Truyện Truyện Dịch

người đàn bà với hai con chó nhỏ

Phạm Thị Hoài

Phỏng tác theo Anton Chekhov

Chị xuất hiện ở Sầm Sơn, lúc nhà văn Ng. đã tới đó hai tuần, vừa hoàn thành hai chương – 70 trang theo đúng kế hoạch - mở đầu quyển tiểu thuyết do Nhà xuất bản Giao thông vận tải đặt hàng, chủ đề cho sẵn nhân vật tự chọn, kết thúc không nằm trong hợp đồng, cốt sao đừng hư vô, siêu thực, hay trừu tượng. Ng. chán ngán vì cảnh nước non trời bể không hề liên quan đến mười ba chương còn lại, truyện của anh là truyện đường bộ, trên cạn một trăm phần trăm, lẽ ra phải lên núi và cô độc trong khu nhà nghỉ cách bãi tắm biển nhiều hơn văn nghệ sĩ, mà xét cho cùng, có mùa nào là mùa tắm của văn nghệ sĩ, những kẻ sợ nước cả trong mơ, và vừa chửi rủa vừa mê mệt đám bụi khổng lồ của các thành phố?

Thoạt tiên, nhà văn chú ý đến chị vì tò mò - cảm giác nghề nghiệp anh đặc biệt trân trọng, bởi nó bền bỉ và trung thành tuyệt đối. Phải, say mê đến cuồng nhiệt, thậm chí vong thân, dần cũng lắng xuống. Chỉ còn tò mò, nhắm mắt xuôi tay vẫn tò mò, sơị dây bảo hiểm cuối cùng cột chặt anh vơí nghề nghiệp. Sau khi chẳng còn gì để tò mò nữa, vì một chuyện ngắn nước ngoài, hình như văn học cổ điển Nga, anh cố tình đọc được đâu đó.

Chị còn trẻ, chưa dến ba mươi, tách hắn khỏi đám phụ nữ trong khu nhà nghỉ bởi vẻ dẹp thành phố sắc sảo, dáng dấp bình tĩnh tự tin đượm nét quý phái hiếm khác xa đám thiếu nữ vênh vang, tưởng cứ xỏ vào hai ống quần jeans là xong phần chối bỏ gốc gác nghèo hèn. Kích thích nhà văn hơn nữa, và có lẽ không chỉ mình anh, là hai con chó Nhật xinh đẹp, giống hệt nhau, hoặc lon ton theo chị, phởn phơ trước cảnh lạ, hoặc hài lòng thò đầu thưởng ngoạn thắng cảnh du lịch nổi tiếng từ một chiếc làn mây sang trọng chủ nhân luôn mang theo, chắc là cư xá di động dành riêng cho chúng

Hôm đầu, chẳng ai biết chị. Những người đàn bà từ mười tám đến năm mươi tuổi, tất cả đều hao hao giống nhau, tới Sầm Sơn theo giấy cơ quan phân phối, sáng xắn quần ngồi trên bãi cát kể những chuyện xảy ra ở cơ quan , ở nhà, và trên đường từ nhà đến cơ quan , trưa xắn áo vào chợ khảo giá tất cả các loài động thực vật sinh sống nhờ biển, chiều lại xắn quần ngồi ghế mây ở sân nhà nghỉ, kể không gì khác hơn ngoài những chuyện xảy ra ở nhà, ở cơ quan, và trên đường từ cơ quan về nhà, cảm thấy mình và đồng loại bị thách thức sỉ nhục. Hôm sau, biển thì thầm, mặt trời thì thầm, cát thì thầm.vô số mẩu thuốc lá và vỏ lạc trên bãi biển thì thầm: ấy là nữ hoạ sĩ Thu Trang. Người Hà Nội, hai mươi tám tuổi, không con chê chồng, có nốt ruồi lớn chênh chếch phía cổ bên trái…


Nhà văn Ng. tự xếp mình vào loại tin đồ của chủ nghĩa duy mỹ và thầm kiêu hãnh về đức tin của mình nhất là khi đức tin ấy có vẻ như một đạo kín, dành riêng cho vài kẻ chọn lọc. Suy ra, anh có những lý do xác đáng để ngắm nhin hai con chó bông và nữ chủ nhân bắng ánh mắt mơn trớn, ngưỡng mộ kín đáo. Bản thân Ng. vừa đúng bốn mươi, tuổi viên mãn và sung sức nhất ở người đàn ông, hình thức dễ chịu, chớm dấu hiệu bệ vệ và thoáng chút mơ màng cổ điển từ sau thành công của cuốn tiểu thuyết đầu tay năm trăm trang về đề tài lịch sử.suốt mười lăm năm chung sống với vợ, một phụ nữ bé nhỏ, nhút nhát và mau nước mắt, đã sinh hạ cho anh hai đứa con trai không mang chút nào gen duy mỹ của người góp phần tạo ra chúng, Ng. chưa bao giờ phạm điều cấm kỵ, nếu không kể hàng trăm lần phản bội vợ trong ý nghĩ, nhất là trong các giấc mơ lúc tang tảng sáng. Ng. biết rõ, anh tránh né mọi cơ hội có thể thực sự dẫn đến hành động phản bội, chỉ vì e sợ quan hệ gần gũi với bất kể người đàn bà nào khác cũng có thể khiến anh vĩnh viễn ghê tởm mọi chung đụng với vợ, người phụ nữ mà anh đã cưới trong tâm trạng không mấy xúc động, khi đó, anh hai mươi lăm không nghề nghiệp sẵn sàng gây sự với cả thế gian và luôn thấy cả thế gian chẳng tập chung vào việc gì khác ngoài chế giễu, cô lập, và dồn anh tới chân tường. Xét ra, anh hoàn toàn không có lý do gì để phản đối cô thợ may hiền lành, ít nhiều cũng đủ sức lo toan hai bữa cơm cho gia đình tương lai, mặc dù là một gia đình với những đứa con không giống bố. Và điều quan trọng nhất là cô không chế giễu , không cô lập, không dồn anh tới chân tường.

Nhưng chiều hôm đó, chẳng hiểu vì sao Ng. không muốn tránh né. Anh ngồi trên một chiếc ghế đá, tập bản thảo dang dở trong tay, phân vân khong biết nên chọn lại chủ đề, thay đổi nhà xuất bản , hay chọn lại nhân vật, giữ nguyên chủ hợp đồng, kết thúc thì đằng nào cũng thế. Anh nhận ra người đàn bà với hai con chó từ xa, và khi cất tiếng huýt sáo làm thân - điều mà mọi khi anh vốn coi là rẻ tiền, hạ tiện - anh bối rối bắt gặp giọng mình run run, và mỉm cười ngượng ngùng ngước nhìn nữ hoạ sĩ. Nhưng chiếc áo trắng mỏng thêu qua loa - trời ơi là qua loa – mấy bông hoa bằng chỉ thêu trứơc ngực gợi ra một cơ thể hẳn phải mịn màng, tràn đầy sức sống, khiến anh vội vã cụp mắt xuống.
“Chúng tên là gì, thưa chị?”
“Con đực là Pa, con cái là Vi” - một giọng nữ trầm đầy quyến rũ vọng tới tai anh.

Anh lắp bắp không thành tiếng , cười líu ríu rồi lại giận mình đã cười líu tíu, nín bặt rồi lại giận mình đã vô cớ nín bặt, cuối cùng đánh bạo dí tay vào cái mũi ươn ướt của con Pa. Chị còn đi dạo một chút quanh bãi cỏ, nhưng lát sau cũng tới ngồi cạnh anh trên chiếc ghế đã. Đúng lúc ấy, mặt trời bắt đầu lặn. Chỉ thiếu cỏ may. Từ chỗ họ ngồi. tuy không nhìn thấy biển, nhưng sự hiện diện của biển thật rõ, và cả hai đều xúc động ghi nhận nét độc đáo ấy. Họ ngồi trên chiếc ghế sứt mẻ - đây chẳng phải khu cao cấp , nhưng họ không khó tính trong những nhu cầu vật chất - lặng lẽ ngắm mặt trời lặn, thở hơi thở của biển , hai con chó phủ phục dưới chân.

Rồi chị dùng giấy bút của anh phác hoạ một bức ký hoạ, “hoàng hôn Sầm Sơn”, nét run rẩy, xiêu vẹo, có lẽ hội hoạ hiện đại phải thế. Anh hồi hộp ngắm chị làm việc, và sợ hãi nhận ra, dây chính là người đàn bà suốt đời anh hằng mơ ước.
*
* *


Một tuần lễ trôi qua như chớp mắt, cuốn tiểu thuyết của Nhà xuất bản Gaio thông vận tải vẫn dừng lại ở trang 70.
Vào một cuổi chiều - vẫn buổi chiều - họ lại ttới ngồi trên chiếc ghế đá ấy, đúng lúc mặt trời bắt đầu lặn, và biển lại bắt đầu thầm thì sôi nổi. Đáp lại cái vuốt nhẹ của anh trên tay, chị ngập ngừng báo sáng mai mính sẽ trở về Hà Nội. Cho đến lúc ấy, cả hai đều không biết, họ không cần biết, họ kiên trì dương đầu với những linh cảm về nhau, phải, thuần tuý linh cảm, thước đo tinh lọc của trái tim, và thấy lòng thanh thản trong niềm mong đợi chân thành và cao quuý của những kẻ biết mình đang chơi và phải chơi đến đồng cu cuối cùng trong canh vbạc đầy run rủi của cuộc đời. Chị từ chối, không cuốn anh đưa tiễn sớm mai, thiên hạ nhòm ngó đã quá đủ , dù sao đây cũng là đất bảo hoàng, họ cưa đủ điều kiện làm Robínon và Thứ Sáu.

Nhưng chị không thể từ chối hơi thở nóng bỏng và cánh tay mạnh mẽ của anh. Họ yêu nhau ngay trên chiếc ghế đá ấy. Trời đã tối hẳn. Hai con chó lúc đầu còn phân vân, đồng thanh sủa lên mấy tiếng, sau chỉ ư ử, rồi cuối cùng lặng lẽ chấp thuận.
*
* *
Nhà văn Ng. ở lại Sầm Sơn một tuần nữa, hoàn thành thêm một chương sách , đẩy đột ngột câu chuyện trên cạn xuống sát chân sóng, ngầm thác đố chủ hợp đồng. Thế hơi chậm so với kế hoạch ban đầu, nhưng lại quá nhanh so với dự đoán của anh khi người đàn bà với hai con chó nhỏ ra đi. Sau cuộc ngoại tình đầu tiên - anh hy vọng là duy nhất - trong đời ấy, Ng. thấy bải hoải, không sao dứt khỏi cảm giác đê mê trên môi, bụng thỉnh thoảng lại thỏ như người trên cao rơi xuống, hay nói đúng hơn, từ dưới đất bay lên. Nhưng mấy nhôm say, anh nhanh chóng trở lại trạng thái bình thường và hoàn thành chu đáo ba mươi trang nữa, một kỷ lục chính anh cũng không ngờ đến.

Anh trở về Hà Nội , nhìn thẳng vào mặt vợ, thầm khẳng định một lần nữa, rằng ngoài hai đứa con - người ta có thể chia đôi - không có gì giữ anh lại bới người đàn bà mệt mỏi và cam chịu, suốt dời cúi minh bên những chiếc áo cánh hàng chợ lúc cổ lá sen, lúc cổ tàu rồi lại cổ tàu , cổ lá sen kia. Thì chị không chế giễu, không cô lập, không dồn anh đến chân tường , nhưng phỏng có ích gì, chị đã quên rằng anh không còn là chàng trai hai mươi lăm tuổi từlây, và kẻ nào quên, kẻ ấy trả gía. Vả lại, không thể tồn tại mà không làm ai đau đớn. Vấn đề là chọn lựa . Anh cũng trả giá theo kiểu của anh: đôi khi, anh nhắm mắt, quên đi toàn bộ thế giới quanh mình, chỉ hình dung Thu Trang, xinh đẹp, thông minh, nhạy cảm và khao khát tình yêu trên bãi biển mùa hè. Anh đặt nữ hoạ sĩ cạnh vợ và lạnh lùng lướt từ người này sang người kia,.so sánh cặp nmôi phớt lớp son ngọt ngào huyền bí ấy với cái miệng nhợt nhạt bất động, trễ dần theo năm tháng nọ ; khao khát thả mình vào tâm hồn rực trỡ những sắc màu hội hoạ hiện đại , run rẩy và xiêu vẹo đến thắt lòng, và lãnh đạm quan sát cái mảng đời đơn điệu những vụn vải và đầu kim gãy … Cũng có lúc anh thấy mình phũ phàng, nhưng cuộc đời là thế , anh ghét các bậc á thánh cao đạo và vụng về, á thánh vì bất lực trước đời sống , vả lại, một ngày nào đó, một ngày gần nhát anh sẽ ra đi, vì tình yêu chân chính và những trò ú tim không thể hoà giải cùng nhau. Khi quyết định ấy đã chin, chín giông bão chín lặng lẽ, annh dành cho vợ thái độ thông cảm, bao dung, gần như diụ dàng. Anh còn chủ động chọn một đêm đẹp trời ăn nằm với vợ, một lần nữa kiểm nghiệm quyết định không vé khứ hồi của bằng con đường trực tiếp nhất.


Sau đó, anh ngạc nhiên thấy mình không ghê tởm, chỉ thương hại vợ , nhát là khi chị thút thít khóc trên ngực anh, những giọt nước mắt biết ơn và hạnh phúc, Hai vợ chồng nằm bên nhau , chị, bàng hoàng về sự thay đổi mà chị đinh ninh l à biểu hiện bất ngờ, tuy muộn mằn, của tình yêu nơi anh , và anh, say sưa trong quyết định táo bạo của mình, trong niềm bao dung dịu dang, và trong hồ ức không dứt về một tiếng chó ngập ngừng sủa vào tia mặt trời cuối cùng trên bãi cỏ đầy hơi thở của biển.
*
* *
Những cuộc gặp gỡ của cặp tình nhân kiêu hãnh và tội lỗi diễn ra ở công viên , các quán giải khát, và đôi khi trong những căn phòng ẩm thấp của một khách sạn nhỏ gần chợ giời , hai con chó luôn tháp tùng. Dần dần, anh dược biết chi đã có chồng, một kẻ bợ đỡ nhân viên đối ngoại cấp vụ, mặc complett cả mùa hè, suốt ngày bận bịu với những lớ p tiếng Anh cấp tốc, những chuyến đi nước ngoài cũng cấp tốc chẳng kém , những cuộc đảo chính ở các châu lục xa vời , và đương nhiên chẳng hiểu gì về hội hoạ hiện đại. Đến lượt mình, anh dè dặt hơn khi miêu tả chân dung người vợ , cũng chẳng có gì để nói, vợ anh bận biụ với những bấn đề nhạt nhẽo hơn nhiều.

Họ gặp nhau vài ba lần một tuần, điển hình cho một tình cảm tế nhị, duyên dáng. Tất cả đều tốt đẹp, nếu nhà văn Ng. không phải là nạn nhân của chính chủ nghĩa duy mỹ. Anh, người tôn thờ cái đẹp, người sẵn sàng chết để bảo vệ cái đẹp, không quên nổi buổi chiều trên chiếc ghế đá sứt mẻ ở Sầm Sơn dạo ấy . Càng da diết bám vào nó, cái kỷ niệm tây thuỳ đó càng xa vời, mỏng mảnh như tia nắng cuối cùng, chấp chới và đầy báo động. Những lần gặp gỡ ở Hà Nội ttuy không phải không đẹp, nhưng chưa bao giờ - và anh ngờ chẳng bao giờ nữa - cả hai lại có được cảm giác dâng hiến và trao tặng đê mê dịu ngọt đến thế. Lúc đầu , anh tưởng chỉ riêng mình đau khổ vì nguy cơ chết yểu của cái đẹp, lý tưởng của cả hai, tín hiệu nhận ra nhau của cả hai, cái mà cả hai, ngay từ đầu, đã muốn bảo tồn và phát triển bằng quyết tâm của những người trèo núi,

Rồi anh sợ hãi nhận ra nỗi đau của chị. Chí ít cũng bằng thế, nếu không nói là lớn lao hơn.
Nỗi đau câm lặng, vì họ cao siêu và tế nhị . Họ biết, thú nhận là tự sát.

Một hôm, trong căn phòng không cửa sổ của khách sạn nhỏ gần chợ giời, cả hai, gần như đồng thời , tiết lộ quyết tâm rời bỏ gia đình mình. Họ tranh nhau trình bày cái dự định lớn lao, mới mẻ, táo bạo, biểu hiện vô giá của tình yêu đang nồng cháy nhất. Và, trong khi nghe sâu cào giọng nói trầm trầm đầy gợi cảm của nhau, nghe sâu vào tương lai rực rỡ đang hiện ra dưới những từ nữ cao quý nhât, cả hai đều linh cảm, thuần tuý linh cảm , thước đo tinh lọc nhất của trái tim, dó là buổi gặp gỡ cuối cùnggiữa họ.. Trong lúc yêu nhau - làn chót - ở căn –hòng ngột ngạt mùi hôi và chiếu mốc ấy , cả hai đều hiểu rõ họ có thể đánh đổi tất cả để một lần nữa được chứng kiến vầng mặt trời đỏ ối đang từ từ lặn xuống ấy, tiếng chó ấy , bãi cỏ ấy.
“Không có cỏ may..”,anh nghĩ và sờ xuống chiếu.
Chị có hai con chó, con đực tên Pa, con cái tên Vi, và những nét vẽ run rẩy, xiêu vẹo.
Anh có ba chương sách trên giấy và rất nhiều chương, mỗi chương ba mươi lăm trang chẵn, trong đầu.
Ngoài ra, họ không còn gì để đánh đổi.
1986






Số Lần Chấm:  
16

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 6,482
Nguồn: TTVN
Đăng bởi: Thành Viên ()
Người gửi: ttnm
Người sửa: Tí Lười 11/21/2003; Tí Lười 11/13/2003; CaNgo 4/4/