Truyện Truyện Dịch

1984

George Orwell

x

Sau khi thức giấc anh cứ ngỡ mình đã ngủ lâu lắm rồi, nhưng hoá ra đồng hồ mới chỉ tám giờ hai mươi. Anh lại thiếp đi một lúc nữa; tiếng hát quen thuộc vọng lại từ cái sân bên dưới:

“Chỉ là những giấc mơ thôi,
Vút qua như ngày xuân mới
Người xưa giờ ở nơi đâu
Lòng em thổn thức khôn nguôi
Bao giờ gặp lại người ơi”

Có vẻ như bài hát vô duyên này vẫn còn thịnh hành lắm. Ở đâu cũng nghe thấy người ta hát. Nó sống dai hơn "Bài ca hận thù". Tiếng hát cũng làm Julia thức giấc, cô khoan khoái duỗi dài chân ra rồi bước xuống giường.

“Em đói rồi”, cô bảo. “Pha cà phê nhá. Chán quá, dầu thì hết, nước thì nguội ngắt”. Cô đưa cái bếp lên và lắc. “Hết tiệt dầu rồi”

“Hay hỏi xin ông chủ một ít”

“Lạ nhỉ, em vừa thấy còn đầy mà. Em phải mặc áo vào đây”, cô nói thêm. “Có vẻ lạnh rồi”

Wnston cũng đứng dậy lấy áo mặc. Tiếng hát vẫn tiếp tục.

“Người bảo rằng rồi sẽ qua đi
Người bảo rằng rồi sẽ quên thôi.
Nước mặt, nụ cười, ngày tháng cứ trôi
Mà lòng em chẳng thể nào nguôi”

Vừa kéo thắt lưng bộ đồng phục Winston vừa bước lại gần cửa sổ. Mặt trời đã lặn, ánh sáng đã tắt. Mặt đá lát sân ướt như vừa được kì cọ vậy; anh có cảm giác như bầu trời cũng như vừa được kì cọ, xanh nhạt và thật tươi. Người đàn bà vẫn đi đi lại lại, không biết mỏi, lúc ngậm cái móc áo, lúc lấy ra, hát một tí rồi ngừng, rồi lại hát và cứ phơi, phơi mãi. Winston tự hỏi không biết bà ta giặt thuê hay là phải "hầu" vài ba chục đứa cháu nội ngoại. Julia lại đứng bên anh, cả hai cùng lặng lẽ thán phục ngắm nhìn người đàn bà mạnh mẽ ở bên dưới. Nhìn động tác quen thuộc của bà ta, tay giơ lên treo tã, mông to như mông ngựa vẩy lên, Winston chợt nhận ra là bà ta khá đẹp. Chưa bao giờ anh nghĩ rằng cơ thể một người đàn bà ngoài năm mươi, sồ sề ra vì những lần sinh nở rồi khô cứng đi, đanh lai như một củ cải già vì phải làm việc quá sức lại có thể đẹp. Nhưng thật thế, bà ta đẹp, và hơn nữa, anh nghĩ, tại sao không? Da đỏ và thô, thân hình rắn rỏi và chẳng còn eo iếc gì, so với một cô gái thì bà ta giống như quả tầm xuân đặt cạnh bông hoa chúm chím. Nhưng tại sao quả lại không bằng hoa?

“Bà ta đẹp đấy”, anh thì thầm.

“Vòng hai phải hai mét là ít”, Julia bảo.

“Đấy cũng là một kiểu đẹp”, Winston nói.

Anh lấy tay ôm ngang eo cô. Cô dựa sát vào anh. Họ sẽ không bao giờ có con. Số phận là như thế. Họ chỉ có thể truyền miệng, từ người này sang người kia cái bí mật họ giữ trong đầu. Người đàn bà dưới kia không có đầu, bà ta chỉ có một đôi tay rắn chắc, một trái tim yêu thương và cái bụng mắn đẻ mà thôi. Anh tự hỏi không biết bà ta đã sinh cả thẩy mấy lần. Trông thế kia phải mười lăm lần là ít. Bà ta cũng có một giai đoạn xuân thì ngắn, chừng khoảng một năm, làm con gái dậy thì, đẹp như một đoá hồng dại rồi giống như đoá hoa đã thụ phấn, bà ta phồng lên, rắn lại, da thành đỏ quạch và thô và sau đó cuộc đời chỉ còn là chuỗi những giặt giũ, quét dọn, vá may, nấu nướng, sửa chữa, quét dọn vá may, quét dọn, giặt giũ; đầu tiên là cho con rồi sau là cho cháu, trên ba mươi năm, không nghỉ. Thế mà vẫn còn sức hát. Lòng cảm phục không lí giải được của anh đối với bà ta như tan vào khung cảnh của bầu trời xanh nhạt, không một gợn mây, kéo dài từ sau những ống khói trước mặt đến mãi khoảng không vô cùng vô tận. Bầu trời thì ở đâu chả vậy, ở đây cũng thế, mà ở Eurasia hay Eastasia thì cũng thế mà thôi. Con người dưới gầm trời này thì cũng giống nhau, khắp nơi, trên toàn thế giới này, hàng trăm triệu người cũng giống như người phụ nữa kia, họ không biết gì về sự tồn tại của nhau, họ bị phân cách bởi những bức tường hận thù và dối trá, và tuy giống hệt nhau, họ không học được cách tư duy đúng, nhưng lại tích tụ trong tim gan, trong đầu óc, trong cơ bắp một sức mạnh có thể xoay chuyển cả thế gian trong một ngày nào đó. Nếu có hi vọng thì đấy chính là bọn cu li! Tuy chưa đọc hết cuốn sách nhưng anh biết rằng đấy phải là thông điệp của Goldstein. Tương lai thuộc về cu li. Liệu có thể tin được rằng sau này, khi thời thế đến, xã hội do những người cu li tạo dựng, đối với anh, Winston Smith, sẽ là một xã hội không xa lạ như của Đảng hiện nay không? Có thể tin như thế, vì ít nhất nó cũng sẽ là xã hội sáng suốt. Ở đâu có bình đẳng ở đó sẽ có sáng suốt. Trước sau gì điều đó cũng sẽ xảy ra, không chóng thì chày sức mạnh sẽ biến thành nhận thức. Cu li là dân mà dân thì vạn đại, chỉ cần nhìn vào cái thân hình kiên cường ở dưới sân kia là mọi ngờ vực đều sẽ tiêu tan. Nhất định cuối cùng họ sẽ tỉnh ngộ. Còn bây giờ, trong khi điều đó chưa xảy ra, có thể phải chờ đợi cả ngàn năm nữa, họ vẫn cứ phải sống, mặc kệ tất cả, giống như chim trời, tiếp tục truyền từ người này sang người khác cái sức sống mà Đảng không có nhưng cũng không thể huỷ diệt được.

“Em có nhớ”, anh hỏi, “cái con chim hát cho chúng ta nghe ở bìa rừng hôm nọ không?”

“Nó đâu có hót cho chúng ta”, cô bảo. “Nó hót cho vui. Thế cũng không đúng. Nó chỉ hót vậy thôi”

Chim hót, cu li hát, chỉ có Đảng không hề hát. Khắp nơi trên trái đất này, ở London và New York, ở châu Phi và Brazil, ở những khu vực bí ẩn, ta không được quyền đặt chân tới, ở trên các đường phố Paris và Berlin, ở trên những bình nguyên bạt ngàn của nước Nga, trong các chợ ở Trung Quốc và Nhật Bản, đâu đâu cũng là hình ảnh người đàn bà mạnh mẽ, bất khả chiến bại đó, đâu đâu cũng là những người như thế, dù có bị phồng ra vì sinh con đẻ cái, dù có phải làm việc quần quật từ lúc lọt lòng cho đến lúc chết, họ vẫn hát. Những cái hĩm đầy sức mạnh đó nhất định rồi sẽ sản sinh ra một chủng tộc có ý thức. Ta đã chết, tương lai thuộc về họ. Nhưng ta có thể tham gia tạo lập tương lai đó nếu ta vẫn giữ được tâm, như họ giữ được thân và truyền đi mãi cái học thuyết bí mật rằng hai cộng hai là bốn.

“Chúng ta đã chết”, anh nói.

“Chúng ta đã chết”, Julia đáp.

“Các người đã chết”, một giọng sắc lạnh rít lên ngay đằng sau lưng.

Họ nhảy về hai phía khác nhau. Winston cảm thấy ruột gan đông cứng lại như đá. Anh nhìn thấy đồng tử của Julia dãn ra. Mặt cô vàng bệch như màu kem. Những đốm tàn nhang trên gò má càng nổi rõ hơn, như thể chúng không còn bám trên da thịt nữa.

“Các người đã chết”, tiếng nói kia lặp lại.

“Nó ở đằng sau bức tranh ấy”, Julia thì thầm.

“Nó ở đằng sau bức tranh”, giọng nói đế theo. “Đứng yên tại chỗ. Không được cử động nếu không có lệnh”

Bắt đầu rồi, thế là bắt đầu rồi! Họ cứ đứng yên như thế, người nọ nhìn vào mắt người kia. Chạy trốn, lao ra khỏi nhà trước khi quá muộn - ý nghĩ ấy thậm chí không hề xuất hiện trong đầu cả hai người. Không thể có chuyện chống lại giọng nói phát ra từ cái loa trên tường. Nghe có tiếng như cái then cửa đóng, rồi tiếng kính vỡ. Bức tranh khắc rơi xuống, phía sau nó là màn vô tuyến.

“Bây giờ họ sẽ nhìn thấy chúng ta”, Julia bảo.

“Bây giờ chúng ta sẽ nhìn thấy các người”, giọng nói kia nhắc lại. “Đứng vào giữa phòng. Quay lưng lại với nhau. Tay vòng ra sau gáy. Hai người không được chạm nhau”

Họ không chạm vào nhau, nhưng anh có cảm giác Julia đang run bắn lên. Hay đấy là do chính anh đang run cũng nên. Anh có thể ngăn không cho răng đánh vào nhau, nhưng đầu gối thì chịu, không điều khiển được. Có tiếng giày đinh, cả bên dưới, bên trong cũng như bên ngoài căn nhà. Ngoài sân có vẻ như đã đầy người. Có tiếng kéo vật gì đó trên nền đá lát. Tiếng hát của người đàn bà đột ngột ngừng bặt. Có tiếng lạch cạch như vật gì đó đang lăn, có thể họ quăng cái bồn giặt trên mặt sân, rồi những tiếng hò hét, tức tối, cuối cùng là tiếng thét lên vì đau đớn.

“Nhà đã bị vây”, Winston nói.

“Nhà đã bị vây”, giọng nói đế theo.

Anh nghe thấy tiếng răng Julia đập vào nhau.

“Hay chúng ta nói lời chia tay ở đây”, Julia bảo.

“Các người có thể nói lời chia tay”, giọng kia nhắc lại.

Đúng lúc đó có một giọng nam cao, rõ là của một người có học, Winston cảm thấy đã từng nghe ở đâu rồi:

“Nhân thể nói đến chuyện này: Nghe thì thắp nến cho đi vào giường, không nghe lấy búa thì mày tan xương!"

Một vật gì đó rơi xuống cái giường đằng sau Winston. Người ta chọc một cái thang qua ô cửa sổ và móc đầu nó vào khung sắt. Có người đang leo lên. Có tiếng bước chân vội vã chạy lên thang gác phía trong nhà. Căn phòng đã đầy những người đàn ông vận đồng phục đen, giày đinh, tay lăm lăm dùi cui.

Winston không còn run nữa. Mắt anh cũng gần như không chớp. Chỉ có một việc phải nhớ: không được động đậy, không được động đậy để chúng không có cớ đánh mình! Trước mặt anh là một người đàn ông cằm bạnh như võ sĩ quyền Anh, cái miệng thì chỉ như một vết nứt, trầm ngâm, mân mê dùi cui. Winston nhìn thẳng vào mắt hắn. Cảm giác như đang bị lột trần truồng, tay chắp sau gáy, thân thể thì phơi ra làm anh gần như không thể chịu nổi. Người đàn ông lè cái lưỡi trắng và liếm chỗ trước đây đã từng là môi và bước đi. Có tiếng đập mạnh. Một kẻ nào đó đã nhặt cái chặn giấy bằng thuỷ tinh và ném vào lò sưởi.

Một mẩu san hô nhỏ tí màu hồng, trông giống như nụ hoa bằng đường trên chiếc bánh sinh nhật, lăn trên tấm thảm. Nhỏ quá, Winston chợt nghĩ, sao nó lại nhỏ thế nhỉ! Có tiếng thở mạnh và tiếng đấm vào một vật mềm; rồi anh bị đá thật mạnh vào mắt cá, suýt ngã. Một tên đấm vào bụng Julia làm cô gục ngay xuống sàn. Cô quằn quại dưới sàn nhà, gần như không thở nổi. Winston không dám quay đầu, dù chỉ một phân, nhưng thỉnh thoảng khuôn mặt trắng bệch, đang thở dốc của cô cũng lọt vào tầm mắt anh. Dù rất hoảng sợ anh vẫn cảm thấy như chính cơ thể mình đang đau, đau đến chết đi được, nhưng đau vẫn không sợ bằng cô đang khó thở. Anh biết rõ: đau khủng khiếp, đau như chết đi sống lại, không lúc nào ngừng, nhưng đâu có cảm giác bởi vì trước hết phải là thở đã! Sau đó hai tên nắm lấy đầu gối và vai cô rồi khiêng ra khỏi phòng như khiêng một cái bao tải. Winston thoáng thấy mặt cô, úp sấp, méo xệch, màu vàng, mắt nhắm nghiền, những nốt tàn nhang hiện rõ trên hai gò má; đây là lần cuối cùng anh nhìn thấy cô.

Anh vẫn đứng lặng như chết. Chưa bị đánh. Trong đầu cứ hiện lên đủ thứ ý nghĩ. Anh tự hỏi không biết chúng đã bắt ông Charrington chưa. Anh tự hỏi không biết chúng đã làm gì với người đàn bà phơi tã dưới sân. Anh rất muốn đi tiểu và lấy làm ngạc nhiên vì mới tiểu tiện cách đây có vài tiếng. Anh thấy chiếc đồng hồ bên trên lò sưởi chỉ số chín, nghĩa là mới có hai mươi mốt giờ. Nhưng trời sáng lắm. Tháng tám thì hai mươi mốt giờ trời phải tối rồi chứ? Hay là anh và Julia nhầm, cho rằng mới ngủ một tiếng nghĩa là dậy lúc hai mươi giờ rưỡi, trong khi thực ra là tám rưỡi sáng ngày hôm sau. Nhưng anh không theo tiếp ý nghĩ đó. Anh không còn quan tâm nữa.

Có tiếng bước chân đi theo thang gác, lần này nhẹ hơn. Ông Charrington bước vào phòng. Những người mặc đồng phục đen lập tức im bặt. Trông ông Charrington cũng khác mọi hôm. Ông ta nhìn những mảnh thuỷ tinh vỡ trên sàn.

“Nhặt lên”, ông ta gằn giọng.

Một người cúi xuống nhặt. Không còn cái giọng của dân khu Đông London nữa; Winston chợt nhận ra rằng đây chính là giọng trong màn vô tuyến. Ông Charrington vẫn mặc bộ complet cũ may bằng vải nhung; nhưng tóc ông ta không còn trắng nữa mà là đen. Ông ta cũng không đeo kính. Ông ta liếc xéo Winston một cái, dường như để nhận diện, sau đó thì không quan tâm đến anh nữa. Vẫn có thể nhận ra ông ta, nhưng ông ta đã là một người khác hẳn. Lưng thẳng băng, có vẻ như to thêm. Chỉ có một chút thay đổi trên mặt thôi mà đã khác hoàn toàn. Lông mày không còn rậm như cũ, các nếp nhăn cũng biến mất, nét mặt cũng hơi khác, mũi có vẻ như ngắn hơn. Đấy là nét mặt của một người khoảng ba mươi lăm, thận trọng và lạnh lùng. Winston chợt nghĩ rằng đây là lần đầu tiên trong đời anh nhìn thấy một cách rõ ràng nhân viên của Cảnh Sát Tư Tưởng.


Số Lần Chấm:  
0

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 1,626
Nguồn: Phạm Minh Ngọc dịch
Đăng bởi: Tí Lười (12/9/2004)
Người gửi: TL
 
1 / 2 / 3 / Lời người dịch / Phần I - 1 / II / III / IV / V / VI / VII / VIII / PHẦN II - i / ii / iii / iv / v / vi / vii / viii / ix / ix. / x / Phần III - l / ll / lll / lV / V.  / Vl / Phụ lục  /