khiêm tốn.

Tốt nghiệp:

Đại-học Y-khoa Cochin Port Royal Paris (Pháp) với luận án Contribution à la bio-bibliographie de quelques Stomatologistes et dentistes français.

Đại-học Y-khoa Thượng-Hải, với luận án Trung-y dương ủy biện chứng luận trị (Điều-trị chứng bất lực sinh lý bằng y học Trung-Quốc).

Sự nghiệp y học của ông có 3 : Một là tìm lại được cây Phản-phì, hai là tìm ra phương pháp Điện-phân mỡ, ba là đào tạo được 1422 đệ tử.

1. Tìm lại được cây Phản-phì Năm 1982

YTCS cùng phái đoàn CMFC, đã tìm lại được cây Phản-phì, tưởng đã tuyệt chủng. Loại cây này thuộc họ trà, rút bỏ một vài độc chất, chế thành thuốc uống vào có khả năng giảm béo, hạ thấp Cholestérol, Triglycéride trong máu, mà không bị phó tác dụng như các loại thuốc hóa học. Sau đó cây này được gây giống, trồng, chế thành thuốc. Năm 1984 bắt đầu bán trên thị trường châu Âu. Trong chuyến đi này, phái đoàn được tăng cường một nữ Tài tử điện ảnh Hương-Cảng, và một nữ Bác sĩ thuộc Côn-minh làm Hướng dẫn viên. Để làm vui lòng hai người đẹp đi trong phái đoàn, thay vì đặt cho sản phẩm này mang tên mình, YTCS đã đặt tên là Hao Ling (Đọc theo Hán-Việt là Hảo Liên). Hảo là nữ Bác sĩ Chu Vĩnh Hảo người Vân-Nam. Liên là tên nữ Tài tử điện ảnh Hương-Cảng, đi theo phái đoàn.

2. Tìm ra phương pháp điện phân mỡ

Khởi đầu từ năm 1978, trong một dịp vô tình, YTCS cùng một số học trò, đã tìm ra phương pháp Điện-phân mỡ, mà tiếng Pháp gọi la Lypo-électrolyse. Sau đó mười năm, một trong các học trò của ông là Bác-sĩ Nguyễn Thị Dung (Hay Đặng Vũ Dung), đem ra phổ biến trên báo, nên người ta tưởng bà là tác giả. Hiện nay trên thế giới có khoảng 60.000 Bác sĩ xử dụng. Phương pháp này có thể làm mất mỡ tại bất cứ khu vực nào trên cơ thể, mà không phải dùng thuốc, hay giải phẫu.

3. Đào tạo học trò

Năm 1977, YTCS bắt đầu đào tạo học trò. Nhận thấy y học Tây-phương thường bó tay trước một số bệnh, mà y học Trung-Quốc lại có thể điều trị dễ dàng. Trong khi đó tại Pháp cũng như châu Âu, lại ít người biết đến. Bấy giờ tại Pháp có chừng vài trường, dạy cho những Bác sĩ đã tốt nghiệp Đại học y khoa, học thêm 3 năm về khoa Châm-cứu, chương trình rất giản lược. Ông âm thầm đào tạo 9 Bác sĩ người Âu, 5 Bác sĩ người Việt, và một tu sĩ Phật-giáo về khoa Châm-cứu, Bốc-dược, Khí-công rất sâu, đúng như chương trình của Đại học y khoa Thượng-Hải. Chính đám đệ tử đầu tiên này, sau khi học xong, đều mở trường dạy học, gồm hai trường ở Pháp một trường ở Tây-Ban-Nha. Chương trình dạy tổng hợp y học Âu-Á bắt đầu. YTCS vừa dạy tại các trường này, vừa làm cố vấn cho các Giám đốc trường. Cho đến nay (2000) ông đã đào tạo được 1422 Bác sĩ, đang hành nghề khắp châu Âu. Trong đó có 136 Bác sĩ Việt-Nam.

III. Kết luận

Viện Pháp-Á mời Giáo sư Trần Đại-Sỹ giữ chức Giám-đốc Trung-Quốc sự vụ vì các lý do sau :

1. Thứ nhất, ông rất giỏi về các khoa huyền bí Á-châu : Tử-vi, Nhâm-độn, Bói dịch, Phong-thủy, Phương-thuật. Ông dùng lý thuyết khoa học để chứng minh các khoa trên không phải là những thứ bói toán dị đoan. Trong các khoa trên, ông nổi tiếng nhất về khoa Phong-thủy (Địa-lý).

2. Ông cùng CFMC dùng hệ thống ADN để chứng minh rằng lãnh thổ tộc Việt bao gồm từ sông Trường-giang xuống tới vịnh Thái-Lan. Với công cuộc nghiên cứu này, ông làm đảo ngược tất cả những nghiên cứu cổ cho rằng: Người Việt gốc từ người Trung-Hoa trốn lạnh hay trốn bạo tàn di cư xuống; mà người Trung-Quốc do người từ Đông Nam Á đi lên hợp với giống người đi từ Bắc-Á đi xuống.

3. Ông đã can đảm dành cả cuộc đời, để viết những bộ lịch sử tiểu thuyết trường giang, ca tụng huân nghiệp giữ nước của tổ tiên ông ; mà từ trước đến giờ chưa ai làm, chưa ai làm được, chưa ai có can đảm làm. Những bộ này ngoài yếu tố lịch sử, còn chứa đựng tất cả hệ thống văn hóa, tư tưởng của tộc Việt. Chúng tôi liệt tác phẩm của ông vào loại tư tưởng.

4. Ông tìm lại được cây Phản-phì, phát minh ra phương pháp Điện-phân mỡ.

Bác-sĩ Trần-Thị Phương-Châu (Gynecology) Giám-đốc Nam-Á sự vụ, viện Pháp-Á.

(Trích tập san Y-học Việt-Nam hải ngoại, số kỷ niệm 2000).


<Edited by: LeThu -- 9/9/2003 1:15:33 PM >

(trả lời: LeThu)
Bài số: 6
RE: Cảm Ơn Bác LeThu - 9/8/2003 10:44:32 PM   
NhanAi

 

Bài: 1148
Được Bác LeThu mang về quá chừng là sách vở tài liệu quý....mèn, chắc NA phải nhanh nhanh tìm ..."thuê xe".....vào....phố Rùm...."chở về" làm của riêng quá ...hông thì sẽ hông còn nữa á...



Cảm ơn Bác LeThu thật nhiều.



NA

(trả lời: LeThu)
Bài số: 7
RE: Cảm Ơn Bác LeThu - 9/9/2003 2:36:07 AM   
coLaido


Bài: 945
Cháu cũng xin kính chào Bác Le Thu.
Và cảm ơn Bác thiệt nhiều .



NhanAi ui ,

Có mang xe tới rinh Sách mang về "làm của " riêng.... cũng nhớ chừa cho CLD ít cuốn ( nửa ghe thui ) ,để CLD....học đòi ....theo chuyện búc nghiêng dzí


cười làm qwen NA


_____________________________

. http://www.memaria.org
. http://www.thanhlinh.net

(trả lời: NhanAi)
Bài số: 8
RE: Bài Phỏng Vấn! - 9/9/2003 10:02:25 AM   
anmomad

 

Bài: 525
Cô vọng ngôn chi...Chú thính chi !
Thăng long tự hữu Trạng Quỳnh thi.
Đông A Đại Sĩ , Trần cư sĩ
Vô sở bất vi , Vô sở vi. , ,
.....
( hết biết , nhờ bà con bên Tây , bên ta nối điêu )
Anmomạd

quote:

« Năm tuổi bắt đầu học Ấu-học ngũ ngôn thi. Sáu tuổi học Bắc-sử, Nam-sử. Bẩy tuổi học Tứ-thư, Ngũ-kinh. Tám tuổi đã học làm câu đối, văn sách, văn tế, chế, chiếu, biểu. Dù phải học nhiều, song nhờ được luyện Thiền-tuệ nên vẫn thu thái dễ dàng. Chín tuổi phải học thuật tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Mười tuổi học 24 bộ chính sử Trung-Quốc, Đại-Việt sử ký toàn thư, Việt-sử lược, Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục, Đai-Nam chính biên liệt truyện, và hằng trăm thứ sách khác. Thành ra cả thời thơ ấu, tôi sống với sách vở, với Thiền, chưa từng biết chơi bi, đánh đáo. Bất cứ ai cũng đặt câu hỏi: Làm thế nào tiền nhân tôi lại có thể nhét vào đầu tôi những thứ khô khan như vậy? Sau này lớn lên vào đại học Y-khoa tôi mới biết là nhờ Thiền-tuệ ».

(trả lời: LeThu)
Bài số: 9
RE: Bài Tiểu Sử! - 9/9/2003 2:19:05 PM   
Mme Ngo

 

Bài: 777
Từ: Tiếng Nói Phố-Rùm Broadcasting Corporation
Tui viết một cái thư riêng và post lộn trong Phố, nên phải xoá.
Nhân dịp này tui cũng xin hỏi thăm hàng phố : làm thế nào để chát. Tui vô tới phòng chát thì ấm ớ chẳng biết đâu mà rờ nữa, xin làm ơn chỉ giúp. Thỉnh thoảng tối thứ ba rảnh rỗi mất ngủ tui sẽ chạy vô tán dóc cho hết giờ ...
Chú em Cương : Bữa nay bà xã khá chưa ? Thuốc men thế nào rồi ? À, có PM với địa chỉ số phôn đàng hoàng. Tháng 10 sẽ lên đường, ở 3 bữa, sẽ gọi phôn nha, bị cũng lu bu dữ lắm thành ra chuyện thăm viếng chắc hổng có ngày giờ. Nghe nói tháng 10 lạnh thành ra cũng ... ngại rời khỏi hotel. Già rồi nghe lạnh thì thấy nổi ... phong thấp . Có cần thuốc men chi hông, bữa đó mang theo cho ! Thân .

<Edited by: Mme Ngo -- 9/9/2003 1:10:39 PM >

(trả lời: LeThu)
Bài số: 10
Trang:   [1] 2   phần sau >   >>
Các Diễn Đàn >> [Đời Sống - Xã Hội] >> Giáo Dục >> Bài Phỏng Vấn! Trang: [1] 2   phần sau >   >>
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết


Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 6-10/2009:
Mai Dang, Bao Cuong, vann, Tương Kính

Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh

Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.

Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode