Truyện  

Tề Phong Truyện

Tây Độc

Chương Một

Sách ‘Tề Phong Truyện’ chỉ có một bản, được viết bằng tay, là vật trấn sơn của phái Tề Phong do chánh sư tổ phái này ghi chép và truyền cho các đời chưởng môn kế tiếp. Tuy là vật trấn sơn nhưng sách chả ghi võ công thượng thặng, cái thế võ lâm gì sốt mà chỉ chép những câu chuyện tầm phào mà thôi. Bút tích của lão tổ sư xấu như ma nên chỉ có đương kim chưởng môn mới đủ công lực nhận ra mặt chữ. Còn bang chúng thì, nói nào ngay, dù có cầm cuốn sách này trên tay cũng chả đọc ra tên sách nữa là.

Mấy chục năm trước, do một dịp tình cờ, tôi làm chủ cuốn sách quý này. Xin làng xã hãy khoan cho tôi là đương kim chưởng môn phái này mà tội nghiệp tôi lắm. Hãy để tôi nhẩn nhà trình bầy cớ sự mần răng tôi có cuốn sách này? Dạ, như thế này ạ.

Số là, vào mùa xuân năm xửa năm xưa, cái năm mà tôi còn xuân thì. Chuyện xẩy ra vào sáng mùng ba tết. Bửa đó, bàn bầu cua của tôi trụ ở ngã ba đường cái đang hồi ế ẩm thì có một thanh niên, trạc cỡ tôi, xà vào. Mới ngồi xuống, chưa kịp nóng đít, thì hắn móc trong bụng ra một cuốn sách rồi gạ gẫm tôi cho hắn được ‘đặt’ cửa bằng cuốn sách đó. Nói nào ngay, từ lúc biết lê la các hàng bầu cua từ đầu xóm đến cuối xóm, cho đến khi đủ sức mình ên mần chủ một bàn, tôi chưa thấy ai ghiền bầu cua như hắn.

Nom hắn đẹp giai ra phết, tướng tá cao ráo, tôi biết chắc hắn từ xóm khác đến đây, chứ xóm tôi tòan là các anh xấu giai không hà. Tuy vậy, chuyện đẹp giai chả dính dấp đến chuyện bầu cua gì cả. Hễ đến bàn bầu cua, ai có tiền thì đặt cửa, ai hổng có thì chầu rìa hoặc đi chỗ khác chơi cho tiện việc. Chứ chưa có ai ‘đặt cửa’ bằng sách như hắn bao giờ. Chả hay là  hắn, thật sự, không có tiền hay là hắn muốn chọc quê tôi?

Đang lúc tôi bức xúc, lấn cấn như làm vậy thì hắn chìa cuốn sách ngang mặt tôi, đúng ngay chóc tầm mắt, và bảo ‘sách gia truyền đấy. Chứ chả chơi!’ Nghe nói ‘gia truyền gia bảo’ này nọ là tôi thích liền. Chẳng qua là vì tôi biết những thứ gia truyền, gia bảo đều là của quý. Há tôi chả đọc thấy, trong các pho kiếm hiệp, đầy rẫy những thế võ gia truyền, những bài thuốc trị bá bịnh được ghi chép trong các sách gọi là ‘gia truyền’ đó ru? Và tôi những mong, một ngày đó, mình vớ được một cuốn thì đời sẽ lên hương mấy hồi. Nay, sự cố “chum vàng lăn đến tận nhà” xẩy ra nhãn tiền, đối mặt với cơ hội ngàn năm này, tôi còn chần chờ gì nữa, hở giời.

Thế là tôi bằng lòng cho hắn ‘đặt’ cửa bằng sách quý, sau khi quy ra giá trị bằng năm trăm đồng mầu gạch cua. Nói thì nói vậy, chứ, thọat đầu, tôi cũng nghi ngờ sách này là sách giả, nên trước khi hắn bỏ sách xuống ‘cửa’, tôi muốn hắn cho nom ruột sách trước để đánh giá. Hắn chả chịu, lấy cớ là tôi có thể thuộc làu làu các điều ghi chép trong sách, sau khi nhòm qua một phát. Nghe hắn lý luận vậy, tôi cười tít hai con mắt, trong bụng khóai ơi là khóai vì nhẽ hắn là người đầu tiên, và có thể là duy nhất, nâng cấp cái bộ nhớ của tôi đến một tầm mức mần tôi chóang ngợp. Dù khóai tỉ như làm vậy, nhưng chả nhẽ tôi vội vàng đầu hàng hắn ngay thì coi sao đặng. Bởi vậy, tôi mới đòi hắn cho nom cái bìa sách. Lần này, hắn bằng lòng ngay vì tin chắc là tôi hổng có ‘thiên nhãn’, như ông Nhị Lang Thần, có ba mắt, trong Tây Du Ký, để nhòm trộm ruột sách.

Nhòm cái bìa sách vàng như nghệ, bẩn như gì, tôi đã nản hết sức nhẽ mình; Lại khi đọc được cái tựa sách viết bằng tay xấu như gà bới, “Tề Phong Truyện’, tôi đã định mời hắn đi chỗ khác chơi. Như đóan được ý nghĩ của tôi, hắn bèn mở sách, vớ ngay đọan nói về bầu cua mà đọc lấy đọc để. Nghe hắn đọc đến đâu, bụng tôi mở cờ đến đó; Mặt mũi cứ nghệt ra như đứa bị táo bón đột xuất. Nói nào ngay, dù năm nào tôi cũng bầu cua, chả là nhà con thì cũng là nhà cái, thế mà tôi chả biết rõ về món bài bạc này. Nay nhờ hắn đọc mà tôi mới vỡ nhẽ, mới thấu hiểu cái lý lẽ của bầu cua ra mần răng. (Người đời hay nói rằng ‘sanh nghề tử nghiệp’ nghe qua khó tin lắm, vậy mà nó đã xẩy ra nhãn tiền cho tôi, vào ngày tư ngày tết năm đó.)

Thấy tôi mụ người như làm vậy, hắn chắc mẫm là dụ được tôi rồi nên bỏ cuốn sách xuống ‘cửa’ Cá. Tôi cầm dĩa lên lắc cẩn thận, bỏ xuống đất. Đọan khóat tay một vòng trên mặt bàn bầu cua cho đúng bài bản và hô “Nhắc tay, Cái mở nhen’, thì hắn hét ‘khoan đã’. (Ý mèn ơi, bất nhân dữ hôn, sao mà giống chuyện kiếm hiệp ở những lúc hai cao thủ sắp tranh hùng quá vậy giời.) Tôi bèn ngừng tay cái rột, chống mắt lên thật cao để xem, vểnh tai cho thật dài để nghe, hắn muốn gì. Thì như làm vậy, tôi mới biết là hắn bắt tôi hứa là nếu tôi được sách quý thì phải giữ mình ên mà đọc. Cấm không được cho ai mượn sốt. Giời ơi là giời, cái này hắn khỏi phải nhắn nhủ lôi thôi. Phàm vớ được hủ vàng, hủ bạc thời có ai mang chia chác cho người khác đâu hè. Bởi vậy, tôi gật đầu cái rột và hối hắn ‘nhắc tay’ đặng tôi ‘khui’.

Khỏi cần nói thêm, làng xã cũng biết là tôi thắng lần khui lịch sử, hòanh tráng đó rồi. Có vậy, tôi mới có dịp giời thiệu sách này đến làng xã chứ. Phải không ạ?

Từ khi được sách ‘Tề Phong Truyện’, tôi đọc ngày đọc đêm, đọc thêm chủ nhật, ngủ gật cũng còn đọc. Quả là có chuyện cuốn sách thuộc phái Tề Phong, lưu truyền lâu đời trong nhân gian. Tôi chắc là vậy, vì ở trang đầu của cuốn sách có nói đến mà. Và khi đọc các chuyện tầm phào chép trong sách, tôi mê tít thò lò luôn. Tòan là những chuyện phào hết cả hơi không hà. Hay hết biết. Càng đọc, tôi càng bị cuốn vào thế giới phèo phổi, chằng chịt giây nhợ gỡ chả ra. Thì như làm vậy, chả mấy ngày sau, tôi đã ngốn sạch sành sanh cuốn sách, dầy khỏang tập vở trăm trang.
 
Đến đây chợt nẩy ra một cái phiền. Chả biết là phiền nhớn hay phiền nhỏ. Nhưng nói chung là phiền lắm vì tôi đi tìm cái chữ “Hết” ở trang cuối đến mỏi cả con mắt lẫn con ngươi mà không gặp. Quái, chả nhẽ tác giả là người hay chữ, lắm chuyện mà lại quên chữ ‘Hết’ sao? Cái bụng tôi lấn cấn như nuốt phải giây thun. Ruột gan phèo phổi thì nóng như rang muối. Tôi trộm nghĩ là nếu ai đã bỏ thời gian vàng ngọc ra xem phim bộ dài mấy chục tập mà, tự nhiên tự lành, mất xem cái tập cuối thì biết cái cảm giác khó tả này.

Loay hoay, tẩn mẩn cả tháng, tôi đành chịu thua. Không tài nào tìm được chữ “Hết” ở trang cuối cuốn sách. Tôi xem nó như một câu chuyện có đọan kết mở, dành cho độc giả tự kết câu chuyện. Ai muốn nó ra làm thao thì nó ra làm vậy.
 
Ấy, đã định bụng như làm vậy, thế mà một thời gian sau, chả hiểu vì nhẽ mô, tôi lại mang sách “Tề Phong Truyện’ ra đọc. Quyết phải nhòm thấy cái chữ ‘hết’ mới thỏa lòng mong đợi. Lần này, tôi đọc từ từ, chậm rãi như người đau răng nhai cơm vậy. Từng chữ từng chữ thầm đi vào bụng, rồi chảy ngược lên đầu. Đến khi đầu cổ nhức nhối thì dừng lại, nghỉ ngơi cái đã. Rồi lại cứ thế mà làm. Ngày qua ngày. Trang qua trang. Độ mất nữa vầng trăng, tôi cũng chả thấy chứ ‘hết’ dù đã ‘đi hết biển’ chữ của cuốn sách. Ôi, Tội nghiệp thân tôi chưa?

Một ngày sáng giời nọ, nhân đọc một tin nhắn tìm vợ thất lạc trên báo, tôi nẩy ra ý định đăng báo tìm hắn. Tìm người mang sách đi cờ bạc, cái kẻ thừa kế cuốn sách trước tôi, để có nhời giải đáp cho chữ “hết” thiếu sót một cách tai quái kia.
 
Định bụng là vậy, thế mà khi bắt tay vào việc thì lại gặp dăm sự khó. Cái khó thứ một là tôi không biết tên hắn. Cái khó thứ hai là tôi chả nhớ tóc tai mặt mũi hắn có dấu ấn gì khác thường. Cái khó thứ ba, cũng là cái sau rốt, là hộ khẩu hắn ở mô. Nói nào ngay, người ta tìm vợ thất lạc còn biết tên vợ mình, còn nhớ nằm lòng các dấu vết đặc biệt trên mặt trên mũi nàng, còn nhớ cái địa chỉ trước khi đi lạc của người vợ, mà đăng báo đặng người đời nhân đó mà chỉ cho. Chứ tôi đây, một tí tẹo về hắn tôi cũng hổng biết thì mần răng bây chừ?

Một sự khó đã là khó xử lý, đến hai sự khó chồng chéo lên nhau thì khỏi xử lý luôn cho tiện việc hành chánh. Từ đó suy ra, tôi gặp một chùm ba sự khó, thì coi như hết đường binh. Chả tính gì được sốt. Giá mà ngày đó, tôi chịu khó hỏi tên hắn hoặc nom mặt mũi hắn kỹ lường một chút thì sự khó đã chả rủ nhau đến viếng. Nói thì nói vậy, chứ làm sao trách móc tôi được. Vì nhẽ, ai biết trước được sự đời biến đổi ra răng mà rờ. Nói dại đổ sông đổ biển, nếu hồi đó tôi hỏi tên, hổng chừng hắn bỏ chạy một mạch vì nghĩ là tôi pê-đê thứ thiệt. Tôi dám cá với làng xã là vụ này có thể xẩy ra lắm vì giữa chốn bầu cua là nơi tiền bạc lên ngôi, thế mà hai người cùng phái gặp nhau lần đầu mà hỏi tên nhau thì nom sao đặng? Hổng nghĩ thế này, thời nhân gian cũng nghĩ thế kia.

Đấy là mới nói đến cái vụ hỏi tên mà đã là nguồn cội dẫn đến nỗi thê lương về sau. Còn chuyện nom kỹ mặt mũi hắn thì tôi hổng dám bàn tiếp, vì sợ rằng nó còn thê thảm hơn nữa.

Cũng nói cho ngay, vụ việc hắn cho tôi là pê-đê vẫn chưa khủng khiếp cho bằng việc có người nom thấy chuyện này, nói thẳng ra là mấy anh giai trong xóm thôi, rồi đồn ầm ra cả xóm thì tôi ế vợ là cái chắc. Thây U tôi chỉ có mình tôi là con giai, nhỡ có chuyện gì thì lấy đâu ra cháu cho các cụ bồng ẳm? Mà chả cần nói chi chuyện vợ con xa vời đó mần gì, chỉ nội cái việc tôi bị mang tiếng pê-đê thì cũng đủ chết người rồi. Nói chả phải khoe khoang, mấy cô trong xóm vẫn khen thầm tôi đẹp giai. Dù chả nàng nào nói thẳng với tôi, nhưng cứ nghe tiếng cười ‘khúc khích sau lưng’ mỗi khi tôi đi qua nhà mấy nàng, thì tôi biết tỏng tòng tong sự này. Có bị đánh chết, tôi cũng tin là vậy. Đấy, nếu bây giờ có anh giai nào, vì ghen cái đẹp giai của tôi, hoặc vì xếp tôi vào thành phần tình địch đáng gờm, mà đẩy tôi vào thành phần thứ ba thì nếu tôi chả chết ngay thì cũng khó chửa. Giời ơi, nếu chả còn cô nào nằm mộng thấy tôi mỗi đêm nữa, thì đời mất vui ngay lập tức. Tin nhời tôi đi.

(À, mãi nói chuyện đẹp giai mà chữ nghĩa chạy lung tung cả. Thôi, xìn làng xã xá tội cho, tôi xin giở về đơn vị cũ nhen.)

Sau khi suy nghĩ lung thiệt lung, đắn đo thật đắn đo, tôi quyết định là hổng thèm đăng báo gì hết. Chỉ tổ tốn tiền mà chả nên cơm cháo gì.

Vậy là vụ đăng báo được dẹp qua một bên, tâm hồn thấy thơi thới, tôi bèn mang số tiền định đăng báo ra quán cà phê gần nhà đặng cúng cho cô chủ nhỏ. Quán này có cái tên rất hay là Mây Chiều. Ông bà chủ giầu có nhưng chỉ có một đứa con gái tên Nhật Hạ. Tôi xin thú nhận cùng làng xã là tôi không thích cái tên này vì nghe có vẻ bức sốt lắm. Nói chả phải khoe, cô chủ nhỏ này mê tôi tít thò lò, ngặt cái là nàng nhỏ hơn tôi hai tuổi mà học cùng lớp nên tôi chả thèm. Hổng phải tôi chảnh chọe, làm eo làm sách gì mà chỉ tại tôi hổng thích có người yêu giỏi bằng mình. Vì nhỡ ra, sau này, nàng về làm vợ tôi thì tôi hổng có dịp lên mặt thầy đời dạy khôn nàng.

Nàng chủ nhỏ nom thấy tôi vào thì lăng xăng hết biết. Chạy chỗ này sửa lại cái bình hoa trên bàn cho ngay ngắn, chạy chỗ kia thay cái gạt tàn thuốc đã đầy ụp. Nom nàng đi tới đi lui, tôi chóng cả mặt, bèn rút cuốn sách quý từ túi sau của cái quần tây chợ ra đọc. Dạo này, tự nhiên, tôi hám chữ lạ. Đi đâu cũng vo tròn cuốn sách quý rồi đút vào túi quần sau và hễ có dịp là lôi ra tham khảo. Ấy, cái chiêu này tôi học từ mấy pho kiếm hiệp. Làng xã để ý mà nom, các tay hảo hớn hiền lành thường chộp được bí kiếp nhưng lại hổng biết mặt chữ đặng nghiên cứu cho ra nhẽ ngô khoai; Hoặc biết mặt chữ mà chữ hổng biết mặt mình. Ấy là khi cái người viết sách đó hổng muốn mọi người nom, chỉ trừ người có duyên ngầm với nó.

Tôi chả thuộc diện nào trong hai diện trên. Tôi hiền lành nên có sách quý và đọc được mọi chữ trong sách, ngọai trừ cái chữ ‘hết’ ngắn ngủi kia cứ trốn tiệt. Bởi vậy, so ra, tôi may mắn hơn những tay hảo hớn dữ tợn kia; Một trang sách quý cũng chả có. Tôi tự an ủi như làm vậy, trong khi thấm nước bọt vào ngón tay trỏ và di lên ngón tay cái đặng lật trang cho dễ. Có nhẽ, khi nhòm thấy tôi đưa tay lên mồm thấm nước bọt, nàng chủ nhỏ chê tôi ở dơ. Mặc kệ, chuyện đọc sách đâu có câu nệ dơ bẩn, và để ra cái ý xem thường nhời nàng khen chê, tôi thấm nước miếng nhiều hơn thường lệ cho biết tay.

Quả là có chuyện cơ trời bí hiểm, chả biết chỗ mô mà rờ. Bửa đó, khi bàn tay dơ dáy, dính đầy nước bọt, của tôi đụng vào mép trang giấy chót, tôi cảm thấy nó dầy hơn những trang khác. Tôi chả tin vào tay mình nên lật tới lật lui trang giấy ngang ngay chóc tầm mắt thì quả có chuyên này. Giời đất, bất nhân dữ hôn, vậy mà từ lâu tôi hổng nhận ra sự cố này. Tôi di di nơi mép trang giấy giữa ngón trỏ và ngón cái một hồi, thì thấy mép giấy hở ra. Biết là có sự cố mần thay đổi lịch sử đã gần sát, tim tôi đập thình thịch như trống điện. Mững hết biết luôn. Tôi mượn nàng chủ nhỏ con dao bé rồi cẩn thận nhét nó vào cái mép hở đó.

Nàng chủ nhỏ, sau khi đưa dao cho tôi, nom thấy tôi mần chuyện kỳ quái thì đứng sớ rớ ngay bên đặng nhòm cho rõ. Tôi từ từ, thật cẩn thẩn, tách trang giấy đó ra mần hai rồi nom cái trang mới ra lò kia ngay lập tức. Chúa lòng lành vô cùng, trên trang giấy đó là hình một con khỉ nhe răng cười toang tóac. Răng nhớn răng nhỏ nhe ra hết trơn. Nom đến phát khiếp. Dưới tấm hình là hàng chữ ‘Đồ Khỉ Gió’ được in đậm, khổ nhớn ơi là nhớn. Và dưới tận cùng trang giấy là chữ ‘HẾT’ nằm gọn bâng.

Thật bất ngờ, chả hiểu vì nhẽ gì, tôi buột miệng đọc thật nhớn hàng chữ ‘Đồ Khỉ Gió’, khiến nàng chủ nhỏ la lên ‘sao anh mắng em là ‘đồ khỉ gió’?’ Nghe vậy, tôi cười như khỉ để thay cho nhời xin lỗi cô. Có nhẽ nhòm cái mặt nhăn như khỉ của tôi khó thương quá sức nên cô quay lưng định bỏ đi. Thấy việc chả lành, tôi bèn dùng cầm nã thủ đặng ngăn cản. Nghe tiếng gió từ sau ào đến, cô nhanh nhẹn dùng “lăng ba vi bộ” đặng hóa giải thế nắm lợi hại của tôi. Nói thì dài dòng, chứ bằng ấy sự trên diễn ra chỉ trong một chớp mắt.
 
Bấy giờ, cái trí thông mình của tôi đột xuất mần việc và hiểu ra nguồn cội của sự cố khiến nàng xa lánh tôi. À, thì ra nàng gớm cái tay có ngón trỏ còn đọng nứớc bọt của tôi, chứ gì. Thì như vậy cũng được đi, chứ vì cái câu ‘đồ khỉ gió’ khiến cô dỗi nhãn tiền thì oan cho tôi hết sức và tôi cũng hết cách gỡ bàn chứ chả đùa.

Tôi vội thanh minh thanh nga, trong khi nàng nhòm tôi với hai con mắt hình viên đạn, rằng cái sự cố khỉ gió kia xẩy ra vì cuốn sách đã hành tôi đủ hình đủ tội. Tôi mất mấy cái nửa vầng trăng mới tầm ra cái chữ ‘hết’. Sự đột phát này mần tôi mừng rỡ quá sức nên đã không kềm hãm đặng miệng lưỡi của mình mà để chữ nghĩa lôi kéo.
 
Khi ca cẩm những nhời nhẽ trên, ngòai bộ mặt thê lương bài bản, tôi còn cho nàng xem cái hình con khỉ cuối trang sách đặng mần chứng cho nhời tôi. Thì như làm vậy, nàng đổi giận thành vui, cười tít mắt. Nhòm thấy vậy, tôi chả để nhỡ thời cơ, bèn xin nàng thêm một ly cà phê. Nhòm nàng te te đi về phía quầy để pha cà phê, tôi thấy nàng đáng yêu quá sức. Gía như nàng đừng học giỏi như tôi hoặc nàng nhỏ hơn tôi thêm dăm tuổi thì tôi đến phải yêu nàng mất. Tự nhiên, tôi cầu giời cho nàng làm bài hổng được trong kỳ thì sắp tới. Có như vậy thì nàng mới học thua tôi một lớp và tôi có cớ đặng yêu nàng chứ.

Thật là nhàn cư vi bất thiện. Ngồi không chả biết mần chi, nghĩ quanh nghĩ quẩn những chuyện chả tốt lành càng mang thêm tội nên tôi nhòm hình con khỉ trong sách để khỏi sa chước cám dỗ. Tôi nhòm chăm chăm, rồi xoay dọc lại xoay ngang cái hình những mong khám phá một điều kỳ diệu nào đó như mấy nhân vật cái thế trong các pho kiếm hiệp.

Nhòm một hồi lâu thật lâu, mỏi mắt thấy mồ, mà chả có điều gì xẩy ra, tôi gấp sách lại. Bấy giờ, Cô chủ nhỏ mang ly cà phê đặt lên bàn, kéo ghế ngồi tỉnh bơ, gạ chuyện tôi. Biết ngay mà. Phàm có ai cho không người khác vật gì? Chả vậy mà sách có câu ‘hòn đất ném đi, hòn chì ném lại’ đó ru? Cô hỏi tôi về những chuyện chép trong sách ‘Tề Phong Truyện’. Nói nào ngay, tôi chả nhớ được bao nhiêu chuyện nên phải dở sách ra đọc cho cô nghe. Thì như làm vậy, chừng tôi đọc đến trang thứ hai thì mới vỡ nhẽ cái câu ‘Đồ khỉ gió’ ghi lại cuối trang sách mang dấu ấn lịch sử. Sách ghi rằng: đó là dấu chỉ để đệ tử phái tề Phong nhận ra nhau giữa chốn nhân gian rùm beng này. Như đệ tử phái Thiếu Lâm thì phải xuống tóc; đệ tử Cái Bang thì mặc quần áo rách rưới vậy mà.

Chúa lòng lành vô cùng đã cứu tôi ra khỏi nhịp tội. Đã kìm hãm tâm trí tôi xa rời sự nghĩ xấu nghĩ xa về kẻ khác. Kẻ khác đó chính là lão tổ sư phái Tề Phong chư còn ai nữa. Tôi xin thú nhận cùng anh chị em là cái hàng chữ “Đồ khỉ gió” nơi trang sách cuối cùng kia đã khiến tôi nóng gà khi nghĩ đó như một nhời mắng mỏ và tôi cảm thấy bị xúc phạm. Chứ ai ngờ, nó chỉ như một nhời chào hỏi thông thường. Tôi xin nhận khuyết điểm này và hứa sẽ rút kinh nghiệm từ đây. Để tỏ lòng thành khẩn sám hối ăn năn và dốc lòng chừa, tôi xin tự phạt mình bằng cách tịnh khẩu năm phút. Ai thì tôi chả biết, chứ bắt tôi nhịn nói bằng ấy thời gian thì là hình phạt nặng lắm đấy. Nhất là khi có người đẹp đang lắng tai nghe mình ba hoa chích chòe thì còn nặng đến nhường nào nữa. Thế đã kinh lắm rồi.

Thấy tôi, tự nhiên tự lành, ngừng đọc, cô chủ nhỏ chả hiểu chuyện mô, nhòm tôi chờ đợi. Tôi biết cô khóai hóng chuyện, nhưng biết mần răng bây chừ? Tôi đang sám hối mà. Muốn gì thì cũng chờ tôi ăn năn tội dốc lòng chừa xong cái đã.
 
Dạ, chuyện đời chả mấy khi theo ý mình; Bốn phần thì đến hơn ba phần rười là trái ý. Thì vậy, lúc tôi sửa sọan kết thúc việc ‘ăn năn tội dốc lòng chừa’ thì nghe mùi thơm theo gió ập vào mặt. Tôi vội mở bừng con mắt linh hồn ra mà nom thì sự thế gian đã xẩy ra rồi. Cô chủ nhỏ thưa lúc tôi nhắm mắt đã phóng tay giật phắt cuốn sách trong tay tôi, từ lúc nào. Tôi ngồi như phỗng đá, chưa biết phải mần răng? Chả nhẽ dùng tay giằng lại thì nom sao đặng? Mà quỳ xuống năn nỉ, xin tí tình thương thời xấu hổ mọi đàng!

Giữa lúc tôi bị giằng co giữa sự thiện và nẻo ác, thời mẹ của cô xuất hiện. Nhòm thấy mẹ, cô vội vàng đứng dậy, tay cầm cuốn sách te te đi về phía quầy tính tiền. Tôi nhòm theo mà ứa lệ hai hàng rõ rệt. Nói ra thì xấu hổ, chứ mẹ cô chả hài lòng về việc cô quen với tôi. Việc này cũng có nguyên do. Chả là vì có mấy lần mẹ cô nhòm thấy tôi đứng trò chuyện với mấy cô khác, mà ai cũng đẹp gái cả, nên mẹ cô đâm lo. Sợ rằng, sau này, cái mã đẹp giai ăn tiền của tôi mần khổ cô con gái. Chuyện ghét bỏ này, cô chủ nhỏ cũng biết nên vừa thấy bóng mẹ là cô làm ra vẻ ruồng rẫy tôi liền tù tì để bà yên tâm. Bởi vậy, ta nói, hổng biết thời thôi chứ biết rõ lòng cô rồi mần răng mà trách cứ cô cho đặng. Phải không ạ?

Từ việc mẹ cô chả thích tôi đến việc chả ưa sự có mặt tôi trong quán thì còn bao xa? Dạ, thưa, gần xịt hà. Bởi như làm vậy, mười lần chẵn chục, hổng thấy mặt tôi trong qúan thời thôi, chứ gặp rồi là bà nấn ná ở lại quán đặng canh chừng cô con gái. Cấm cô đến gần tôi, sợ bị tôi ăn tươi nuốt sống.

Thì như làm vậy, biết nấn ná ở lại, tôi cũng chả có dịp đòi lại cuốn sách quý nên tôi đành phú lỉnh, chờ dịp khác. Bấy giờ, ngòai cô chủ nhỏ còn có bà chủ nhớn đứng tại quầy, tôi chả dám ‘cố sỷ’ như mọi khi mà đành gạt lệ móc tiền ra giả cho hai ly cà phê vì biết tỏng là mẹ cô đã đếm số ‘phin’ trên bàn tôi rồi. Chả còn cách nào ăn gian cho đặng. Nói dối phải tội, bấy giờ nhòm tiền của mình tà tà đi vào qúa khứ, ngàn trùng xa cách từ đây, lòng tôi đau đớn lắm. Có nhẽ, chả mấy ai nhòm cảnh này mà cầm được lệ rơi. Ấy thế mà mẹ cô lại có vẻ hài lòng ra mặt.

Đêm đó, tôi ngủ không được. Hết giở mình bên trái lại lăn qua bên mặt. Cứ nhớ đến số tiền giả cho hai ly cà phê mà đứt từng khúc ruột; Lại nghĩ đến số phận cuốn sách giờ này ra răng mà nhói cả tim gan phèo phổi. Nghĩ đọan tôi giận mẹ cô chủ nhỏ vì nhẽ nếu chả có sự xuất hiện đột ngột của bà thời sự thế gian đâu đến chỗ thê lương như làm vậy?

Nằm nghe tiếng thạch sùng chặt lưỡi tiếc của rõ to và nhiều hơn những đêm trước, tôi trộm nghĩ là chả nhẽ chúng nó rủ nhau về đây để phân ưu với tôi? Nhòm qua cửa sổ có mấy chấn song sắt lưa thưa và long lay như răng bà già, tôi thấy cái mã đá ong sát cạnh nhà vẫn thần bí nằm im thim thíp dưới ánh trăng. Chả có bóng ma nào ngồi vất vưởng trên mộ ca hát om xòm như nhời đồn đãi.

Nghe nói cái mã này có từ bao đời lận. Trên bia có khắc mấy hàng chữ dọc ngang mà tôi nhòm chả hiểu cái mô tơ gì. Hồi gia đình tôi dọn về đây, có nghe thiên hạ bàn tán về cái mã này. Rằng những đêm săng sáng, người ta nhòm thấy mấy cái bóng trắng đi vòng quanh cái mả ca hát đàn địch suốt đêm. Mà lạ, cái số bóng trắng này tăng giảm bất thường. Có lúc thì hai, có khi lại năm sáu bẩy. Số bóng trắng càng ít thì tiếng hát tiềng đàn còn ăn khớp với nhau, chứ càng đông thì mạnh ai nấy hát mạnh ai nấy đàn. Chả ai còn bảo được ai mà đâm ra om xòm quá nhẽ.

Nghe thì nghe vậy, chứ tôi chưa thấy sự thế gian này lần nào. Song le, tôi vẫn sợ sợ làm sao ấy. Nói dối phải tội, tôi là đứa nhát ma nên mỗi đêm, trước khi đi ngủ, tôi cẩn thận gài then cửa sổ kỷ lường. Nói dại là nếu ma muốn nhòm mặt tôi thời phải mở cửa trước và nhờ vậy tôi có đủ thời gian để tháo chạy. Thế mà, đêm đó, cái nỗi đau mất của chèn nát cái sự sợ ma kia. Tôi chả thiết gì nữa hết, ngòai cuốn sách quý kia. Tâm tư tôi, lúc đó, được diễn tả hòan chỉnh qua câu hát ‘Đêm nay trăng sáng quá em ơi, tim anh lạnh lẽo như cà rem nằm trong thùng’.

Sáng hôm sau, gặp cô chủ nhỏ trong trường, vào giờ ra chơi, tôi nhận ra hai con mắt của cô đen ngòm. Áng chừng đêm qua cô cũng không ngủ. Tôi chưa kịp hỏi nguồn cơn, thì cô đã mở miệng khen lấy khen để các chuyện chép trong sách ‘Tề Phong’. Cô bảo là chuyện nào trong sách cũng hay hết sức nhẽ mình. Thì ra, cô đã thức trọn đêm qua để đọc nó một mạch từ đầu đến đuôi. Có thế chứ lị. Đâu chỉ có mình tôi là khóai mấy chuyện khỉ gió này! Ai nói xấu tôi này nọ thì nên xét mình lại đi, nhá.

Cô còn hỏi mượn tôi thêm cuốn hai cuốn ba nữa. Chúa ơi, mần răng tôi có được vì sách có câu ‘phước bất trùng lai, họa vô đơn chí’. Có nhẽ nào, cái phước vớ được sách quý lại đến lần hai lần ba? Tôi tình ngay thưa với cô chủ nhỏ rằng sự thế gian là của như làm vậy, thì cô đổi vui làm giận. Cô đòi giam cuốn sách quý kia một trăm ngày. Nhất định hông trả là hông trả và bắt tôi phải có mặt ở quán trong suốt thời gian đó đặng cắt nghĩa các đọan khó hiểu trong sách. Cấm thiếu một ngày. Cô còn đe là nếu tôi chả mần đặng như làm vậy, thời cô sẽ đốt cuốn sách nhãn tiền, ngay bây giờ, cho tôi tức ói máu chơi.

Nghe cô dọa dẫm, hồn phách tôi lên giời thẳng cánh cò bay. Ở trển dòm xuống thì mới hay cái việc tôi vác xác ra quán mỗi ngày, trong 100 ngày chẵn, là việc chả làm đặng. Là vì, tiền ăn sáng của tôi chỉ đủ giả cho ly cà phê với vài điếu thuốc Capstan. Bởi vậy, mỗi lần định bụng ra quán, thời sáng đó tôi phải ăn cơm nguội ở nhà trước khi đến trường. Rồi, có ai mời đi ăn kem, ăn chè thời phải mạnh dạn từ chối vì nhẽ có ăn thì có giả. Bữa nay mình ăn chực người ta, thì ngày mai mình phải cho người ta ăn chực lại. Mà cái vụ ăn miếng giả miếng này hổng có khi nào ngừng. Thôi, thì thôi vậy, vì sứ mệnh tình yêu cao cả, tôi phải ngỏanh mặt làm ngơ ba cái vụ mời mọc này.

Bây chừ, cô chủ nhỏ ra điều răn khắt khe như làm vậy, thời tôi phải nhịn ăn sáng đủ một trăm ngày. Chúa ơi, những một trăm ngày cơ! Nói dối phải tội, chưa bao giờ tôi thấy con số này lớn lao quá sức nhẽ mình như bấy giờ. Một trăm ngày nhịn ăn sáng là một trăm lần giữ mình tránh xa dịp tội để khỏi sa chước cám dỗ. Chỉ cần lơ là một tẹo là quẹo qua con đường tội lỗi ngay lập tức.

Càng nói càng thêm xấu hổ. Là vì tôi vẫn nghe người đời nói rằng ‘yêu là chết ở trong lòng một tí’. Xem ra ngày xưa người ta yêu nhau tợn quá. Dám hy sanh chết ở trong lòng một tí, cũng như một tẹo. Thế mà tôi chả lấy đó làm gương lành gương sáng mà soi. Mới gặp chuyện ăn uống cỏn con, chả chết trong lòng một ly ông cụ nào, mà cứ lo nhặng lên. Làm mất mặt bầu cua hết trơn hết trọi.

Nghĩ đọan, hồn phách tôi giở về đơn vị cũ. Tôi gật đầu, bằng lòng với điều kiện cô chủ nhỏ đưa ra. Mặc dù, bấy giờ, tôi chưa yêu cô chủ nhỏ nhưng, trộm nghĩ, cứ gặp nhau thế này thì đến phải yêu thôi. Trước sau thì cũng rứa, vậy thời tôi nên tập ‘chết ở trong lòng một tí’ là vừa vặn.
 
Tôi xin mở ngoặc, nơi đây, để nói chuyện đàn địch một chút vì có dính dáng đến cô chủ nhỏ. Dạ, nói nào ngay, ngày ấy, tôi cũng biết món này chút lỉnh. Dù ngón đờn chả hơn ai nhưng các cô láng giềng lại khóai nhòm tôi đàn. Thế mới chết người chứ lị. Ấy, chả qua là vì tôi đẹp giai, lại khóai mặc quần đùi khi đi vào thế giới đàn địch. Cứ nhòm cái tướng vắt chân chữ ngũ, đùi này gác lên đùi kia, thì phải biết. Các cô mê đến mệt lả, chứ chả chơi. Nói thế cho óach, chứ ngày ấy mà kiếm được cái quần tây để diện cũng vất vả lắm. Đúng ra, thì tôi cũng có một hai cái chứ chả không, song le chỉ được mặc những lúc cần thiết. Ngòai ra, thì cứ mát mẻ sạch sẽ, sính cái quần đùi cũng tươm tất chán.

Lúc đầu, tôi học đàn mô-đẹc đặng đệm cho người ta hát. Chẳng qua, lúc còn lẻo đẻo theo mấy anh giai trong xóm để được sai vặt, thấy họ tụm năm túm ba ngồi trước cửa nhà đàn địch hát hỏng với nhau vui đáo để. Có anh giọng khàn thấy mồ mà cứ khóai hát. Giành hết phần chúng bạn, chả cho ai có dịp khoe khoang. Có anh chỉ đòi hát khi có bóng chị gái lướt qua. Tôi còn nhớ ảnh hát như vầy: ‘ ái ân chưa trọn để ngàn đời nhớ nhau’. Mèn ơi, tôi vẫn nghe người ta bảo ‘kiếp này lấy nhau hổng đặng, thời hẹn kiếp sau.’ Chứ chưa nghe ai khiêm tốn, tình nguyện mần người tình cô đơn đến ngàn kiếp sau cả. Cứ như ông Đức Huy thật thà quá sức khi đặt câu hát ‘với anh em mãi là người tình trăm năm’. Thế mà lại hay. Nghe hai lúa thấy mồ nhưng lại đúng ơi là đúng.

Sau này nhớn lên một tí thì tôi hổng còn thích vụ này. Vịn cớ rằng đệm đàn cho người ta hát thì thiên hạ chỉ biết đến người hát, còn người đàn thì bị bỏ xó. Chả ai màng đến. Bạc bẽo lắm. Nghĩ vậy, tôi bèn học hát đặng một mình vừa đàn vừa hát nom xôm tụ hơn. Nói ra thêm xấu hổ, càng học hát, tôi càng thấy mình hát dở tệ. Với lại, tôi bị bệnh lãng tri. Nhiều khi tay đàn ầm ầm mà mồm quên hát hoặc mồm hát oang oang mà tay lại quên khua đàn. Tóm lại, cái mộng một mình một chợ, tay đàn mồm hát, thời phải vứt đi thôi.

Sau hai lần vỡ mộng, tôi vác đàn qua học nhạc Cổ Điển Lục Huyền Cầm. Chứ tôi hổng dại gì mà đập vỡ cây đàn như ông nhạc sỹ nào đó. Nhờ giời thương, tôi mình ên lần mò tập hết cuốn Carrulli, rồi lần sang sách của nhạc sỹ Trần Văn Phú. Tôi học được mấy cú gãi ghẻ (tremolo) bằng hai, ba ngón. Cú nào cú nấy nhuyển nhừ. Mấy cô láng giềng mỗi lần nghe tiếng đàn của tôi là lặng cả người. Trộm nghĩ, thế nào trong số ấy cũng có cô phải lòng tôi? Đấy là tiếng đàn phát ra từ cây đàn cũ xì của chú tôi cho, chứ mà từ cây đàn của tiệm Vĩnh Phúc trên đường Nguyễn Thiện Thuật thì còn khối người mê. Tôi ước ao có cây đàn Vĩnh Phúc này đã lâu mà chả để dành đủ tiền đặng mua.

Tết năm ấy, Bố tôi lì xì cho tôi mấy ngàn. Vì nhẽ, ngòai cái mã đẹp giai ăn tiền, đàn hay, tôi còn học giỏi nữa. Tháng nào, tôi chả đứng hạng nhất thì cũng hạng nhì. Trong Học Bạ của tôi môn nào cũng điểm cao. Từ các môn học thật như Tóan Lý Hóa, đến môn học giả ăn thật là điểm Hạnh kiểm. Tất tần tật đều ngon lành. Bởi vậy, để khuyến khích tôi học giỏi hơn nữa, Bố tôi thưởng cho cậu con cưng dăm ngàn đặng mua cây đàn trong mộng.

Tôi đã định bụng là sẽ lết ra chợ Bàn Cờ, một ngày nào đó, đặng vác cây đàn này về mà tính tịch tình tang. Ấy thế mà chưa kịp đạp xe ra chợ thì đụng phải vụ ăn chay quà sáng này. Còn biết tính làm sao đây? Nhịn ăn sáng mỗi ngày thì tôi chắc hổng kham nổi. Lơ mơ vác cái bụng đói học hành suốt buổi, có ngày xỉu tại lớp thì ê mặt lắm. Thôi, thì thôi nhé, chuyện đàn địch xin hẹn một kiếp mai.

Thế là tôi vác xác ra quán mỗi ngày. Những lúc không có bà chủ nhớn, chúng tôi trao đổi chuyện chữ nghĩa trong sách Tề Phong rồi lần sang những chuyện trên giời dưới đất. Còn giờ khắc nào có mặt bả, thì tôi được ra về sớm. Độ hơn một tháng sau, từ ngày tôi làm theo điều răn của cô chủ nhỏ, thì bà chủ nhớn lơ là trong việc canh chừng tôi. Lúc đầu, tôi mừng lắm. Và đã có lúc tôi nghĩ là bà thấy tôi hiền lành ngay thật, chứ không phải ngay giả, nên bắt đầu thương mến tôi. Rồi sau đó, tôi lại cho là không phải vậy. Hình như bà lo nghĩ một chuyện khác, to nhớn hơn là chuyện yêu đương con nít con nôi của chúng tôi. Lúc đó, vào khỏang tháng Ba, năm một ngàn chin trăm bẩy lăm.

Nói dối phải tội, sau nhiều ngày lân la ở quán, trò truyện với cô chủ nhỏ, tôi nhận ra cô chủ nhỏ nhiều chuyện thấy mồ. Chuyện gì cô cũng nói được. Chả hạn chuyện thằng này bồ với con kia, cha mẹ con kia hổng bằng lòng đến trường kiện cáo. Thế là tình duyên của bọn nó bị cấm chỉ. Thằng này giận dỗi bèn làm thơ trách móc đăng lên tờ bích báo của lớp năm đó. Chả hạn, chuyện thằng chồng của bà bán xôi gấc trước cổng trường có vợ bé. Cái bà vợ bé này xấu ác ôn côn đồ. Người lùn tịt mà con mắt lé xiên lé xẹo. Răng bả thì sún nửa hàm dưới, còn hàm trên thì đưa ra cả tấc. Nếu bà này đi dự thi gỉai “xấu trọn gói” thì nhất định thắng giải nhất vì đạt đủ bốn  diện: “nhất nhị tam tứ”.

Đấy, đại khái là những chuyện như làm vậy. Tôi chỉ ngồi nghe thôi đấy, chứ hổng dám chen vào. Ấy thế mà riết một hồi, tôi cũng đâm ra nhiều chuyện luôn. Đó là chuyện sau này, chứ lúc ấy tôi hiền lắm. Nghe cô nói chuyện, tôi chỉ vâng với dạ suốt. Ngay cả chuyện cô chê ông tổ sư phái Tề Phong viết chữ xấu như ma, tôi cũng chả dám cãi. Tơ lơ mơ, ăn nói lạng quạng, cô tức mình đốt cuốn sách quý thì tôi bỏ xác tại trận, chứ chả chơi. Chả phải cô chê một lần mà nhiều lần như vậy. Những lúc ấy, đôi mắt cô như có điều gì bí ẩn, tôi nhòm hòai mà chả hiểu vì răng. Hình như, trong đó, có một niềm vui?

Quay đi quay lại, cái hạn một trăm ngày đã hết. Buổi tối ấy, trước khi tôi được phép ra về, cô chủ nhỏ giả lại tôi cuốn sách như đã hứa. Cầm cuốn sách trong tay, tôi mừng quá giời đất. Chợt khi nhòm xuống trang bìa, tôi thót bụng. Ý giời đất ơi, hổng phải cuốn sách bị cô tịch thu ngày nào! Tôi vội lật mấy trang trong thì thấy nét chữ hòan tòan xa lạ, đẹp đẽ và ngay ngắn chứ không xấu xí và xiên xẹo như tuồng chữ của ông tổ sư phái Tề Phong. Lại khi nhòm hình con khỉ ở trang cuối, tôi thấy hổng giống khỉ tí nào. Có nhẽ, giống con bú dù nhiều hơn. Lời đất ơi, lại có mùi nước hoa nước hiếc từ cuốn sách thỏang ra nữa. Chuyện gì nữa đây, hở Giời?

Bấy giờ, như đọc được ý nghĩ của tôi, cô chủ nhỏ nhẩn nha giải thích rằng thì là thấy tôi phải đọc tuồng chữ xấu xí kia mà thương ơi là thương. Bởi vậy, cô đã bỏ ra một trăm ngày để chép lại cho đẹp đẽ. Riêng hình con khỉ thì cô xin chịu, chả vẽ lại cho giống được vì cô không có khiếu vẽ vời.

Nghe đọan, tôi bàng hòang quá nhẽ. Cô chủ nhỏ đã thương tôi còn thương hai con mắt của tôi nữa. Thế mà tôi chả hay. Lại cho là cô nhiều chuyện, đặt chuyện mần khó tôi nữa. Tôi hối hận quá sức, trách mình ngu gì đâu. Chả hiểu tâm lý tâm liếc phụ nữ gì cả. Và, sau đó một giầy đồng hồ, tôi thấy thương cô qúa sức nhẽ mình.

Nhớ chuyện năm xưa, cái lúc Hòang Lão Tà nhận cuốn Cửu Âm Chân Kinh do vợ lão chép tại từ trí nhớ của mình lần thứ hai, chắc lão cũng mừng như tôi là hết cỡ thợ mộc. Tôi đóan thế, vì sau khi nhờ vợ chép lại lần thứ nhất và bị bọn đệ tử đánh cắp bản này, Hòang Lão Tà hầu như hết hy vọng nhờ vợ lần thứ hai. Thế mà, như có tin vui giữa giờ tuyệt vọng, vợ lão bằng lòng chép cho lão lần nữa. Nói nào ngay, nhờ vợ một lần mà không bị nhiếc mắng đã là phúc ba đời, còn nói gì đến lần thứ hai? Hỏi thế, sao lão chả mừng ra mặt cho đặng!

Thế đấy, nhắc chuyện xưa để biết cái mừng của tôi lúc bấy giờ nhớn như thế nào. Tôi nhòm cô chủ nhỏ chực khóc lóc ngay tại chỗ cho tỏ lòng nhau. Tiếc rằng, vào cái lúc hồn sắp ra cửa biển, thì mẹ cô lại xuất hiện, Giời ạ.

Tôi lủi thủi mình ên trên con đường về nhà. Gớm, con đường này, tối qua còn thấy ngắn ngủn, mà tối này sao dài thế này. Đi mãi mà vẫn chưa đến nhà. Tôi chỉ mong về nhà cho sớm đặng chui vào mùng rồi đọc cho bằng hết cuốn sách mới tái bản còn thơm mùi nước hoa này. Và tôi định ngày mai, khi gặp cô trong trường, tôi sẽ đãi cô món bún riêu mà cô vẫn ưa thích như một nhời tỏ tình đáng yêu.
 
Sáng hôm sau, tôi không thấy cô chủ nhỏ trong lớp học. Điều này làm tôi ngạc nhiên vì cô chăm học lắm cơ. Dù giời mưa giời nắng, ngày mát ngày nực thì cô đều có mặt trong lớp. Nói chả phải ngoa, chả phải là khoe khoang này nọ, cái nguồn cội cho sự chăm chỉ này của cô là tôi đấy thôi. Cô muốn nhòm thấy tôi mọi ngày, mọi nơi và mọi lúc nên chả coi giời mưa giời nắng ra cái gì sốt. Có nhẽ, khi yêu người ta coi giời bằng vung, làng xã ạ? Còn tôi, dù mới biết yêu tối hôm qua nhưng đúng như câu hát “lỡ yêu rồi làm sao quên được” đã cho hay thì quả thật tôi đang nhớ cô da diết. Tôi nhớ xa rồi lại nhớ gần. Nhớ những lần cô cho tôi uống cà phê miễn phí. Những lúc cô giận dỗi vì cái tính cù lần quá độ của tôi đã không làm đẹp lòng cô mọi đàng. Nói chung, là tôi nhớ tất tần tật. Chả còn sót chỗ nào trên thế gian này.
 
Có nhẽ cô bị ốm nên không đến lớp được? Tôi đã trộm nghĩ thế nhưng ngay lành mà nói thì lý do này nghe hổng đặng chút nào. Mới tối qua tôi thấy cô khỏe mạnh, mặt mày tươi rói mà. Hay là cô bị tai nạn xe cộ trên đường đến trường lớp? Chả nhẽ nào như làm vậy được vì cô đâu có lái xe lái xiếc. Cô rông bộ, mỗi ngày, đến trường. Cô bảo mặc áo dài mà đi bộ thì mới óach. Chứ lái xe này nọ thì mần giảm nét đẹp của áo dài đến mấy phần rồi. Phí lắm.
 
Tôi hỏi mấy người quen cô thì không một ai có thông tin sốt dẽo liên quan đến sự tạm vắng này của cô. Tôi có định gọi điện thọai đến nhà cô đấy chứ, nhưng chợt nhớ là nhà cô hổng xài mấy thứ hại điện này. Thế là hết cách. Tôi đành chịu thua, chấp nhận định mệnh an bài ra răng. Tôi chờ tan học rồi chạy bay ra quán. Từ xa, tôi đã nhòm thấy hai cánh cổng sắt to tướng đóng khít vào nhau. Chả có ai ra vô gì hết. Tôi biết ngay là quán đóng cửa. Lạ hông? Giờ này trưa trầy trưa trật mà còn chưa mở cửa buôn bán? Có chuyện gì đây, chứ chả chơi? Tôi nghĩ trong bụng như làm vậy, trong khi đưa tay nhấn nút chuông điện. Tôi nhấn liền tù tì ba hồi. Tiếng chuông điện vang lên từng cơn nghe rõ mồn một mà chả có ai ra mở cửa. Tôi nhòm qua khe hở của cánh cổng thì thấy bên trong im lìm, không một bóng người. Tôi nhấn thêm ba hồi nữa. Đứng chờ. Vẫn chả có ai. Rồi ba hồi nữa. Lại đứng chờ. Tổng cộng là chín hồi chuông đổ mà bóng dáng ai vẫn còn xa xôi phương nào khiến lòng này buồn lắm người ơi.
 
Tôi đưa tay định bấm thêm ba hồi nữa cho đủ chục mười hai, nhưng sợ hàng xóm chung quanh la rầy nên đành thôi. Đứng tần ngần tại chỗ một hồi lâu thật lâu, tôi buồn bã đi về mình ên.

Vài ngày sau nữa, tôi cũng chả thấy cô đi học và quán vẫn đóng cửa. Tôi như ngồi trên đống lửa. Ruột gan phèo phổi nóng còn hơn bị rang muối. Chả biết chuyện gì đã xẩy ra cho gia đình cô?
 
Lại vài ngày sau nữa, tôi dò hỏi mấy nhà chung quanh quán thì mới hay là gia đình cô đã di tản ra nước ngòai mấy ngày trước rồi. Bản tin sét đánh này làm tôi chết ở trong lòng một giây. “Tôi đứng đó như hình một pho tượng” và thầm hỏi “Hạ ơi, có mang theo ‘Tề Phong truyện’ không?”

ooOoo
 
 


Số Lần Chấm:  
1

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,834
Nguồn:
Đăng bởi: Cả Ngố (1/12/2010)
Người gửi: TayDoc
Người sửa: Cả Ngố,