Truyện (Chưa Xếp Loại)

Haiku Và Những Cơn Nắng Hạ

Vũ Hoàng Thư

The tarnished gold
And the fresh greenery
Bring back memories of bygone days. [1]

-Miura Chora
(1729 - 1780)

vàng phai
cùng với ngàn xanh
nghe ngày tháng cũ theo quanh nẻo về.

Con đường nắng và những hàng cây trải dài trên lối vào Đại Vực. Lá xanh thắm sáng rực trong nắng vàng, hạ đang reo trên muôn ngàn nhánh cây. Tôi trở lại nơi đây một lần thứ hai với trăng và sương khói của mùa thu năm trước như còn lảng vảng trong đầu. Cái ấn tượng ban đầu thường khắc hằng trong trí nhớ. Ai có thể quên được lần thứ nhất hay thuở ban đầu... Dần dà rồi ta sẽ sống ở xứ người lâu hơn cả thời gian mình sinh trưởng ở quê nhà, vậy mà thuở đầu đời mỗi lần nhớ nghĩ đến bao giờ ta cũng thấy êm ái. Tôi tự hỏi ngoài việc gởi thư vào chân nhạn để nhắn về cho vua Hán, Tô Vũ tư lự thế nào khi nhìn những đám mây trôi về cuối trời trong hai mươi năm chăn dê ở đất Hung nô?

Nắng hạ chiếu khắp trên mọi đường đi. Nỗi choáng ngợp của Hạ Trắng và những lần gọi nắng trong buổi trưa nồng. Tiếng hát Lệ Thu như gào vào tim cho ra từng sợi máu, tôi đưa em về, chân em bước nhẹ... trời buồn gió cao... Hình như phải có một chỗ về để chân được bước rất nhẹ và êm đềm. Mất chốn về, thân đâm ra hụt hẫng, cổ bỗng dưng đắng khô như cuống họng của đỗ quyên rỉ máu cuối hè. Những mùa hè đã khuất mà tôi cứ mãi che mắt ngóng tìm. Ở tận phương xa. Xa lắm. Nơi đó, tôi thường lặng ngắm những cánh chim lượn ở cuối bể vào những buổi chiều hè. Cánh chim dàn rộng trong nắng vàng gợi nhớ những hải đảo xa xăm, những chân trời vắng lặng nào đó đã đi qua. Hòn Yến, Hòn Tre, Cù Lao Xanh... Tên của những hải đảo, những cửa biển từ đó ta nhìn ra những triều xanh nối đuôi nhau bằng ngàn sóng bạc. Không gì kỳ lạ hơn tiếng chim biển của những buổi chiều trên bến cảng. Giọng chim khàn đục nghe quen như tiếng kèn saxo trên phố mưa từ một quán rượu nào đó, chậm buồn, tức tưởi cho một nỗi đau bất chợt, vang vọng rồi nín bặt khi người khách vừa khép hờ cánh cửa. Phố đêm những ảnh thân mờ. Điệu Blues nấc nghẹn hững hờ chợt bay. Vòng lưng chưa nối đường tay. Mà nghe tình vội như ngày hạ qua...

Quả là ở mùa hè tất cả đều thoáng qua rất mau, ngắn ngủi như kiếp ve sầu. Mười mấy năm trời làm kiếp ấu trùng để chờ một ngày hạ đẹp trời ve mới rời lòng đất tối tăm, tung cánh vào khoảng trời rộng lớn bao la. Hàng phượng vĩ mời đón làm nơi gác trọ cho một tháng ngắn ngủi trên cõi đời, ve bắt đầu tấu khúc của hè với thế gian cho đến khi thân xác võ vàng khô héo. Bao nhiêu năm dài sửa soạn cho một cuộc trình diễn thật chốc lát!

Calm and serene
The sound of a cicada
Penetrates the rock. [1]

-Matsuo Basho
(1644 - 1694)

lặng yên qua mấy từng không
lời ve
gõ thấu vào lòng đá xanh.

Đã từ lâu tôi không còn nghe được tiếng ve, âm thanh rền rĩ quen thuộc của những trưa hè Việt Nam. Nắng nung đốt làm không khí bốc lên cao, tất cả trở thành một cõi im lặng lạ thường. Không một làn gió, không một cánh diều, cõi nhân gian ngủ vùi trong cơn nóng hấp, thời gian như chẳng buồn trôi. Trong cái bình lặng của buổi trưa hè, một chú ve sầu đâu đó đột nhiên cất lên tiếng hát phá tan cái thinh không tĩnh lặng. Lời ve đập vỡ không gian rất đột ngột, rất bất ngờ, nghe như muốn nổ tung vào cả đá, thấm thấu vào những gì mà thói thường ta vẫn cho là cứng nhất, khó vào nhất. Ngay ở giây phút đó, Matsuo Basho ghi lại một cái gì vừa mới thoáng qua, tài tình cũng như bài haiku nổi tiếng của ông về ao cũ và con ếch. Thể thơ haiku - hài cú - của xứ Phù tang thật ngắn và cô đọng, mỗi bài chỉ có mười bảy âm tiết nhưng tĩnh lạnh, nhanh và sắc như đường gươm của chàng hiệp sĩ Samurai, không vết máu mà địch thủ chết đứng. Chủ đề của thơ hài cú thường lồng vào khung cảnh của bốn mùa. Thi nhân ghi lại những bức xúc của mình đối với sự biến chuyển trong khoảnh khắc của thiên nhiên đang xảy ra trước mặt. Vạn vật thì thường trôi nổi lững lờ đối với kẻ vô tình mà thật ra đang nói muôn triệu điều trong từng mỗi khắc giây. Người không thấy, người không nghe vì người không chịu nhìn, chịu nghe hay người không biết đấy thôi. Theo thuyết "Big Bang", vũ trụ được tạo dựng còn nhanh hơn gấp mấy triệu lần của một nháy mắt, tất cả vật chất được cấu tạo trong vòng mấy phần tỉ (nanosecond) đầu tiên của một giây đầu tiên. Bao sinh diệt, biển dâu xảy ra trong một thời gian thật ngắn ngủi! Trật tự thiên nhiên thay hình đổi dạng không ngừng nghỉ nhưng con người thường khi bận rộn rối rít với những xô bồ của cuộc sống, quên đi cả một cái ngoái nhìn. Thơ hài cú là những dừng chân thật ngắn để ngoái nhìn, để quay lưng lại cho thấy rõ phía bờ bên kia. Nhà thơ hài cú vì vậy không dài dòng, chỉ ghi lại niềm giao hòa và xúc cảm của mình đối với vạn vật để bắt cho kịp phút giây của tạo dựng đổi hình. Thơ như một bài kệ, lối dụng ngữ sàn lọc, không dư mà cũng không thiếu, cốt sao nói đến chính thị cái đang là - "đương hạ tức thị". Nắm bắt thực tại ngay trong giây phút nẩy mầm, cái đang xảy ra lắm khi chuyên chở cả một vũ trụ thu gọn vào trong thời điểm đó, tiểu thế giới và đại thế giới hòa nhập vào nhau. Một diễn tiến trước mắt khiến ta liên tưởng đến một hiện tượng hay biến cố nào đó là một kinh nghiệm sống riêng rẻ nhưng bức bách chữ nghĩa đến tột cùng để vận dụng tối đa trí tưởng tượng nơi người đọc là kĩ xảo của những nhà thơ hài cú. Không có người làm thơ và kẻ đọc thơ, hốt nhiên cả hai nhập làm một, đồng âm cộng hưởng trong niềm rung cảm với sự liên hệ rất tinh tế và hài hòa của đất trời.

Một bài hài cú khác dưới đây của Yosa Buson ghi lại sự liên tưởng của ông giữa lá non và thác đổ. Hãy tưởng tượng đến vào một buổi trưa nào đó lúc mới đầu hè, xuân đã qua nhưng lá vẫn còn đang trong thời kỳ nẩy nở, trời chưa nóng lắm. Nhìn nụ xanh Buson mường tượng đến nguồn nước đã nuôi nấng cỏ cây, tắm mát con người trong tháng hạ. Ngay lúc đó, sự liên tưởng đến nước khiến ông nghe văng vẳng tiếng thác đổ gần đâu đó. Nước thác vẫn rơi đều nơi chốn ấy tự ngàn xưa nhưng hình như đối với Buson cho đến giây phút này ông mới vừa nghe hoặc nghe tiếng thác rõ hơn. Đây chỉ là một trong nhiều cách diễn dịch, bây giờ xin bạn đọc hãy thả trí tưởng của mình trong cõi riêng của bạn theo câu hài cú của Buson:

Young leaves-
The sound of a waterfall
Heard from far and near. [1]

-Yosa Buson
(1716 - 1784)

nụ non lá dú lên mầm-
thác reo
nghe thoảng xa gần đâu đây.

Thật ra tinh thần thơ hài cú ở dưới nhiều dạng hình thức khác đã bàng bạc trong nhiều câu thơ của thi ca Việt Nam. Nói cho cùng, thi sĩ có tài tự bản chất đã là một nhà thơ hài cú mặc dù họ không dùng thể điệu của Nhật Bản. Hai câu lục bát ngắn gọn, vỏn vẹn có mười bốn chữ thay vì mười bảy chữ như của hài cú, không chỉ hạn hẹp sự diễn tả trong những thay đổi của bốn mùa mà lắm khi thu tóm cả những vấn đề rộng lớn hơn về nhân sinh hay siêu hình. Hãy nghe niềm khao khát một nẻo về trong câu lục bát của Thi Vũ:

em đi để lại con đường
ta đem bóng đổ đo lường hình xưa

Em là ai? Là người em gái thuở đầu đời? Là cái chân tánh đã bỏ ta đi hoang tự độ nào? Dấu vết con đường, mùi hương để lại chỉ làm ta cảm thấy một cái gì đó đã mất mát, ngóng chờ mãi một dáng hình chưa trở về lại mái nhà xưa. Bao lâu khi mà chưa được gặp lại Em, con đường và Em không còn là hai thực thể riêng rẽ nữa mà đã nhập lại thành một. Ở đó nay chỉ còn lại bóng và hình để cho cuộc chơi phù phiếm của đuổi hình bắt bóng, hay Em chính là tấm gương phản chiếu những mảnh đời đang nhảy múa cho tới khi hình thôi múa thì bóng cũng tan đi?

Một ví dụ khác trong hai câu thơ của Bùi Giáng với những tra vấn của kẻ lên đường:

ta đi còn giữ đôi giòng
lá rơi có dội ở trong sương mù

Ta đi, lá rơi mở màn cho những chuyến đi của người và lá. Người lên đường bắt đầu một cuộc hành trình vào vô định với tâm trạng ngập tràn nghi vấn, tự hỏi lá trở về cội có vang vọng gì trong cõi ảo biến sương mù. Hai cuộc khởi hành đi về hai thái cực, người có nghe được gì trong chuyến về của lá? Cái gì đã ra đi và cái gì đã trở về? Câu trả lời có chăng là niềm hư vô tuyệt đối mà người phải trăn trở đến tột cùng. Lá rơi còn dội mấy giòng, người đi có giữ gì trong sương mù?

Hoặc như trong truyện Kiều của Nguyễn Du, rất nhiều câu lục bát đã gói ghém cả một nhân sinh quan, chẳng hạn như:

trăm năm trong cõi người ta
chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Cái "đương hạ" ở đây kéo dài đến cả một kiếp người và cuộc tranh chấp giữa tài và mệnh mấy ai có thể là người định đoạt?

Oppressive heat-
My whirling mind
Listens to the peals of thunder. [1]

-Masaoka Shiki
(1867 - 1902)

hực nồng lửa hạ bừng lên-
lòng quay quắt nóng
nghe rền sấm vang.

Shiki khiến tôi nhớ đến mùa hè ở Sàigòn và những cơn giông đột ngột. Bầu trời thấp nặng như chờ một tia lửa xẹt lên cho cơn sấm động ầm ĩ rền vang. Mồ hôi chảy quanh người đang chạy đua với không khí hấp nóng đầy chất ẩm như muốn thấm vào quá làn da. Tôi nhớ đến Phiệt, đến Kha, đến Sang và những chiều trốn mưa ở quán cà phê cuối đường Pasteur với giọng hát Thái Thanh bay lướt trong Buồn Tàn Thu. Chúng tôi quên đi hết những bài toán nhức đầu ở giảng đường trường Đại học Khoa học để làm những kẻ "lướt đi ngoài sương gió" qua khung cửa sổ của quán cà phê. Mưa tầm tã bên ngoài, khói thuốc vờn bay khiến ta đâm thèm một chút gì ấm áp, không trách Nguyên Sa cứ nhủ thầm Tháng sáu trời mưa trời mưa không ngớt. Trời không mưa em có lạy trời mưa... Hai chị em cô chủ quán dị kỳ rất hà tiện lời với khách. Tóc đánh rối, phấn trắng thật dày, hai cô đem cà phê và bình trà nóng cho khách, thoắt hiện thoắt biến như những bóng liêu trai, không một lời nói, không một nụ cười. Tôi cứ tự hỏi không biết cô có còn chút xúc động nào sót lại sau lớp phấn ấy hay đã là một mảnh đời tan vỡ tự hôm nao. Có lẽ sự tò mò đó đã đem chúng tôi và rất nhiều người khác thường xuyên trở lại quán của cô chăng. Đã mấy chục năm chưa được về chốn ấy, tôi không biết cái quán dễ thương đó vẫn còn hay đã mất. Tên quán tôi không còn nhớ hoặc giả quán không có tên nhưng cần gì nhỉ, những kỷ niệm đó đáng giá gấp nghìn lần một cái tên gọi.

Rời Đại Vực tôi hướng về Sedona, thành phố du lịch xinh xắn ở tiểu bang Arizona. Núi đồi ẩn hiện như đền đài, đá đỏ đứng sững mới trông cứ tưởng là Tháp Chàm ở Qui Nhơn, Tháp Bà ở Nha Trang hay Đế Thiên Đế Thích ở Cao Miên. Hình như tạo hóa đã vẽ nên đủ mọi hình tượng đứng thách đố với thời gian ở quanh đây. Tại sao lối kiến trúc của người Inka và người Chàm có vẻ giống nhau, có một sự liên hệ gì giữa họ tự thời xa xưa? Xin để câu hỏi đó cho những nhà nhân chủng học, trong giây phút này tôi chỉ thấy ngậm ngùi cho những nền văn minh đã tàn lụi qua bao hưng phế và đổi thay. Vua chúa hay bạo quyền rồi cũng không thoát khỏi lẽ tuần hoàn sinh diệt. Theo ước tính, thế giới có đến hơn sáu ngàn thứ ngôn ngữ khác nhau nhưng một nửa đã trở thành tử ngữ. Lời đã thôi vang, người thôi nói, có còn ai chịu lắng nghe những mấp máy của làn môi xưa. Ngay cả sinh ngữ khi được xử dụng, ý nghĩa cũng đã xa rời. Tất cả mong manh và ngắn ngủi, bất chợt tôi nhớ đến Bosha và những con đóm lập lòe của ông trong một đêm hè như một lời nhắn nhủ đến cho tất cả những gì mà con người vẫn cứ cho là hằng cửu:

Flickering lights
Of fireflies
Forebode their short lives. [1]

-Kawabata Bosha
(1900 - 1941)

chập chờn
thân đóm dường như
tiền thân đã gọi kiếp phù du mang.

Vũ Hoàng Thư
Hạ 99


[1] Yuzuru Miura, Classic Haiku A Master's Selection, Charles E. Tuttle Company, Tokyo, 1991.


Số Lần Chấm:  
8

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 2,859
Nguồn: không rỏ
Đăng bởi: Thành Viên ()
Người gửi: Bienkhoi.com
Người sửa: newbiez 5/14/2003 5:07:24 AM