Truyện (Chưa Xếp Loại)

Lang thang

Trần Tiêu

(Lời "Lang Sáu")

- Ông đã đến thăm chú Quản Tiêm chưa?

- Chú ấy có việc gì thế, hở bác Lý?

- Ô hay! Ông không biết à? Chú ấy mắc bệnh, hình như thương hàn thì phải. Đã bốn năm hôm nay, bí cả đại tiểu tiện. Nguy kịch lắm. Chỗ họ đương, ông nên đến thăm chú ấy một tí.

- Lạ nhỉ, mới hôm mồng một, tôi còn gặp chú ấy ra đình lễ thánh. Tội nghiệp! Nếu thế thì tôi phải đi ngay mới được.

Quản Tiêm với tôi có họ. Họ hàng ngành ngọn ra sao, chính tôi cũng không rõ. Chỉ biết: Quản Tiêm thuộc về ngành dưới và xa lăng lắc. Vì thế ông ta phải gọi tôi bằng bác tuy ông đã ngoài sáu mươi, gần gấp hai tuổi tôi.

Họ xa, nhưng mỗi lần gặp nhau, hỏi han: "Chú Quản đi đâu đấy? Họ ta năm nay đến lượt chú giữ thủ bạ đấy nhỉ?

- Thưa bác vâng, năm nay đến lượt em." nghe nó cũng có vẻ thân thân.

Tôi đến đã thấy năm ông ngồi bàn phiếm. Hai ông lang với ba ông, tài cán cũng tiềm tiệm gọi là lang được: Lý Thọ, Khóa Chữ và Tổng Cảnh.

Các ông đứng dậy chào. Lang Sung vuốt bộ ria mép cụp xuống và nhọn như hai dùi cong, nói giọng bông đùa, hơi có ý mỉa: "Kìa cụ Sáu! Cụ Lang Sáu tham bác Đông Tây."

Tôi bông đùa theo: lẫn Nam Bắc cho đủ tứ phương."

Lý Thọ cười, nói cợt nhả: "Ngài cứ tiêm cho ông Quản tôi một phát, tức khắc khỏi liền."

Khóa Chữ vốn tính nghiêm nghị, đạo mạo, trách: "Thôi, xin các ông đừng nói đùa. Trong lúc bệnh nhân đương nguy kịch, ta phải tĩnh tâm mà nghĩ phương cấp cứu."

Tôi trở lại nghiêm nghị, hỏi sẽ: "Bệnh nặng lắm à, các ông"?

Khóa Chữ lắc đầu, bĩu môi: "Nặng. Không khéo bị thương hàn nhập lý. Nghe tiếng nói đã ngòng ngọng."

Thấy vắng Lang Tại, một ông lang có môn gia truyền về bệnh thương hàn, tôi hỏi. "Ông Lang Tại đâu không thấy đến?

Khóa Chữ đưa cằm về phía buồng, nói sẽ: "Đương bắt mạch".

Vừa lúc Lang Tại ở trong buồng bước ra với cặp kính cận thị và bộ râu chổi xể, đôm đốm bạc. Không đợi ai hỏi, ông đã kể: "Bệnh tình nguy kịch lắm, nhưng may ra còn có cơ cứu được."

Khóa Thưởng, tức Lang Thưởng nói:

"Bệnh ấy thì đánh chết cũng phải hạ."

Lang Tại tủm tỉm cười: "ý chừng các cụ cũng đã hạ, nhưng mà vô hiệu chứ gì!"

Lý Thọ nhìn hai ông lang, nói kháy:

"Vâng, có thể, hai ông Langtôi đã hạ, nhưng bệnh nhân càng uống, cái bụng càng phềnh chướng mãi lên," Nói rồi ông cười ha hả.

Lang Tại trề môi dưới ra, lắc đầu:

"Bụng rắn, rắn lắm. Mồ hôi toát ra nhiều."

Lang Sung tức, nhưng để bụng. Lang Thưởng không giữ nổi, buột miệng hỏi: "Thưa cụ, nhà cháu xin hỏi, cụ sẽ thi thố bằng cách nào? Hay lại cũng đến hạ như chúng cháu?"

Lang Tại điềm nhiên trả lời: "Vâng, tôi cũng hạ. Nhưng mỗi người hạ một cách. Bệnh có trăm chứng thì thuốc cũng phải có trăm phương, phải không các ông?"

Yên lặng. Thấy nét mặt hai ông khó đăm đăm, tôi cất giọng nói để phá tan cái không khí bất hòa: "Bệnh thương hàn cũng là bệnh truyền nhiễm đấy, các ông ạ. Bệnh ấy truyền từ người nọ sang người kia do thức ăn, đồ dùng..."

Tổng Cảnh ngồi xếp bằng, rung đùi tự đắc, bẻ lại: "Tôi bảo, trừ bệnh ghẻ ra, chẳng có bệnh gì lây. Phải, chẳng bệnh gì lây cả. Cho đến bệnh đau mắt, bệnh lở cũng do hỏa bốc hay khí huyết mà ra."

- Thế còn dịch tả, phong, lao?

Tôi hỏi, và chắc chắn Tổng Cảnh vẫn ngồi thưỡn ra, cứng lưỡi.

Nhưng mà không. Ông ta vểnh râu lên, cãi liền: "Tôi đã bảo chẳng gì lây cả mà lại. Bệnh dịch là do Quan Ôn bắt bớ. Bệnh phong, bệnh lao là do đất cát, mồ mả và trùng...

Tôi đắc chí ngắt lời: "Vâng! Trùng, vi trùng..."

Tổng Cảnh không để tôi nói nốt, ngắt lại: "Tôi nói trùng là thần trùng, thứ trùng Hàn Tín từ bên Tầu sang ta". Rồi như khinh miệt hẳn tôi, coi tôi như một anh vô học hay học Tây, không thể hiểu được những tài uyên bác, những phép huyền bí của các bậc thánh thời cổ, ông quay sang noi chuyện với các ông kia: "Này, các ông ạ, trùng lao bao giờ cũng có con, con đực và con cái, kết thành vợ chồng lâu ngày thành tinh, tài thánh cũng không trị nổi. Ngày xưa, các cụ truyền lại, có một nhà sáu bảy đời lao. Đến đời thứ tám thì xẩy ra chuyện rất lạ. Người mắc bệnh lao ngắc ngoải sắp chết. Người nhà tiếc rẻ cái chăn chiên đắp trên mình bệnh nhân, còn lành, lột đem ra sân, vắt lên sào phơi. Họ hàng sợ, bỏ trốn biệt để mặc bệnh nhân nằm trơ với thần lao. Bệnh nhân đã gần kiệt sức, cố nghiêng mình quay ra sân và nhìn thấy hai vợ chồng con trùng nhỏ... như đôi chuột nhắt đương đú đởn trên chăn... Bỗng một người hành khất ở cổng bước vào nhìn ngang nhìn ngửa, không thấy ai bèn đi lại lột lấy cái chăn, khoác vào mình lủi ra. Bệnh nhân thương hại định nói cho người kia biết, nhưng không sao nói được lên tiếng. Từ đấy bệnh nhân tỉnh dần, rồi hôm sau tỉnh hẳn và ăn uống như thường."

Tôi không thể nín cười, định nói cho họ biết rằng câu chuyện ấy chỉ là chuyện hoang đường, thì Khóa Chữ tiếp luôn: "Thế là nhà người ta đại phúc nên giời mới xui khiến người ăn mày đến để hứng lấy cái họa đem đi, chứ không thì nhất là tránh sang Tầu, sang Tây cũng không sao thoát được với chúng nó. Thì ngay nhà Xã Kếu chứ đâu xa, Xã Kếu ở đầu xóm Luỹ , cạnh nhà Khán Thỗn ấy mà. Ông bố lao sắp chết. Anh con trốn, định đi biệt tăm. Lúc sang phà, bỗng một hành khách kêu lên: "Cổ ông kia có hai con mối!" Anh ta giật mình quay cổ lại thì hai vợ chồng con trùng đã biến mất. Từ đấy bắt đầu thủng thẳng ho. Đến bây giờ thì ho nặng lắm rồi. Bệnh chẳng khỏi truyền sang con, sang cháu, nếu đại phúc chưa tới."

Tiếp đến Lang Tại lên tiếng: "Câu chuyện các ông kể chả biết có thực không nhưng mà... - Ông với cái điếu kéo vào gần, thông, hút một hơi dài.

Trong khi ấy, Khóa Chữ cãi: "Thì Xã Kếu đương sống sờ sờ kia, cụ còn bảo câu chuyện còn chả thực."

Và tôi nghĩ thầm: "ừ có thế chứ! Không nhẽ nhà Lang cũng tin nhảm như họ. Mình chả rỗi hơi bắt bẻ đã có các nhà Lang."

Lang Tại thở xong khói thuốc, gù lưng xuống, ho sù sụ. Một lúc mới nói tiếp: "Nhưng mà tôi đã xem cụ Biển Thước chữa bệnh lao. Cụ chữa tài tình lắm các ông ạ. Chỉ bốn năm tháng là bệnh nhân khạc ngay ra một đống đờm trong có hai con trùng giống như hai con thạch sùng, day không tan, chặt không đứt."

Một ông bình phẩm: "Thánh thật! Cánh mình thì cứ việc bó tay chịu thoái."

Từ đầu, Lang Sung vẫn ngồi điềm nhiên nhìn ra sân, một tay đưa lên vân vê bộ ria mép, mồm luôn luôn mỉm cười như chế nhạo cả bọn.

Tôi ngắm nghía điệu bộ ông, nhưng vì đã thất vọng luôn mấy lần về sự hiểu biết quá rộng của các ông kia, tôi đâm ra ngờ vực.

Lang Tại kể tiếp: "Nhưng dầu tài thánh như tài cụ Biển Thước mà nhà chủ vô phúc thì cũng đến bó tay chịu thoái như cánh mình. Lão xin kể các ông nghe... Này, có ai đấy không? Cho cơi giầu nữa chứ!"

Tiếp liền sau tiếng dạ, một thằng bé bưng đĩa giầu ở trong buồng đối diện với buồng bệnh nhân, bước ra, hai tay cung kính đặt vào giữa phản.

"- Mời các ông xơi giầu." Lang Tại vừa mời vừa lấy một miếng. Tức thì ba bàn tay đều thò ra một loạt. Trong đĩa giầu còn trơ trọi một miếng về phần tôi.

Hình như miếng giầu làm cho câu chuyện thêm mặn mà, có duyên nên các ông có vẻ chăm chú nghe. Lang Tại kể tiếp:

"Một nhà kia giàu có lắm, của cải không để đâu hết. Cụ Biển ta mà chữa khỏi thì tha hồ, muốn gì được nấy. Cụ cầm mạch bệnh nhân, rồi gật gù, lẩm bẩm một mình: "Hừ! Chúng mày thoát sao khỏi tay ông!" Không đợi ngồi lại ăn giầu, uống nước, cụ về bốc thuốc, đưa cho môn sinh đem đến nhà chủ, dặn phải sắc uống liền. Sáng sớm hôm sau, cụ đến, chắc mẩm thế nào bệnh nhân cũng khỏi, và hai vợ chồng con trùng đã nằm chết dí trong khối đờm. Chưa bước qua ngưỡng cửa, cụ đã hỏi: "Thế nào, bà chủ, chúng nó bằng ngần nào?" Cụ ngạc nhiên, thấy nét mặt bà chủ buồn rầu, và giọng nói đầy nước mắt: "Bẩm lạy cụ, nhà cháu uống xong chén thuốc, càng thêm ho già, bệnh càng tăng bội." Cụ đứng thừ ra một lúc, lắc đầu thở dài: "Quái thật! Rõ ràng tôi thấy chúng nó nằm trong lá gan... Hừ! Được rồi! Để chúng nó đấy, tôi đã có cách. "Nghe giọng quả quyết của cụ, nét mặt bà chủ tươi hẳn lên. Bà xoa hai bàn tay vào nhau, van lơn: "Lạy cụ, cụ đã cứu sống hàng vạn người. Xin cụ hết lòng cứu nhà cháu. Sau này chúng cháu không dám quên ơn." Cụ không để tai đến những lời van lơn, rón rén đi lại chỗ bệnh nhân cầm mạch. Cụ tủm tỉm cười, lẳng lặng đi ra, lấy giấy bút biên đơn cho người nhà đi lấy thuốc. Cụ ngồi đợi đến khi thuốc sắc xong, đem đến tận tay bệnh nhân. Cụ cầm mạch lại và hết đỗi kinh ngạc. "Chúng nó" đã rủ nhau từ lá phổi bên phải lẻn xuống quả tim rồi. Cụ bực tức, đứng dậy, ra phòng ngoài gọi bà chủ đến bảo: "Tôi nói bà đừng giận, nhà bà có kém hồng phúc. Bà nên làm ân, tìm phúc cho nhiều và ngày đêm cầu giời khấn phật thì họa chăng con cái bà mới thoát khỏi. Chứ hai vợ chồng con trùng này tinh khôn, quỷ quyệt lắm. Tôi nghĩ gì chúng nó đều biết cả. Ông nhà bà đã đến ngày tận số. Bà lo liệu trước đi thì vừa." Nói đoạn cụ đứng dậy đi liền, để mặc bà chủ nằm lăn ra khóc bù lu bù loa và kêu van, cầu cứu. Xem thế mới biết câu: "Phúc chủ lộc thầy" là đúng, các ông ạ."

Bỗng Lang Sung kéo mạnh, một bên ria ra đằng trước, rũ xuống cười the thé. Tôi ngồi, lấy làm ngượng cho các ông kia, chắc thế nào ông ta cũng chế nhạo cho các ông một mẻ nên thân.

Cười chán rồi, ông lên giọng thong thả, rõ ràng như giảng sách: Thưa cụ, nhờ giời nhà cháu cũng được xem kỹ các sách của các cụ Lãn Ông, Phùng Thị và Biển Thước. Nhà cháu cũng đã được xem đoạn cụ Biển Thước chữa bệnh lao... Thưa cụ, có phải bệnh nhân là ông Trần Văn Công không ạ?"

Lang Tại không bằng lòng trả lời: "Phải, ông Trần Văn Công, ông nhớ sách thật. Nhưng mà Trần Văn Công hay ông nào đi nữa thì cũng là một bệnh nhân. Miễn câu chuyện tôi kể đúng là được."

Lang Sung tủm tỉm cười, tay vẫn mân mê một bên ria:

"Nhưng mà, xin lỗi các cụ, (Lang Sung đằng hắng để lấy giọng, mọi người yên lặng, đăm đăm nhìn diễn giả) có lẽ câu chuyện của ông Tổng, ông Khóa đã làm cụ quên bẵng đi mất cái hình hài của những con trùng lao. Vậy nhà cháu xin thưa: nó giống như hệt con dán đất, phải, con gián đất, và con nào to lắm mới bằng con gián. (Tôi thất vọng, thở dài) Cụ lại quên rằng: khi hai vợ chồng con trùng giống hệt con gián đất ấy nằm dí trong vũng đờm, thì chúng nó chỉ say lử vì sức mạnh của thuốc, chứ kỳ thực chúng nó vẫn sống như thường. Vì thế nên cụ Biển còn phải đổ thêm một liều thuốc rất mạnh xuống vũng đờm làm tiêu tán chúng nó đi. Nếu không, chúng nó tỉnh lại, sẽ biến vào trong người bệnh nhân như câu chuyện ông Khóa Chữ vừa kể. Và bệnh tình của bệnh nhân lại hoàn nguyên như cũ."

Lang Tại chịu nhận mình quên, không nói đến liều thuốc nhưng nhất định bảo là giống con thạch sùng. Cố nhiên Tổng Cảnh và Khóa Chữ về bè với Lang Tại. Lý Thọ nhìn tôi cười. Tôi cũng tủm tỉm cười đáp lại. Lang Sung thở dài, phàn nàn: "Tiếc rằng bộ sách ấy đã thất lạc... Thôi được, giống con gián hay con thạch sùng hay con chuột nhắt, cái đó cũng chẳng hề gì. Nhưng mà từ nãy, cụ với các ông chỉ nói về lao truyền, lao nói mà không hề đả động đến lao tâm, lao lực. Hai thứ lao ấy không phải ở mồ mả, đất cát, cũng không phải ở trùng mà chính ở khí huyết sinh ra..."

Lang Thưởng ngắt lời: "Hai thứ lao ấy, phàm ông thầy nào đi bốc thuốc, chữa bệnh mà chả phải biết, cần gì phải bàn đến."

"- Thì tôi cũng bảo là các ông quên chứ có dám bảo là các ông không biết đâu." Rồi như muốn làm lành với cả bọn, Lang Sung tiếp luôn: "Các ông có thấy không? Động ho là đốc tờ đổ tại phổi bị vi trùng đục khoét. Rồi cứ nhè phổi chữa mãi. Kỳ thực căn nguyên nó có ở đấy đâu. Thưa nó ở gan, ở thận ạ. Bổ gan bổ thận tức bổ phổi, tức đờm sẽ hạ và ho mỗi ngày một bớt dần. Có khi chỉ vì âm hư, huyết ráo, hàn nhiệt bất điều. Nhưng mà đốc tờ họ biết âm dương, hàn, nhiệt là cái quỷ gì mà chữa với chạy. Họ cứ thấy đau đâu chữa đấy. Có bao giờ họ chịu tìm đến căn nguyên. Cơ thể người ta khác nào một nước, có quần thần tá sứ hẳn hoi. Muốn trị yên phải trị từ trong trị ra, từ đầu trị xuống. Trị từ ngoài vào thì biết bao giờ cho tiệt nọc, nhất là bệnh lao. Chả thế mà có hai anh mắc bệnh lao vào nhà thương. Xem xét thế quái nào mà đốc tờ dám bảo: hai lá phổi bị trùng ăn đã rữa, không sao cứu được, chỉ còn một cách về mà đợi chết. Bất đắc dĩ hai anh phải cầu cứu đến tôi. Anh trước đến, tôi cầm mạch, thấy chân âm ráo, gần kiệt. Tôi liền cho uống bổ âm ích khí. Trong vòng có ba tháng, các ông ạ, bệnh mười phần bớt tám chín. Rồi sau cứ lục vị với cao ban long tẩm bổ, đến nay béo tốt chả làm sao cả."

Ông đắc chí, đưa hai tay lên vê đi vê lại bộ ria mép. Đợi chẳng thấy ai khen, ông kể tiếp, giọng hơi nhạt nhẽo: "Anh sau tôi chuyên bổ gan bổ tì mà rồi cũng khỏi. Xem thế đủ biết đốc tờ Tây họ chỉ giỏi về khoa mổ xẻ và các bệnh ngoài da. Chứ về nội thương thì nghe chừng các ngài còn gà mờ lắm."

Lý Thọ không ưa tính khoác lác của Lang Sung, nói trắng trợn: "Thôi, tôi xin ông. Mình không biết đến nơi đến chốn thì chớ vội khinh miệt người ta. Tôi thì tôi cho họ chữa nhiều bệnh thần tình lắm. Như bệnh chó dại chẳng hạn. Họ tiêm mười người khỏi chín rưỡi. Bệnh đậu mùa..."

Lang Sung tưởng vớ dịp tốt, vội cãi:

"Đậu mùa! Ông bảo đậu mùa mà họ chữa được ư? Họ chỉ giồng đậu vào người thì có. Chứ một khi đậu đã phát ra mà cầu cứu đến họ thì chỉ việc ngoẻo."

Lý Thọ chẳng vừa, cãi lại:

- Ông đã được xem họ chữa đậu mùa đâu mà dám bảo là ngoẻo.

- Chả phải xem tôi cũng thừa biết.

- Biết thế quái nào được.

Câu chuyện thuốc men sắp thành một cuộc đấu khẩu thì may có thím Quản ra giục Lang Tại về cắt thuốc. Tôi cũng đứng dậy, vào thăm bệnh nhân, rồi cáo từ. Các ông kia, ý chừng thấy câu chuyện xoay ra kịch liệt, cũng đứng dậy về theo.

Đáng tiếc! Giá Lý Thọ không phá ngang thì biết đâu, còn bệnh phong, bệnh dịch, thế nào rồi mỗi bệnh, các ông chả có một câu chuyện ly kỳ như chuyện trùng lao.

Chiều hôm sau tôi giở lại thăm Quản Tiêm để xem cái môn thuốc gia truyền của ông Lang Tại hiệu nghiệm tới bực nào?

Vào trong nhà đã thấy thím Quản đương sụt sịt khóc mếu, trông bộ rất thiểu não.

- Bệnh tình chú Quản ra sao? Đã bớt chưa, thím?

Thím Quản lắc đầu, thở dài:

- Xem chừng bệnh lại nặng ra, bác ạ. Bụng vẫn chướng, vẫn rắn. Mồ hôi toát ra càng nhiều. Bác có cách gì chữa cho, chứ không thì đến nguy mất. Nghe đâu bác cũng đã chữa được nhiều người khỏi. Vậy trong chỗ họ đương, bác lại không...

- Đấy là những bệnh sốt rét, cảm kiếc xoàng, chứ bệnh của chú ấy thì tôi chữa thế nào được.

- Bác cố nghĩ xem, may ra còn có phương gì khác chăng?

Trông thím ta đáng thương quá. Nhưng mình còn biết thuốc men gì mà chữa với chạy.

Chẳng qua có một vài vị thuốc Tây, thuốc Tầu như "ký ninh", "can min", "nhị căn cơ tán", "phát lãnh", thuốc đau mắt thuốc đau bụng, thuốc ho cùng một vài vị mua trữ để phòng những lúc cần đến. Thỉnh thoảng một vài anh nông phu hay một vài chị buôn thúng bán mẹt, nghèo khó, không có tiền thuốc thang thì mình chữa giúp. Đối với sức lực những hạng lao động ấy, có khi chỉ một viên, một liều thuốc cũng đủ làm cho họ khỏi bệnh. Có khi chỉ dùng mẹo, cho họ uống một bát nước vối nóng rồi dặn họ kiêng cơm, dùng nước cháo trong một vài ngày cũng khỏi.

Tôi vắt hai tay ra sau, cúi đầu, đi đi lại lại suy nghĩ. Còn thím Quản vẫn sụt sịt khóc, chốc chốc lại khẩn khoản: "Trong chỗ họ đương, xa cũng như gần, bác làm phúc cứu nhà cháu."

Tôi chợt nhớ, năm nào tôi bị táo tới bốn năm ngày. Cơn sốt đã lên tới gần bốn mươi độ. Bệnh rất nguy kịch phải mời ông đốc tờ ở N.G. về chữa. Vừa nghe tôi kể bệnh xong, ông đốc cười, nói khôi hài, vì tôi với ông quen biết nhau đã lâu:

- Thế thì chẳng khó gì. Xin phu nhân cứ thụt cho Lang quân vài bận là Lang quân khỏi liền.

Tôi dừng bước, bàn với thím Quản: "Này thím ạ. Hay là để tôi thụt cho chú ấy. Đại tiện thông được thì tôi chắc cái bụng chú ấy sẽ xẹp xuống và cơn nóng cùng các chứng khác tất giảm đi nhiều."

Nét mặt thím Quản đương ủ dột bỗng tươi sáng như người vừa rửa mặt xong. Thím khẩn khoản: "Thôi thì thụt thiếc thế nào trăm sự nhờ bác. Nhưng liệu thứ thuốc ấy có công phạt lắm không?

Tôi tủm tỉm cười: "Thụt chứ thuốc men gì đâu mà công phạt."

- Liệu có khỏi được không, bác?

Cặp mắt ướt của thím đăm đăm nhìn tôi như đương đợi một tia hy vọng. Tôi nói liều: "Khỏi chứ làm gì chả khỏi. (Mỗi tiếng khỏi là một liều thuốc mát rượi dội vào tâm thím ta). Thím sai cháu nó lại đằng nhà tôi mượn cái "bốc"."

- Cái gì chứ cốc thì nhà cháu cũng có bốn chiếc. Cữ thầy cháu vào lão...

- Không, không, (tôi tủm tỉm cười) cái "bốc", cái bốc để thụt kia.

- Cái "bốc" để thụt?

- Phải.

- Thế thì bác về lấy hộ chứ cháu nó biết đằng nào mà rờ?

- Được cứ để cháu nó vừa đi vừa chạy cho chóng. Tôi đi cũng vậy thôi mà lại có phần chậm thêm ra. (Thực thì tôi không muốn về, sợ nhà tôi giữ lại, vì nhà tôi vẫn ác cảm với cái tài chữa bệnh của tôi). Giá được thím đi thì tốt hơn; nhà tôi thế nào cũng nể. Vả lại tôi còn cần cháu đun hộ ấm nước sôi để thụt.

- Vâng, thế tôi đi nhé... Cái gì nhỉ? Tôi lại quên mất rồi.

- Cái "bốc". Thím cứ nói cái để thụt cũng được.

Thím Quản vừa chạy tất tả vừa nhẩm đi nhẩm lại lời tôi dặn...

Một lúc lâu, thím ta về. Thằng cháu gần bằng tuổi anh cả tôi cũng đun xong ấm nước, xách từ dưới bếp lên:

- Thưa bác, nước được rồi.

Tôi rót vào cái "bốc", để một lát cho nước còn âm ấm, rồi bắt đầu làm việc.

Hai mẹ con chưa trông thấy người ta thụt bao giờ, lấy làm lạ, bưng miệng cười. Nhưng không bao lâu, bà mẹ đâm ra lo sợ, hỏi:

- Này bác, bụng nhà cháu đã căng phềnh ra thế kia lại đem cho thêm nước vào, thì liệu có việc gì không bác?

- Chả việc gì, thím đừng ngại.

Tuy miệng nói cứng mà trí tôi cũng không được yên. ừ, cái bụng của hắn đã phềnh lên như quả bóng, nhỡ vỡ thật thì làm thế nào?

Thụt xong, tôi bước ra khỏi buồng ngồi đợi, trong lòng phấp phỏng.

Năm phút...

Năm phút... mười phút. Thì giờ chờ đợi xem đã thấy lâu. Tôi sốt ruột, buột miệng hỏi:

- Đã thấy gì chưa?

Tiếng thím Quản ở trong buồng nói ra:

- Thấy gì cơ, bác?

- Không. Tôi định hỏi đã thấy sôi bụng mót đi chưa? Nhưng lại sợ mẹ con nóng ruột, băn khoăn, lo lắng như tôi...

- Này, bác ạ...

- Cái gì thế, thím?

Yên lặng. Tôi hồi hộp, lo sợ, nhắc lại:

- Cái gì thế, thím?

- Bác ạ - ngập ngừng trong giây lát - hình như tôi thấy bụng nhà tôi nó sôi réo.

Tôi cả mừng nói một cách dõng dạc như giọng một thầy Lang tự tin ở tài mình:

- Thế thì khá lắm! Tốt lắm! Thím cho để sẵn đống gio ở cạnh giường. Mau lên kẻo không kịp.

Không kịp thật. Thằng cháu chưa bê được thúng gio lên thì chú Quản ta đã tương cả ra quần.

- Chết thật! Sao bác không bảo tôi trước. Thầy cháu tôi đi cả ra quần rồi.

Lúc ấy giá có ai ngắm tôi, họ sẽ nhận thấy hết vẻ kiêu hãnh tự phụ hiện trên nét mặt.

Quản Tiêm thở dài mấy lần rồi nói, giọng mệt nhoài, giọng của một người trong bệnh vừa thoát khỏi cơn nguy:

- Mẹ nó cho tôi một bát nước. Khát lắm!

Thím Quản ở trong buồng bước ra "trình" tôi:

- Nhà tôi đòi uống nước, bác ạ.

- Được, thím cứ cho chú ấy uống, uống vừa thôi.

Thím Quản bưng nước vào, tôi nói tiếp:

- Thím sẽ nắn bụng chú ấy xem.

- Bụng thầy cháu đã thấy mềm mềm, và người đã thấy bớt nóng, bác ạ.

- Thế thì mười phần chắc cả mười rồi. Thím cứ việc mừng đi thôi.

Tôi đứng dậy bước ra khỏi nhà. Hai mẹ con chạy vội ra tiễn. Mẹ muốn bíu khách nói:

- ấy, mời bác hãy ở chơi để tôi bảo cháu nó đun ấm nước chè. Chết chưa! Từ nãy cuống quít quên cả giầu nước bác xơi. Chỗ họ đương, bác tha thứ cho nhé.

Tôi tủm tỉm cười:

- Chỗ họ đương thế nào xong thôi, nước non làm gì thêm phiền. Vả lại tôi cũng không khát. Thôi, chào thím... à này, tôi định nói lại quên. Thím chớ cho chú ấy ăn cơm vào đấy nhé. Có đói thì chỉ cho húp ít nước cháo thôi. Ăn cơm nhỡ phải lại thì khốn. Thôi, chào thím. Sáng mai tôi lại đến.

Ra đường, tôi đi thong thả bước một, sung sướng vì đã cải tử hoàn sinh một người mà các danh y đều thúc thủ chịu bỏ.

Về đến nhà, không thấy bà vợ hỏi, bất đắc dĩ, tôi phải khoe vậy: "Hôm nay Quản Tiêm không có mình thì thật ngoẻo. Các thầy lang đã bỏ cả".

Nhà tôi đương ngồi thái củ cải trên thềm, điềm nhiên trả lời: "Phải. Người ta không bỏ thì đâu đến lượt mình. ý chừng lại giở cái môn thụt của ông Đốc Tư ra chứ gì. Này, tôi xin ông "lang thang", ông đừng quen mui, bạ ai cũng thụt vào nhỡ có ngày hối bất cập, tôi bảo cho mà biết."

Tôi cáu kỉnh, bước lên gác, mồm lẩm bẩm: "Vâng, tôi chỉ lang thang, còn người ta thì lang thuốc. Bụt nhà không thiêng có khác. .."

Một tuần sau, Quản Tiêm khỏi, vợ chồng đến biếu tôi đôi vịt bầu, béo nục. Lúc khách ra rồi, nhà tôi nói đùa: "ồ, lang thang như cậu mà cũng có người tạ cơ à! Đã thế từ nay cứ đi thụt khỏe vào để lấy vịt chén. Nhưng mà xin ngài chớ thụt két của tôi như độ nào nhé."

Suốt tháng nay bận quá. Chẳng ngày nào là ngày được rời khỏi quyển sổ. Chẳng ngày nào là ngày không phải đứng kiểm điểm lại số thuốc (thuốc đây là thuốc lào nhà tôi mua trữ, chứ không phải thuốc nam hay bắc. Tiếc thay!) Lại còn phải nếm thuốc, ngắm kỹ sợi xem có đúng với "thuốc chiêu" không? Lại còn phải trông người ta đóng thuốc vào vại, để mắt vào từng bánh một cho khỏi lầm lẫn. Xong rồi lại còn phải biên vào thành vại, số thuốc giống, số thuốc trữ, mua ngày nào, tháng nào. Phải viết thật nắn nót từng chữ bằng sơn trắng, vì nhà tôi muốn thế. Rầy quá! Mà sao nhà tôi buôn lắm thức thế! Đã một dạo đong thóc, bắt tôi đứng gạt. Tôi phát cáu, gắt rầm lên. Nhà tôi gắt rầm hơn. Nhà tôi cứ nhất định cho tôi gạt khéo, được hời nhiều. Tôi đuối lý, (bao giờ tôi cũng đuối lý) đành phải đấu dịu, vâng lời vậy.

Nhà tôi đứng cầm nắm đũa làm thẻ. Mỗi khi tôi gạt xong một phương, nhà tôi lại đưa một chiếc đũa cho người hàng xáo. Cũng là cái thân tội! Hơi gạt sát một tí là bị nhà tôi quở. Hơi gạt hớt một tí là bọn hàng xáo rầy rà...

Thóc phơi, chưa kịp đổ vựa, đã xoay sang buôn vải tấm, vải sợi.

Nay lại buôn thuốc trữ. Buôn thế thì lãi để đâu cho hết! Thế mà lúc nào cũng thấy nhà tôi kêu túng thiếu. Cho hay giàu sang cũng do tại số vậy.

Một hôm, tôi đương loay hoay tính toán sổ sách thì chú Hích, em tôi, ở Kiến An về, tay xách chiếc "va ly" nặng trĩu một bên vai. Lũ trẻ reo mừng, vây bọc lấy chú đòi quà.

Hích mở va ly đưa cho mỗi đứa một chiếc bánh gai Cầu Mục.

- Còn bác giai, tôi xin tặng một quyển sách trong có ngoài năm trăm bài thuốc kinh nghiệm. Thôi thì thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc Mường, thuốc Mán, đủ để chữa khỏi đủ thứ bệnh.

Vừa cười nói, Hích vừa cầm quyển sách đưa cho tôi.

Nhà tôi ngạc nhiên hỏi:

- Tiếng lang thang của anh ấy đồn lên tận Kiến An cơ à, chú?

- Vâng, tôi nghe thấy người ta đồn: bác giai chữa được nhiều bệnh lạ lắm. Cả đến bệnh chú Quản Tiêm mà tất cả các thầy lang trong vùng này cũng chịu. Có phải không, cụ lang?

Nhà tôi không để tôi trả lời, nói luôn:

- Chả biết có phải tại thụt mà khỏi hay tại thuốc của các ông lang lúc ấy mới ngấm?

Tôi không thể nhịn được, nói gắt:

- Phải, tôi làm gì, có bao giờ mợ chịu khen.

Hích thấy nhà tôi có vẻ trịnh thượng, liền cãi hộ:

- Chị cứ khinh miệt anh ấy thế. Người ta mỗi người có một tài riêng.

- Nào có phải tôi khinh miệt. Anh ấy có giỏi thì mới khen được chứ!

Cuộc cãi vã đương kéo dài, bỗng hai bà hàng xóm đưa một bà ở khu ngoài đến chơi.

Hích vốn tính hay bông đùa cợt nhả, bèn bịa ra một câu chuyện để lòe các bà nhà quê thực thà, dễ tin:

- Này, các bà ạ, ông Lang Sáu nhà tôi có sách của đạo sĩ truyền cho, chữa đâu được đấy.

Một bà thực thà nhất trong bọn, ngạc nhiên hỏi:

- Thực à, ông?

- Lại chả thực. Năm ngoái ấy mà, trong khi các bà đi trẩy hội chùa Hương thì hai chúng tôi rủ nhau đi ngao du trên núi Tiêu Sơn. Đến cái suối bạc, thấy phong cảnh nên thơ, chúng tôi dừng bước, ngoạn cảnh. Bỗng một ông Tiên đầu râu, tóc bạc, mặt mũi phương phi, tay chống gậy trúc, ở trong rừng thủng thỉnh đi ra. Theo sau, một cậu bé xinh xẻo, tay cầm bầu rượu, tay xách túi thơ. Anh tôi khôn ngoan quỳ ngay xuống, xin đạo sĩ một vài phép để về cứu thế. Tiên ông nhếch một nụ cười. Tiếc rằng không thể tả được nụ cười ấy cho các bà. Giá các bà được ngắm nụ cười ấy thì, tôi chắc, mỗi bà sẽ sống thêm được vài tuổi. Vì chúng tôi cảm thấy trẻ thêm ra. Nói đến đấy, Hích tủm tỉm cười, vỗ vào ngực: "Đây, các bà trông, tôi có trẻ ra không?"

Nhà tôi rũ xuống cười, rồi vừa cười vừa nói:

- Phải đấy các bà ạ. Chú cháu trẻ hơn năm ngoái nhiều.

Một bà hàng xóm ngắm nghía Hích, bình phẩm:

- Vâng, có thể. Tôi trông ông độ này trẻ đẹp ra nhiều.

Một bà khác hỏi:

- Thế rồi sao nữa, ông?

Hích cười, kể tiếp:

- Thế rồi Tiên ông lấy ở cái túi ra một quyển sách đưa cho anh tôi. Đoạn hai thầy trò Tiên ông trở lại vào rừng biến mất. Chúng tôi đem sách về, giở ra xem thì thấy toàn những bài thuốc viết bằng chữ quốc ngữ, chữ đánh máy. ấy, cái bệnh của ông Quản Tiêm mà anh tôi chữa được là cũng nhờ quyển sách ấy đấy.

Các bà tấm tắc khen:

- Quý hóa quá! Phúc đức quá nhỉ!

Nhà tôi vẫn rũ xuống cười. Thế mà các bà không tỏ chút ngờ vực.

Một bà hàng xóm quay sang tôi, nói có vẻ rụt rè, ngượng ngập:

- Thưa ông, tôi có người bà con đến xin ông chữa giúp cho.

Bà khách lạ ở khu ngoài tiếp lời:

- Bẩm cụ, chẳng giấu gì cụ. Chính người em dâu cháu mắc bệnh tê liệt đã ba tháng nay. Các ông lang chuyền nhau chữa mãi không khỏi. May nhờ có bà Khán này là chỗ thân thuộc (chỉ bà hàng xóm) cháu mới dám đường đột đến quấy quả cụ. Thôi thì làm phúc cũng như làm giầu, nhờ cụ chữa cho, nhà cháu đời đời nhớ ơn cụ.

Tôi còn đương lúng túng thì Hích nhanh nhảu, trả lời liền:

- Được, bà cứ về. Chiều nay chúng tôi đến.

- Giá cụ đến ngay cho thì hay lắm.

- Không thể đến ngay được. Cụ lang tôi còn phải tra cứu.

- Vâng, thế chiều nay, cháu cho người nhà đến đón các cụ.

Nói rồi, bà khách sung sướng đứng dậy chào. Hai bà kia cũng đứng dậy cáo từ, trong khi nhà tôi vẫn rũ xuống cười, đến nỗi không trả lời được câu chào của họ.

Họ ra rồi, tôi bực tức gắt Hích:

- Chú cứ nhận lời phứa. Tôi biết bệnh tê thế nào mà chữa. Bây giờ chú bảo tôi sao?

Nhà tôi vẫn chưa hết cười nói mỉa:

- Thì sẵn có môn thụt đấy. Giở ra mà thụt.

Tôi đương bực tức cũng phải bật cười:

Hích cầm quyển sách để trước mặt:

"- Đã có sách Tiên." Vừa nói vừa mở trang mục lục ra dò từng chữ. Tôi tò mò cũng cúi xuống tìm giúp Hích dò đến vần T và lẩm bẩm: "Tả... Tả lỵ... Tả hàn, tả nhiệt... Tê đây, tê thấp, tê sũng, tê liệt. Thưa cụ lang, tê liệt đây chứ đâu." Rồi đưa tay trỏ sang cột số: "Trang hai mươi bốn, bài thứ năm trăm ba mươi sáu."

Tôi mừng, nghĩ thầm: "Miễn là có một bài thuốc để chữa. Còn khỏi hay không là do tại phúc chủ."

Hích giở đến trang hai mươi bốn, đọc to: "Số năm trăm ba mươi sáu. Bài thuốc chữa tê liệt. Điều thứ nhất: lấy bốn bát đỗ đen trộn với dấm thanh, đổ vào chảo sao trong nửa giờ. Đem đỗ sao giải xuống đất. Lấy chiếc chăn mỏng phủ lên và đặt bệnh nhân nằm trên. Lấy chiếc chăn khác phủ kín khắp người bệnh nhân. Điều thứ hai: bắt con gà ác, phải gà trống... (ác là gì, hở cụ lang?)

- ác là đen tuyền như mèo ác, chú không biết à?

Hích đọc lại: "Bắt con gà ác, phải gà trống mới kiến hiệu. Làm lông rồi đem mổ lấy hết bộ phận ở trong ra. Không được dùng nước.

Lấy giấy bản, lau sạch. Xong đâu đấy, bỏ trong bụng gà một lạng tục đoạn, một lạng ý dĩ, năm đồng cân sa sâm. Khâu bụng nó lại, hầm cách thủy một ngày một đêm để lấy nước cho bệnh nhân uống. Cứ ngoài xông trong uống như thế trong vòng nửa tháng hay một tháng tùy theo nặng, nhẹ, tất bệnh sẽ khỏi".

Đọc xong, Hích bình phẩm bằng một câu khôi hài:

- Chữa thế thì thánh thật! Hoài của, giá ngày xưa có môn thánh dược này thì giàu to rồi.

Nhà tôi phản đối:

- Chắc khỏi đâu mà chú đã vội khen.

- Mười phần chắc khỏi cả mười, chị ạ. Chị không biết, trong sách này chép toàn những bài thuốc kinh nghiệm.

Tôi nhẩm đi nhẩm lại bài thuốc nhiều lần.

Chiều hôm ấy chúng tôi đến nhà bệnh nhân.

Bệnh nhân là một người đàn bà vào trạc ba mươi trở lại, da dẻ xanh xao vàng vọt.

Tôi vờ cầm mạch cho ra vẻ một ông lang, nhưng không sao bỏ được nụ cười ngượng nghịu. Nhất là lúc tôi hỏi đến đỗ đen và gà đen "đực".

- Bẩm cụ, đỗ đen thì nhà cháu có sẵn. Còn gà đen thì khí khó. Để cháu bảo trẻ nó đi các chợ lùng kiếm.

Người nói câu ấy là người chồng, nhà cũng vào bậc khá giả.

Người lấy đỗ đen, kẻ sang hàng xóm xin dấm thanh để cụ lang hòa thang, người đun nước pha chè, kẻ thu dọn chăn chiếu, quét thềm sạch sẽ để lấy chỗ bệnh nhân nằm.

Rỗi thì giờ, chúng tôi rủ nhau ra vườn ngắm cây. Vì nhà ấy có vườn cam sai quả. Tôi hỏi sẽ Hích: "Chẳng biết thuốc có công hiệu gì không mà nhà chủ tin ở tài chúng mình lắm.

Hích tủm tỉm cười:

- Thì hẵng cứ chữa. Được những thứ ấy cũng không công phạt gì.

Một tuần sau, trong lúc tôi quên hẳn việc chữa thuốc thì một người đàn ông xách một con cá vược và một thằng bé đội mâm cam đi từ cổng vào. Người ấy gãi tai nói thủ thỉ:

- Lạy cụ, nhờ ơn cụ chữa cho, nay nhà cháu đã đỡ nhiều. Chắc chỉ trong vòng nửa tháng nữa sẽ lành mạnh như cũ. Bẩm cụ, chúng cháu gọi là có chút lễ mọn đem đến tạ cụ.

Tôi nhất định chỉ nhận con cá. Còn mâm cam tôi cho lại.

Nhưng hắn cũng nhất định khẩn khoản lấy được: "Lạy cụ, chúng cháu đội ơn cụ nhiều chứ một ít lễ mọn có kể vào đâu, xin cụ nhận cả cho để chúng cháu khỏi ân hận."

Từ đấy, tiếng tăm tôi lừng lẫy khắp làng. Đâu đâu người ta cũng ca tụng ông lang với những phương thuốc thần diệu.

Tôi bắt đầu tin ở cái tài làm thuốc, ở cái tay sát dược của tôi. Ngày đêm tôi ra công nghiềm ngẫm trong quyển sách thuốc. Tôi mua cả y bảo về xem để những lúc gặp các ông lang, có câu mà khoác lác. Tôi đã hiểu qua thế nào là mạch trầm, mạch nổi, thế nào là mạch sắc, mạch xích. Thế nào là thực hàn thực nhiệt, hư hàn, hư nhiệt, vân vân... Tôi biết cả tính dược, biết chữa bệnh theo lối vương đạo hay bá đạo tùy tạng của từng bệnh nhân. Cái đó cũng dễ hiểu. Thí dụ như bệnh nhân thuộc về dòng quý phái, hay tẩm bổ nhiều, hay ăn cao lương mỹ vị, không nề hà tiền nong thì tôi dùng đến vương đạo. Còn những hạng thuộc về điền dã, nghèo khó thì tôi sẽ dùng bá đạo.

Nói thế chứ thực thì tôi cũng chỉ xoay xở loanh quanh trong quyển sách quý báu mà Hích đã tặng tôi. Vì của đáng tội, những bài thuốc trong quyển sách ấy rất sơ sài, giản dị khiến tôi không sợ lầm lẫn, không sợ công phạt, đỡ phải suy xét, lao lung.

Dần dần, tôi đâm ra mê làm thuốc. Không mấy ngày là tôi không đi khắp xóm tìm người ốm để chữa. Thường thường là những hạng nghèo khó, không có tiền mời những ông lang thực thụ.

Một buổi sáng tôi đi lấy thuốc cho một người sốt rét. Thuốc của tôi hầu toàn những vị mà các hiệu thuốc không có bán. Nó là những thứ cây mọc ở các bờ ruộng, bờ đầm ở ngoài các bụi rậm hay xó vườn hoang. Có khi ở ngay trước mắt, có khi tìm hàng ngày không được.

Thứ thuốc tôi đi lấy buổi sáng hôm ấy là cây nhọ nồi, một thứ cây rất dễ kiếm. Nhưng theo trong sách thì tôi phải ngậm miệng mà đi, không được chào ai, nói với ai nửa tiếng. Và khi đã tìm thấy cây rồi, phải dừng lại, nín hơi, đếm đúng bẩy bước từ chỗ đứng đến chỗ cây. Cố nhiên là phải đếm bằng óc. Vẫn phải nín hơi cúi xuống ngắt lấy bẩy ngọn, nếu bệnh nhân là đàn ông, chín ngọn, nếu là đàn bà. Liệu xem, nếu biết còn thừa sức nín hơi thì bẻ gập những cây ấy xuống đề phòng bệnh nhân khỏi rồi mà quên ơn thầy thì lại đến dựng chúng nó lên. Tức thì kẻ vô ơn bội nghĩa sẽ hoàn bệnh như cũ. Sách có dạy thế, song tôi vốn là một ông lang có lương tâm, nên chưa bao giờ dùng tới, mặc dầu bệnh nhân quên ơn. Nếu biết mình không còn đủ sức nhịn thở thì phải bước giở lại mau, vì còn phải giả lại bẩy bước đến chỗ cũ rồi mới được thở. Như thế kể cũng khó khăn đấy chứ!

ấy cũng chỉ vì nín hơi lặng tiếng mà tôi bị hai người bạn gặp sáng hôm ấy, cho tôi khinh người, làm bộ và bảo nhau không thèm đi lại giao du với tôi nữa.

Tôi mất hai người bạn, nhưng người sốt rét của tôi khỏi bệnh. Chẳng biết khỏi bởi lá nhọ nồi rịt ở cổ tay và gan bàn tay hay là bởi nhịn cơm mấy bữa. Tôi vẫn tham bác Đông, Tây. Động sốt hay mắc bất cứ bệnh gì là trước hết tôi bắt nhịn cơm đã.

Tôi nhất định cho cái công hiệu ấy do ở lá nhọ nồi và tôi càng nhắm mắt tin theo quyển thần dược. Tôi tin cả những câu thần chú nhảm nhí lẫn những câu ngộ nghĩnh ghi trong sách.

Tiếng tôi hay thuốc mỗi ngày một lan rộng. Không mấy ngày là không có một vài người, phần nhiều là nghèo khó, đến mời tôi. Trong một tháng, cái ngăn tủ đựng thuốc của chúng tôi đã gần cạn sạch, tôi thú thực, lắm khi chữa theo sách không khỏi, tôi cũng có lạm dụng đến thuốc Tây, thuốc Tầu mua trữ.

Nhà tôi thấy thế lại càng ác cảm với nghề làm thuốc của tôi.

Một buổi trưa, tôi khó ở, đứng trên gác nhìn qua cửa sổ xuống sân, có ý đợi các bệnh nhân đến hỏi mạch, xin thuốc. Bốn người đàn bà ăn mặc cũ kỹ từ ngoài cổng vào, chưa kịp hỏi ông lang thì bà lang đã xồn xồn ẩy họ ra và nói lôi thôi một tràng dài: "Tôi xin các người. Các người đi ra đi. Nhà tôi có biết thuốc men gì đâu. Chữa liều chữa lĩnh bằng những lá lẻo quàng xiên, uống vào nhỡ bị trúng độc, chết bỏ mạng. ở vùng này thiếu gì các ông lang. Sao các người không đến đấy mà chữa, để khỏi tiền mất tật mang. Tôi bảo thật đấy, nếu nhà tôi giỏi thuốc thật thì tôi can các người làm gì. Tôi lại chả muốn được tiếng là vợ một nhà danh y hay sao. Nhưng mà thật nhà tôi chẳng biết một tí gì đâu. Chỉ lang thang, dớ dẩn đấy thôi."

Tôi tức uất lên, đi đi lại lại trên gác như con hổ lồng lộn trong cũi. Tôi không dám xuống, sợ bẽ với các bệnh nhân. Tôi biết, nếu tôi có đấy, nhà tôi sẽ làm quá nữa.

Những lúc như thế xẩy ra nhiều lần. Song tôi không nản chí; cố nén tâm chịu nhịn. Rồi cũng có ngày nhà tôi trở lại phục tôi.

Có nhiều người khuyên tôi nên chữa thuốc lấy tiền để nhà tôi hài lòng. Có nhiều người lại khuyên tôi nên chữa làm phúc để quảng cáo cho xa gần cùng biết, đợi khi nào có những tay giầu sụ cầu cứu đến sẽ giã nặng.

Tôi không để ý đến lời khuyên của họ. Tôi chỉ ham mê nghề lang như người ham mê cờ bạc hay đồng bóng. Một vài hôm không có bệnh nhân để chữa tôi băn khoăn rạo rực không yên.

Một hôm tôi đi lang thang mãi xâm xẩm mới về, thấy nhà tôi nằm rên. Đứa đầy tớ gái đứng cạnh giường gù lưng xuống đấm đồm độp trên chăn. Mâm cơm còn nguyên đặt trên bàn. Các món ăn đã nguội lạnh và nồi cơm đặt trên ghế đẩu, để lâu, đã ôi. Các trẻ ăn từ chiều đã chạy sang chơi bên hàng xóm.

Tôi hối hận, đi lại giường hỏi: "Mợ làm sao thế? " Nhưng nghĩ đến phương thuốc tôi sắp đem ra thi thố, nghĩ đến lúc nhà tôi khỏi bệnh sẽ phải phục, trong lòng tôi vui vui.

Thấy tôi đến, đứa đầy tớ gái đứng dãn ra một bên. Tôi sẽ nhấc mép chăn hỏi lại: "Mợ làm sao thế?"

Nhà tôi nhăn mặt như cố nhịn cho khỏi rên, rồi nói sẽ: "Tôi từ trưa, bỗng nhiên nhức đầu chóng mặt, ngực tưng tức. Tim lúc thì đập mạnh, lúc thì như ngừng hẳn lại. Bụng lúc đau ở gần dạ dầy, lúc đau ran dưới rốn. ái! ái - nhà tôi vừa kêu vừa nằm sấp xuống rồi nói dằn ra từng tiếng nặng trĩu. - Hiện giờ nó đau ở dưới rốn. ái! ái đau! Nhài đấm hộ mợ tí. Đấm mạnh vào! úi chao ôi! Đau quá. Đau thế này thì chịu sao được!"

Con ở lại cúi xuống đấm đồm độp trên chăn.

Tôi đừng thừ ra nghĩ. Bệnh gì lại có bệnh oái oăm, đau lung tung như thế thì còn biết đằng nào mà chữa. Tuy vậy, tôi cũng không chịu thoái để đến nỗi mất tín nhiệm với nhà tôi. Tôi bèn lẳng lặng đi ra vườn sau, lần mò đến khóm ngải mà tôi đã giồng trữ sẵn để làm thuốc. Trước khi hái chín ngọn, tôi đọc chín lượt câu thần chú, lưỡi không chạm răng: "Bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ!" Tôi lẳng lặng vào trong bếp tìm củ gừng cắt lấy ba nhát, bỏ cả hai thứ vào siêu nước, rồi cặm cụi sắc, đem lên cho nhà tôi uống.

Uống được độ nửa giờ, nhà tôi bỗng kêu giời kêu đất, vật mình vật mẩy, tung cả chăn, bật cả gối xuống đất. Một lúc lâu, nhà tôi cố nhịn kêu để bảo tôi: "Cậu cho mời ông Lang Sung đến ngay lập tức không có thì tôi chết mất." Vừa dứt câu, nhà tôi lại vật mình vật mẩy, kêu la, hết ôm ngực lại ôm bụng.

Tôi lo sợ cuống cuồng, đành phải giục con ở chạy đi mời Lang Sung vậy.

Trong lúc chờ đợi, nhà tôi vẫn kêu, vẫn vật mình vật mẩy chốc chốc lại thốt ra câu: "Thuốc với thang! Giết người không bằng!" làm tôi thêm nóng lòng sốt ruột.

Tôi vừa tức vừa xấu hổ với Lang Sung.

Nhà tôi nói: "Ông ạ, không biết nhà tôi cho tôi uống nhảm nhí những gì mà các cơ thể tôi như đảo lộn cả lên đau không thể nào chịu được. Không có ông thì thật chết".

Cơn tức của tôi đã lên tới cực điểm. Không thể nhịn được, tôi nói rõ phương thuốc của tôi cho ông Lang Sung biết. (Trong sách cấm ngặt không được lộ môn thuốc chữa). Rồi, không đợi câu bình phẩm, tôi bước vội lên gác.

Hai hôm sau, uống hết hai thang thuốc của Lang Sung nhà tôi khỏi hẳn bệnh, đi lại làm lụng như thường. Trông thấy tôi đâu là nhà tôi mỉm cười, nói tức: "Thôi, từ nay trở đi ông có chữa cho ai thì chữa, nhưng xin ông trừ tôi ra nhé. Tôi còn nhớ những cơn đau tái người."

Tôi ngượng quá. Tám, chín hôm liền cố lánh mặt mọi người, nhất là Lang Sung vì một câu của hắn sau khi nhà tôi lành mạnh: "Từ nay ông cứ đi thăm bệnh với tôi. Khi nào cần đến thụt thì đã có ông. Còn thuốc men mạch miệc, để mặc tôi xoay xở."

Phải, chỉ có hắn biết xoay sở thuốc thụt. Hôm thứ tư, bệnh nhân đâm ra lỵ. Tôi liền cầu cứu đến quyển thần dược, lấy bẩy ngọn ngải cứu với ba nhát gừng làm thang.

Hôm thứ năm, thứ sáu, tôi ngồi nhà đợi. Bặt vô âm tín. Rồi hai hôm sau, bỗng có tin bệnh nhân chết.

Chết! Chả có lý! Cùng một căn bệnh, cùng một phương thuốc thì chết thế nào được.

Thế mà thực, mười phần thực cả mười. Cái tin Xã Tõn chết về bệnh thương hàn đồn đi khắp làng. Họ còn phao tin rằng: "Chết vì thụt và uống phải thứ lá lẻo quàng xiên của ông Lang Sáu".

Tôi hốt hoảng, bổ đi tìm những người thân thuộc với Xã Tõn thì họ bảo rằng: uống thuốc tôi không chịu, người nhà bèn đi mời Lang Sung. Hai chén thuốc cầm của Lang Sung vẫn không ăn thua. Sau cùng cầu cứu đến Lang Tại được một hôm thì chết. Họ tiếp thêm rằng: cái tin đồn vì thụt, vì lá lẻo là do ở mồm hai ông ấy nói ra. Hai ông cùng bảo: bệnh nhân vốn tạng hàn, không chịu được thụt nên mới đâm ra lỵ. Lại uống lá lẻo, nên lỵ đâm ra nặng quá, không thể cứu được nữa. Riêng Lang Tại thì bảo: giá uống thuốc ông ta ngay từ trước thì không đến nỗi. Ông ta chỉ bốc ba thang bổ khí là khỏi.

Tôi hối hận quá. Biết thế để họ chữa chạy chán không khỏi rồi mình sẽ dùng đến phương thụt có hơn không. Hay cứ để Lang Tại chữa ngay từ đầu có lẽ khỏi cũng nên. Ông ta có môn gia truyền.

Họ bảo bệnh nhân tạng hàn... ừ mà hàn thật. Trông sắc mặt xanh xao của bệnh nhân cũng đủ biết. Thế mà mình không để ý. Bực quá!... Nhưng mà hàn thì không thụt được hay sao? ... Có lẽ, nếu không sao lại đâm ra lỵ... Càng nghĩ luẩn quẩn thì càng thấy lỗi ở tôi và tôi càng hối hận.

Không có tôi thì đâu Xã Tõn đến nỗi chết. Xã Tõn chết oan, Xã Tõn chết vì tôi. ý tưởng ấy lởn vởn trong óc tôi, luôn luôn ám ảnh tôi, không để tôi yên lúc nào. Dần dần tôi thụ bệnh, nói mê, nói sảng. Hình ảnh Xã Tõn hiện lên, nét mặt dữ tợn, cặp mắt đầy vẻ căm hờn, hai tay rung rung như muốn chồm lấy tôi bóp cổ. Tôi sợ quá, kêu rú lên một tiếng rồi thiếp đi.

Một đêm, cả nhà đương ngủ, tôi ngồi nhỏm dậy kêu thất thanh: "Trời ơi! Có ai cứu tôi với! Xã Tõn đến đòi mạng tôi kia kìa!" làm cho cả nhà thức giấc và hốt hoảng.

Nhà tôi thấy bệnh tình tôi mỗi ngày một trầm trọng, bèn một mặt cho thửa vàng mã và một hình nhân thế mạng, một mặt cho đi mời ông Đốc ở N.G. về.

Sau khi bắt mạch và hỏi cặn kẽ, ông Đốc bảo tôi loạn óc.

Hơn tháng giời vừa uống thuốc vừa tiêm, tôi mới lành mạnh như cũ.

Nửa tháng sau, nhà tôi nhận được ty rượu V.Đ. và tặng tôi cái chân thư ký. Cả ngày ngồi bàn giấy biên chép tính toán sổ sách, tôi bận quá, không còn lúc nào rỗi mà sờ đến sách thuốc.

Một hôm, tôi thu dọn tủ để lấy chỗ bày những chai rượu. Dưới đáy tủ, một chồng y báo, trong đó có cả quyển thần dược, bị bỏ quên đã lâu ngày. Tôi lôi ra, thấy toàn tập đều bị gián nhấm nát tươm. Không thể dùng được nữa, tôi ôm cả ra sân đốt. Nhà tôi vui vẻ, nói diễu: "Thày Lang tôi đốt sách. Nếu có dao cầu cũng nên băm nốt ra cho xong chuyện."

Rút trong tập truyện ngắn Sau luỹ tre,
Nxb. Đời Nay, Hà Nội, 1942


Số Lần Chấm:  
3

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,416
Nguồn: không rỏ
Đăng bởi: Thành Viên ()
Người gửi: Thành Viên
Người sửa: Angie 11/12/2001 12:36:45 PM