Truyện Tiểu Thuyết Tình Cảm

Sa Huỳnh

Chu Sa Lan

Kết

Chương 15
Chiếc ghe đánh cá chầm chậm lướt sóng. Bốn ngày trôi qua. Nhờ hồi nhỏ đã đi đánh cá nên Bền khá thông thạo chuyện đi biển. Ghe lớn nhưng lại phải chở nặng thành ra không chạy nhanh được. Vả lại vì không thuộc đường do đó Bền phải cho ghe chạy rất gần bờ để khỏi bị lạc đường.
- Phan Rang đó đại úy...
Bền giơ tay chỉ một khu sáng mờ xa xa trong bờ. Ánh sao lóng lánh trên nền trời đen thẳm. Nước biển lấp lánh. Mở ba lô Hoàng lấy ống dòm nhìn vào bờ. Ánh lửa chớp tắt. Dường như có tiếng ì ầm vọng lại.
- Chinh...
- Đại úy gọi tôi...
- Tôi nghe như có tiếng nổ...
Lắng nghe hồi lâu Chinh lên tiếng.
- Tiếng đại bác... Có lẽ trong đó đánh nhau dữ lắm...
Dinh, Hân và Vũ cũng đều nghe được tiếng đại bác nổ ì ầm xen lẫn với tiếng phi cơ gầm thét. Tất cả lính biệt động trên ghe thấy đèn máy bay nhấp nháy trên trời đêm.
- Chinh nhìn thử...
Hoàng đưa ống dòm cho người đại đội phó của mình. Chinh rê ống dòm quan sát thật lâu rồi từ từ lên tiếng.
- Đang đánh nhau ở trong đó...
Nói xong anh nhìn cấp chỉ huy của mình. Hoàng hỏi nhỏ.
- Hôm nay mùng mấy rồi?
Liếc nhanh đồng hồ đeo tay của mình Chinh trả lời.
- Mồng 8 thưa đại úy...
Nhìn mấy chục người lính quần áo xác xơ, súng ống dơ bẩn, đạn dược không có, cộng thêm vẻ mệt mỏi hiện ra trên khuôn mặt hốc hác thất thần Hoàng khẽ thở dài. Anh không thể dẫn những người lính như thế này để tham gia một trận đánh nào nữa. Họ cần phải được nghỉ ngơi và trang bị đầy đủ trước khi tung ra trận địa.
- Mình về Vũng Tàu... Sau đó tôi sẽ liên lạc với tiểu đoàn hoặc bộ chỉ huy trung ương...
Lính reo hò khi biết tin vui này. Hoàng dấu kín niềm vui của mình. Cầm lấy ly cà phê đen và điếu thuốc của Đăng cho anh lặng lẻ tới ngồi nơi mũi tàu. Anh muốn được yên tịnh để suy nghĩ. Anh mừng vui vì biết mình sẽ gặp lại Sa Huỳnh. Tuy nhiên bên cạnh đó anh lại có một ưu tư khác. Chiến trận đang tới hồi khốc liệt và địch quân đang có nhiều ưu thế. Quân số đông hơn, vũ khí nhiều hơn, tinh thần chiến đấu tăng cao vì liên tiếp thắng trận, địch quân đang và sẽ tung toàn lực để giải quyết chiến tranh. Sau khi vùng 2 và vùng 1 xụp đổ là tới phiên vùng 3 và nhất là Sài Gòn phải trực tiếp đối diện với lửa đạn. Hàng chục sư đoàn chính qui trang bị đầy đủ vũ khí sẽ tấn công vào Bà Rịa, Long Khánh, Bình Dương và Biên Hòa để mở đường vào Sài Gòn. Sau những cuộc rút lui hổn loạn, vô trật tự Hoàng biết quân lực của anh đã mất đi cái thế mạnh để có thể ngăn chận địch quân. Vị đại úy trẻ tuổi lắc đầu thở dài không muốn suy nghĩ thêm một vấn đề mà anh biết vượt qua khỏi tầm tay của mình. Anh muốn tâm hồn được thư thả. Hình ảnh của Sa Huỳnh hiện ra nhạt mờ lung linh. Nụ cười ngời sáng tình yêu. Giọng nói có chút gì âu yếm và tình tứ. Người ni cô đang từ từ trở về con người với mơ mộng, lãng mạn. Đó là con người thực, con người của tục lụy. Đốt thêm một điếu thuốc, uống cạn ly cà phê xong Hoàng nằm lăn ra sàn ghe dơ bẩn và hôi hám. Tuy nhiên dường như anh không ngửi được mùi hôi hám này vì đang từ từ chìm vào trong giấc ngủ thật bình yên.
- Mô Phật... Tôi vui mừng gặp lại thiếu úy...
Sa Huỳnh vui vẻ lên tiếng chào khi thấy Quốc. Người trung đội trưởng cười nói thân mật.
- Thưa ni cô... Tôi tới thăm ni cô và cũng để từ giã để về Sài Gòn...
- Mô Phật... Tôi cầu xin đức Phật từ bi sẽ che chở cho ông...
- Cám ơn ni cô... Ni cô có cần gì không xin vui lòng cho tôi biết...
- Mô Phật... Tôi chỉ xin hỏi thăm về đại úy Hoàng... Chắc ông có nghe biết một vài tin tức về đại úy Hoàng...
Liếc nhanh ni cô Sa Huỳnh Quốc lắc đầu thở dài.
- Thưa ni cô... Tình hình của đất nước bây giờ lộn xộn lắm. Tôi đã hỏi thăm mà cũng không nghe tin tức gì về đại úy của tôi. Những vùng mà đại úy của tôi đi qua đều bị Việt Cộng chiếm đóng cho nên...
Sa Huỳnh cố giấu tiếng thở dài. Hai người đều im lặng rồi lát sau Quốc lên tiếng.
- Thưa ni cô... Tôi xin được từ giã...
- Mô Phật... Tôi sẽ cầu nguyện cho ông...
Đứng nơi hàng hiên ni cô Sa Huỳnh nhìn theo bóng người lính biệt động quân cúi đầu đi trên con đường tráng nhựa cho tới khi mất hút.
- Hoàng ơi...
Sa Huỳnh lẩm bẩm hai chữ mà ni cô thường xuyên gọi thầm từ mấy ngày nay. Không có chuyện gì để làm cho qua thời giờ Sa Huỳnh chỉ còn biết đọc kinh, lần tràng hạt và chiều chiều ra biển ngóng tìm một chiếc ghe, chiếc tàu nào đó chở Hoàng về gặp lại mình. Tuy nhiên biển vẫn vô tình. Trời xanh thản nhiên và gió vẫn làm ngơ.
Nắng tháng tư ấm dịu. Gió biển mằn mặn mang mùi rong rêu thổi về. Những cụm hoa hồng đã đơm bông. Sa Huỳnh thong thả dạo bước trong sân chùa sau khi đọc kinh. Ngước nhìn bầu trời xanh trong vắt người ni cô khe khẽ thở dài. Ông đại úy Hoàng si tình vẫn biệt tăm như cánh nhạn chìm. Đêm đêm mở radio nghe tin tức người ni cô cũng hiểu là đất nước đang ở trong tình trạng hổn loạn. Những kẻ vô thần đang tiến dần về phương nam mà Hoàng cùng đồng đội phải hối hả rút lui trước sức mạnh của địch quân. Sa Huỳnh cầu nguyện cho Hoàng nhiều lần hơn; mỗi lần cầu nguyện lại lâu hơn để cầu xin Phật tổ từ bi che chở cho người mình yêu thương.
- Sa Huỳnh...
Người ni cô nghẹn ngào không nói được lời nào. Nàng không cần nói và cũng không thể nói vì quên hết. Khuôn mặt nhiều mệt mỏi nhưng cũng nhiều quyến rũ. Nụ cười tươi vui. Ánh mắt nhìn thăm thẳm. Hoàng. Người lính chiến si tình của Sa Huỳnh đang đứng trước mặt với bộ chiến y dơ dáy, nhầu nát.
- Ông không tắm mấy ngày rồi?
- Lâu lắm...
Đưa tay bịt mũi Sa Huỳnh cười đùa.
- Bởi vậy mà tôi không dám ôm ông dù tôi muốn...
Hoàng cười.
- Tôi cũng không dám để cho Sa Huỳnh ôm tôi...
- Tại sao?
- Nếu Sa Huỳnh mà ôm tôi là tôi sẽ ở lại đây để thành một nhà sư...
Sa Huỳnh bật lên tiếng cười ngắn. Hoàng nhìn Sa Huỳnh với cái nhìn tắm đẵm yêu thương đồng thời giọng nói cất lên buồn.
- Tôi tới thăm Sa Huỳnh giây lát rồi tôi đi...
Người ni cô kêu với giọng thảng thốt.
- Ông đi... Ông đi đâu...?
Hoàng nói chậm và nghiêm nghị.
- Tôi đã liên lạc được với bộ chỉ huy biệt động quân của tôi. Tôi sẽ về Sài Gòn để cùng với anh em tham dự một trận đánh cuối cùng...
Sa Huỳnh rưng rưng nước mắt. Nghe giọng nói nàng lờ mờ hiểu một điều khiến cho nàng sợ hãi.
- Tôi còn gặp lại ông không?
Hoàng nói với giọng quả quyết.
- Gặp chứ... Chúng ta sẽ gặp nhau... dưới trần thế này hay trên cõi niết bàn. Tôi thấy Sa Huỳnh từng sát na...
Nhìn người ni cô với cái nhìn âu yếm như muốn thu lấy hình ảnh mà mình yêu thương người lính chiến nói nhỏ với giọng buồn, rắn rỏi.
- Sa Huỳnh... Tôi phải đi... Anh em đang chờ tôi...
Sa Huỳnh không nói được tiếng nào dù là một chữ, một lời, một câu từ biệt. Tiếng bước  chân vang động. Bóng người lính chiến nhập nhòa rồi từ từ xa dần chỉ còn lại người ni cô đứng bơ vơ và đơn độc. Tự dưng Sa Huỳnh ước ao nàng không phải là ni cô để theo Hoàng, ở bên cạnh người mà mình yêu thương. Nhưng trễ rồi. Muộn màng rồi. Hoàng đã đi theo tiếng gọi của nước non để hoàn thành nhiệm vụ của người lính chiến. Nàng chỉ còn biết đêm đêm cầu nguyện cho người đi còn có lần trở lại.
Sau khi trình diện xong thiếu tá M. tiểu đoàn trưởng thân mật bắt tay Hoàng.
- Anh sẽ để em nắm đại đội 2. Sau khi ở Chơn Thành về đại đội cần được một đại đội trưởng như em rèn lại cho cứng cựa...
- Cám ơn tiểu đoàn trưởng...
Từ giã cấp chỉ huy của mình Hoàng đi như chạy về đại đội. Anh có cảm tưởng là mình trở về mái nhà xưa gặp lại anh em bạn bè thân thương đã lâu không gặp.
- Đại úy... Đại úy tụi bây ơi...
Há la om xòm trong lúc nhảy cà tưng vì mừng rỡ. Tín chảy nước mắt ôm chầm lấy cấp chỉ huy. Thượng sĩ Bảnh bước vào đưa tay chào Hoàng.
- Ông thầy về Sài Gòn hồi nào vậy?
- Cách đây mấy ngày. Tôi trình diện bộ chỉ huy trung ương rồi được đưa về liên đoàn 31. Trình diện đại tá Biết xong ổng cho tôi về lại tiểu đoàn cũ...
Ôm Hoàng như một người anh gặp lại đứa em lâu ngày mới gặp lại ông thượng sĩ thường vụ đại đội cười ha hả.
- Số dách... Có ông thầy coi đại đội tôi mừng hết lớn. Đại đội mẻ bộn sau trận Chơn Thành... Tiểu đoàn phó có nói là mình sẽ ra Phan Rang...
Hoàng cười nhẹ.
- Phan Rang còn nặng hơn Chơn Thành nữa...
Quay sang Há Hoàng vỗ vai thằng em mang máy.
- Em gọi bốn ông trung đội trưởng lên đây gặp anh...
Lát sau Trường, đại đội phó lên trung úy sau trận An Lộc cùng với thiếu úy Danh, trung đội trưởng trung đội 1 và thiếu úy Hưng, trung đội trưởng trung đội 4. Hai ông chuẩn úy, trung đội trưởng 2 và 3 mới về nắm trung đội sau khi Hoàng thuyên chuyển ra vùng 1. Mạnh, chỉ huy trung đội 2 giơ tay chào Hoàng xong cười nói.
- Tôi nghe anh em nói về đại úy nhiều lắm...
Bách, coi trung đội 3 cũng lên tiếng.
- Lính trung đội 3 mừng lắm khi nghe tin đại úy trở lại...
Nhìn một vòng những người lính thân cận Hoàng nghiêm giọng.
- Mình sẽ ra Phan Rang ngày mai hoặc mốt. Bốn trung đội trưởng bảo lính sửa soạn cẩn thận. Ông Bảnh dặn lính mang đạn cho nhiều. Có bao nhiêu cũng mang hết...
Sau khi mọi người đi lo chuyện của họ Hoàng thong thả kể sơ lại cuộc trốn thoát của mình ở vùng 1. Trường thở dài sườn sượt.
- Tình hình bết lắm đại úy... Mình như con cọp bị thương...
Hoàng gật đầu im lìm nhìn ra ngoài trời. Nắng tháng tư úa vàng bệnh hoạn. Mây trắng đọng từng mảng nhỏ trên nền trời Biên Hòa. Anh tưởng tới Sa Huỳnh. Nếu mình thua là cộng quân sẽ tràn xuống Phan Thiết rồi Vũng Tàu. Anh không thể để cho Vũng Tàu bị giặc chiếm đóng. Sa Huỳnh thương yêu của anh sẽ chết dần, chết mòn trong ngục tù của cộng sản. Người ni cô hiền lành phải được sống tự do. Anh phải chận đứng làn sóng đỏ hung bạo để cho Sa Huỳnh an tâm tu hành dù có phải hy sinh mạng sống của mình.
Chiếc C130 từ từ ngừng lại. Hoàng là người đầu tiên nhảy xuống. Phan Rang. Không có mùi rong rêu và muối mặn trong gió biển mà chỉ có mùi khét của lửa, của thuốc súng, của thây người chết không được chôn cất. Không ai có thời giờ chôn cất cho người chết của cả hai bên. Họ mãi lo đào hầm hố cho sâu, cho chắc chắn để tránh pháo. Thứ vũ khí khốn kiếp và đốn mạt này bây giờ trở thành một ưu thế của kẻ địch, gây chết chóc và khó khăn cho Hoàng và đồng đội. Quân ta không có đại bác tương đương để phản pháo mà nếu có súng cũng không có đạn để bắn. Người lính chiến như Hoàng và đồng đội chiến đấu trong cô đơn chỉ biết đem thân xác để cản bước kẻ địch đông gấp mười hay hai chục lần.
Sau khi trình diện liên đoàn trưởng để nhận lệnh xong tiểu đoàn trưởng cho bộ chỉ huy tiểu đoàn và bốn đại đội di chuyển. Tiểu đoàn chia làm ba cánh. Thứ nhất là bộ chỉ huy tiểu đoàn và hai đại đội tới đóng ở đồn Đại Hàn nằm ngoài vòng đai phi trường về hướng bắc. Hai đại đội còn lại được lệnh án ngữ hai vị trí là Bà Tháp và Bà Râu. Hoàng và đại đội đóng ở Bà Râu.
Vừa vào vị trí lính hì hục đào hố. Cái lỗ tròn và sâu này được người lính nâng niu và tin tưởng vì nó chính là vật bảo vệ họ hữu hiệu nhất. Trung đội trưởng, đại đội trưởng cũng phải tự tay đào cái hố cho mình. Hoàng phụ với Há đào cái hố lớn đủ cho hai thầy trò ngồi. Vùng này ít mưa đất khô cằn và cứng như đá đào ê cả tay. Chiếc xuổng cùn bây giờ lại cùn thêm. Đưa tay áo lau mồ hôi trán Hoàng hỏi thượng sĩ Bảnh đang lom khom ở hố bên cạnh.
- Ông Bảnh... Mình có bao nhiêu M72?
- Tám khẩu ông thầy...
- Tám mà bắn cái gì... Tụi nó có cả ngàn T54...
- Tôi hỏi xin thêm thời tiểu đoàn bảo chỉ có bấy nhiêu thôi. Tôi gọi liên đoàn thời họ bảo chờ...
- Chờ... Mình ngủm mẹ rồi... Còn đạn?
- Lính có hai trăm viên và ba lựu đạn...
- Mẹ... Như thế mà đánh cái cứt gì...
Hoàng lầm bầm. Bảnh cười lắc đầu. Lần đầu tiên ông ta thấy Hoàng giận. Ông hiểu và thông cảm khi thấy cấp chỉ huy giận dữ. Địch có quân số đông gấp mười lần, tăng cả ngàn chiếc, có đại bác tầm xa tầm gần, có hỏa tiễn tầm nhiệt nổ sâu nổ chậm, súng không giật, thượng liên, đại liên phòng không. Địch có đủ, có hết trong khi đại đội lèo tèo mấy chục người, súng có đạn không, hỏa tiển chống tăng vài trái, không chiến xa, không đại bác, không phi cơ. Như thế mà đánh cái gì. Không chết vì pháo dập thời cũng bị tăng cán nát như tương. Nếu may mắn không bị tăng đè, tăng cán thời cũng banh thây vì lựu đạn hay AK 47 của bộ đội tùng thiết.
Đào hố xong Hoàng họp bốn trung đội trưởng lại.
- Nếu bị địch tràn ngập hay bị tan hàng bốn ông hãy rút ngược về hướng tây...
Bốn trung đội trưởng nhìn cấp chỉ huy với chút thắc mắc. Đốt điếu thuốc Hoàng từ từ giải thích.
- Địch tiến theo hướng từ bắc xuống nam hoặc từ tây sang đông cốt ý dồn ta ra biển. Chạy ra biển mà không có tàu rước là ta sẽ bị chúng bắt. Trong tình thế rối loạn này tôi nghĩ tàu hải quân không rước mình đâu. Vì vậy chạy ngược về hướng tây tuy nguy hiểm hơn nhưng nếu vượt qua được thời ta sẽ thoát khỏi sự tấn công và truy lùng của chúng...
Bốn trung đội trưởng nhận lệnh về lại trung đội. Hoàng nói với Trường và Bảnh.
- Nếu tôi có bề gì thời Trường dẫn anh em rút về hướng tây rồi sau đó mới tìm đường về Bà Rịa. Địch tập trung hết lực lượng vào vùng ven biển cho nên bỏ trống các căn cứ trong rừng sâu. Vì vậy ta sẽ không gặp nguy hiểm khi đi sâu vào mật khu của chúng...
Nghe giọng nói của Hoàng vang lên ngậm ngùi và nghẹn ngào Bảnh thở dài u uất. Lời của cấp chỉ huy như là trối trăn. Người lính chưa bao giờ biết lùi, chưa bao giờ biết run sợ trước họng súng của kẻ địch, hôm nay lại phải tính đường chạy, phải nói những lời trối trăn như biết mình sắp chết. Trường cũng vậy. Dù thượng cấp không nói ra anh cũng biết mặt trận Phan Rang sẽ vỡ, vỡ nát như quân khu 1, 2, Khánh Dương, Tuy Hòa... Anh và đồng đội cũng phải chạy vì không chạy là chết. Dù can đảm, thiện chiến và giàu lòng hy sinh người lính cũng chỉ là con người. Tới một lúc nào đó người lính chiến cũng phải nghĩ tới bản thân mình. Muốn sống. Huống chi muốn đánh nhau với địch họ phải có súng đạn và có thức ăn mà những thứ cần thiết đó đều thiết hụt trầm trọng. Họ bị bỏ rơi. Họ chiến đấu trong cô đơn và chết âm thầm không ai biết.
Chiều xuống chầm chậm. Ăn xong nửa bịch gạo sấy và miếng thịt ba lát Hoàng dựa lưng  nhìn trời.
- Mình rút hả đại úy?
Há hỏi. Nó ở gần ông thầy nên nghe và biết những lời Hoàng nói với bốn trung đội trưởng. Hít hơi thuốc dài Hoàng gật đầu xác nhận. Anh không muốn giấu diếm dù anh biết mình không nên cho lính biết vì khi biết tinh thần chiến đấu vốn đã lung lay sẽ bị lung lay nhiều hơn và ảnh hưởng tới sức chiến đấu của họ.
- Ừ... Ở lại đây cũng chết...
Ngừng lại hút thêm hơi thuốc Hoàng nói với giọng chậm và buồn.
- Mình không có đạn thời lấy gì đánh nhau với tụi nó. Lấy đá quăng nó bể đầu à...
Há cười sằng sặc vì lời pha trò của ông thầy. Đốt điếu thuốc hít hơi dài rồi ém hơi thật kỹ người lính mang máy truyền tin từ từ nhả khói ra. Giọng nói khàn đặc của Hoàng vang lên.
- Mày nhớ theo sát anh... Có gì mình sống chết có nhau...Thôi ngủ đi... Chừng nào tụi nó pháo hãy thức dậy...
Há gật đầu rưng rưng nước mắt. Hoàng cũng im lặng không nói nữa. Anh muốn có vài phút để suy nghĩ và mơ mộng. Tự dưng anh ứa nước mắt khi nhớ tới má của mình. Mấy hôm trước về Sài Gòn anh cũng chỉ về thăm nhà có một đêm. Hai má con thủ thỉ tâm tình. Hoàng kể cho má anh nghe về tình yêu của mình với Sa Huỳnh. Bà ước muốn được gặp nàng có lẽ vì tò mò muốn biết nàng đẹp như thế nào mà lại khiến cho đứa con hư của bà mê mệt. Sa Huỳnh. Đâu đó trong bóng tối thâm u, giữa trời đêm vàng vọt của ánh hỏa châu, trong tiếng nổ ì ầm của đại bác, khuôn mặt người ni cô lung linh nhạt mờ. Giọng nói ngọt ngào. Ánh mắt nhìn thăm thẳm. Tiếng gọi Hoàng ơi thiết tha và âu yếm. Hình bóng của Sa Huỳnh mong manh như tánh mạng của người lính chiến đang ở tuyến đầu lửa đạn. Mệt nhọc và mòn mỏi chờ đợi đưa người lính vào giấc ngủ chập chờn, thức giấc hai ba lần vì tiếng pháo rơi gần.
Hoàng thức giấc vì tiếng cười nói của lính. Mới đầu họ còn sợ không dám đùa giỡn la lối nhưng riết rồi đâm ra lì.
- Nó muốn đánh thời đánh... Mình có im cái miệng nó cũng đánh thời tội vạ gì không nói...
Giơ tay xem đồng hồ anh thấy 9 giờ rưởi. Ngày 14. Bum... Bum... Bum... Cộng quân cho lính của Hoàng ăn điểm tâm bằng hàng trăm trái đại bác 130. Bốn mươi lăm người lính như những con sâu cuộn mình trong hố, vật vả trong chuỗi âm thanh giết người. Đất cát rơi rào rào. Tiếng người la hét. Có tiếng thét đứt nghẹn của người chết cố la lên tiếng cuối cùng trước khi nhắm mắt. Pháo trút xuống như mưa. Pháo dập xuống như chày giả gạo. Bà Râu. Cái làng vô danh nhỏ bé bị chìm trong tiếng nổ và ngập trong lửa cháy. Pháo dứt. Lính vừa ngóc đầu lên đã thấy từ xa chiếc T54 lù lù tiến tới theo sau lố nhố nón cối. Hoàng bóp chặt ống liên hợp trong tay của mình. Quai hàm bạnh ra, miệng mím chặt người lính biệt động im lìm chờ đợi. Trong phút chốc anh quên mất chữ " rút chạy " mà chỉ nghĩ tới một điều.
- Bắn...
Thượng sĩ Bảnh bấm cò. Trái M72 xẹt thẳng vào pháo tháp của chiếc tăng. Ánh lửa nháng lên. Ầm... Khối sắt nặng nề nhảy dựng lên. M60. M16. M79 trực xạ. Lựu đạn nổ ầm ầm. Đạn AK47 rít trong không khí. Đại liên phòng không xói vào không gian, xé da thịt con người.
- Xung phong...
Hoàng nhào lên khỏi miệng hố. M16 mở auto. Vị đại đội trưởng gan lì quét hết một băng đạn vào đám nón cối đang ào tới. Trái M26 bung ra kèm theo tiếng nổ chát chúa. Từng phần thân thể bay lên không. Máu tạt vào mặt. Tay súng tay lựu đạn lính của đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 36 biệt động lăn xả vào địch đông như kiến. Trận xáp là cà diễn ra ác liệt. Ba mươi phút sau địch rút lui không thèm lấy xác đồng đội. Nhảy tọt vào hầm núp Hoàng hét lớn.
- Ông Bảnh...
Tiếng ông thượng sĩ thường vụ vang lên mệt nhọc song bình thản.
- Tôi còn đây ông thầy...
Giọng nói của Há sũng nước mắt.
- Đại úy... Ông Danh đi đứt rồi đại úy... Hầm của ổng lãnh nguyên trái 130...
Ứa nước mắt Hoàng cảm thấy miệng của mình đắng nghét. Anh nhớ tới người sĩ quan trẻ tuổi hiền từ, vui vẻ, độc thân được lính đặt cho cái tên ngộ nghĩnh. " Danh đàng hoàng ". Uống rượu thời uống chút chút mà nhậu nhẹt say sưa thời không. Hút thuốc cũng không. Chơi bời cũng không. Bởi vậy lính mới gọi là Danh đàng hoàng. Bây giờ Danh đã từ giã đồng đội, gia đình và bạn bè để rong chơi trong xứ vô cùng.
- Đại úy... Mình có năm chết và bảy bị thương... Mình cần thêm đạn... đại úy...
Hoàng thở dài. Đạn đâu mà có trong giờ phút này. Bum... Bum... Nghe tiếng départ của pháo địch Bảnh chữi thề.
- Đéo mẹ nó... Bắn gì mà bắn hoài...
Pháo lại dập xuống khiến cho lính vốn đã tả tơi lại thêm tơi tả. Người chết còn nằm đó chưa chôn bị trúng đạn chết thêm lần nữa. Há đưa cho Hoàng điếu thuốc Ruby quân tiếp vụ. Thong thả bật lửa rồi hít một hơi thật dài anh cảm thấy vị thuốc lá ngọt vô cùng và mùi thuốc lá thơm vô cùng.
- Anh uống cà phê cho tỉnh...
Há đưa cho Hoàng cái ly đựng cà phê. Hớp ngụm nhỏ Hoàng cảm thấy tuy cà phê nguội ngắt nhưng lại ngon vô cùng.
- Ông Bảnh qua đây uống cà phê...
Ông thượng sĩ thường vụ nhảy qua chiếc hố khá rộng nhưng lại biến thành chật vì có ba người. Hoàng đưa cho Bảnh ly cà phê. Nhấp một ngụm Bảnh chắt lưỡi đón lấy điếu thuốc của Há đưa cho. Đốt thuốc, hít hơi dài ém hơi ông ta lim dim mắt như muốn tận hưởng hương vị. Ba người lính  không phân biệt cấp bực và chức vụ ngồi cạnh nhau im lặng hưởng thụ giây phút bình yên ngắn ngủi.
Suốt ngày 14 địch thôi tấn công mà chỉ dập pháo. Nằm trong hầm núp được lính cho biết thấy quân xa địch chạy đầy trên quốc lộ 1 về hướng phi trường và tỉnh lỵ Hoàng gọi máy báo cáo cho tiểu đoàn. Mười lăm phút sau mấy chiếc gunship xuất hiện bắn phá một lúc rồi biến dạng. Lính lại báo xe tăng và quân xa vẫn chạy ào ào và mở đèn pha sáng rực. Hoàng ra lệnh cho lính không được nổ súng trừ trường hợp bị tấn công. Suốt đêm 14 rạng 15 địch gia tăng pháo kích. Lính biệt động nằm im chịu trận. Họ hoàn toàn bất lực vì không có cái gì để phản pháo. Hoàng nghe Bảnh càu nhàu và chửi thề.



Chương 16
Sáng 15. Trời nhiều mây trắng. Gió gai gai lạnh. Hoàng với Há và Bảnh cộng thêm Trường đứng dưới hầm núp lộ thiên im lặng uống cạn những giọt cà phê cuối cùng.
- Tụi nó có thể đánh mình tối nay. Nếu không thời ngày mai...
Nhìn Trường và Bảnh Hoàng nghiêm giọng.
- Hai ông nên nhớ là phải dẫn lính rút ngược về hướng tây...
Trường gật đầu làm thinh. Dù không muốn nhưng đại đội phải chạy. Không chạy là pháo dập nát thây. Đại liên bắn tan xác hay chết ngộp vì bị T54 đè. Chỉ mới ba ngày mà đại đội mẻ nhiều. Bảy chục giờ còn khoảng bốn mươi chưa kể trong số này có người bị thương. Tinh thần suy xụp, đạn chỉ có năm bảy chục viên, không LAW, không TOW thời làm sao cản được cả ngàn chiếc T54 và PT76. Ai ở trong hoàn cảnh này cũng phải chạy bởi vì đánh là chết. Ở lại là bị bắt.
Bum... Bum... Bum... Trường và Bảnh nhào về hố của mình khi nghe tiếng départ của pháo địch. Hàng trăm ngàn quả đại bác đủ loại trút xuống làng Bà Râu, dập xuống vị trí đóng quân của Hoàng. Tội nghiệp cho người lính. Họ trở thành một thân xác tê cứng vì kinh hoàng và sợ hãi tới độ chỉ còn biết bịt tai chặt để khỏi nghe thứ âm thanh khủng khiếp.
- Má ơi... Con chết má ơi...
- Bố ơi... Cứu con bố ơi...
- Chúa ơi...
- Phật ơi...
- Trời ơi... Chết tôi...
Những tiếng la tuyệt vọng. Tiếng gào. Tiếng hét đau đớn của người bị thương. Tất cả đều vỡ nát. Vỡ vụn. Vỡ tan tành trong chuỗi âm thanh giết người hung hãn và cuồng nộ. Tiếng pháo chưa dứt đèn pha sáng quắc quét từng đường dài cùng với đại liên gầm rống.
- Đéo mẹ...
Bảnh chỉ nói có hai tiếng rồi im bặt. Máy xe tăng rú từng hồi. Tiếng xích sắt khua rổn rảng. Hoàng nằm im. Lính cũng nằm im. Ló đầu lên là lãnh đạn, là đạn đại liên bắn vỡ sọ, bắn bể nắp nhạo. Trận địa mù mịt khói súng cộng thêm ban đêm khiến cho người ta chỉ thấy mờ mờ. Nằm dưới hố nghe đất rung rinh cùng với xích sắt khua thật gần Hoàng im lìm chờ đợi. Anh chờ tới giây phút quyết định. Chờ cho tăng của địch tới gần mới nhào lên. Với khoảng cách gần súng trên xe tăng không bắn được. Lúc đó anh sẽ đánh cận chiến với bộ đội theo sau thiết giáp để tìm đường chạy trốn. Bóp chặt ống liên hợp trong tay Hoàng đếm thầm từ một tới mười.
- Xung phong...
Hét thật lớn trong ống liên hợp để ra lệnh cho bốn trung đội xong Hoàng nhảy lên khỏi miệng hầm. Súng gắn lưỡi lê. Súng để tự động mấy chục người lính biệt động chạy vượt qua xe tăng rồi nhào vào đám bộ đội. Lựu đạn nổ ầm ầm. M60 khạc ra lửa. M16 nổ đùng đùng. Đụng phải đám lính liều mạng muốn mở đường máu để thoát thân bộ đội Bắc Việt dạt về hướng khác. Dường như chúng không muốn đánh nhau với những người lính đang nổi cơn điên.
11 giờ đêm. Hoàng ra lịnh dừng lại vì không một ai có thể lê bước được nữa.
- Ông Bảnh đâu rồi?
Không có tiếng trả lời. Giọng nói của Hoàng nghèn nghẹn.
- Có ai thấy ổng không?
Ngần ngừ giây lát Há mới lên tiếng trả lời.
- Tôi thấy ổng chạy sau lưng của tôi một hồi quay lại thời ổng mất tiêu... Chắc ổng bị lạc rồi...
Suy nghĩ giây lát Hoàng bảo lính kiếm chỗ ngủ. Quá mệt mỏi nên mọi người lăn ra ngủ không cần canh gác gì hết.
Mặt trời lên cao mọi người mới lục tục thức dậy. Kiểm điểm quân số Hoàng mới biết đại đội chỉ còn có hai mươi mốt người trong số đó có hai sĩ quan là Trường đại đội phó với Hưng, trung đội trưởng trung đội 4. Ăn gạo sấy nấu với nước lạnh xong Hoàng nói với Trường và Hưng.
- Chúng ta chia ra làm ba toán, mỗi toán bảy người trở lại tìm kiếm những người bị thương hay thất lạc...
Nhìn đồng hồ Hoàng nói tiếp.
- Tìm được anh em hay không tìm được hai ông cũng phải trở lại trước bốn giờ chiều... Nhớ tránh đụng với tụi nó...
Trường và Hưng gật đầu. Cho vàng họ cũng không bắn dù bộ đội có đứng đái trước mặt. Đạn đâu mà bắn. Hai mươi mốt người mà có mười khẩu M16 với một khẩu M60 và một dây đạn. Nhìn thấy Trường cầm khẩu M16 không có băng đạn Hoàng cười như mếu.
- Tôi có hai băng đây... Tôi chia cho ông một băng để phòng thân...
Cầm lấy băng đạn Trường thở dài.
- Cám ơn đại úy...
Hoàng cùng sáu người lính thất thểu trở lại đường cũ với hy vọng mong manh là tìm kiếm được vài đồng đội bị thất lạc hay bị thương. Tuy nhiên rừng núi bạt ngàn hơn nữa họ không dám đi quá xa thành ra không thấy ai. Ngay cả dấu vết cũng không có. Nhìn đồng hồ thấy gần hai giờ chiều Hoàng ra lịnh trở lại chỗ hẹn.
- Mình có gì ăn chiều nay đại úy?
Tín hỏi cấp chỉ huy của mình. Hoàng cười gượng.
- Có gì ăn nấy nhưng tao đoán chắc là gạo sấy với nước lạnh...
Tín nhăn mặt.
- Cái đó khó nuốt lắm đại úy ơi... Hay là ông thầy để tôi dẫn hai thằng em đi tìm thú rừng...
Hoàng gật đầu không do dự.
- Ừ... Em cẩn thận... Anh không muốn mất thêm mạng nào nữa...
- Ông thầy đừng lo...
Nhìn theo bóng của Tín và hai thằng em biến mất trong rừng cây Hoàng quay sang Há, thằng em mang máy.
- Mình liên lạc với tiểu đoàn được không?
Há cười như mếu.
- Máy hư rồi đại úy ơi...
Nó đưa cái máy 25 ra. Hoàng trợn mắt khi thấy vết đạn tròn vo rồi sau đó bật thành tiếng kêu.
- Mẹ... Không mang cái máy sau lưng là mày ngủm rồi...
Há cười hắc hắc hôn vào cái máy truyền tin.
- Bởi vậy tôi vẫn mang nó dù biết nó hư rồi. Tôi muốn để dành làm kỷ niệm...
Bính, xạ thủ đại liên cười đùa.
- Mày với ông thầy coi bộ có ông bà độ mạng. Ông thầy súng bắn vào ngực không chết còn mày thời súng bắn vào sau lưng lại sống nhăn răng...
Năng, tiểu đội phó tiểu đội 2 trung đội 1 xen vào.
- Mai mốt về Sài Gòn mình phải ăn mừng nghe ông thầy...
Hoàng gật đầu.
- Ừ... Chuyến này mà về tới phố là anh bao tụi bây một chầu nhậu linh đình... Ráng sống    mà về...
Bốn người lính vừa đi vừa nói chuyện trong lúc Hoàng im lặng suy nghĩ. Dù lo âu nhưng anh không muốn nói ra cho lính biết sợ họ nản lòng. Không có máy truyền tin liên lạc với tiểu đoàn hoặc liên đoàn hay các đơn vị bạn để nhờ họ cho trực thăng đón, anh và lính chỉ có nước lội bộ. Mà lội về đâu. Phan Rang. Cà Ná. Phan Rí. Phan Thiết. Giờ chắc đã bị địch chiếm rồi. Mò về đó lạng quạng thế nào cũng bị tóm cổ. Tuy nhiên băng rừng về Bà Rịa hay Vũng Tàu thời anh với lính không có sức để lội một quãng đường rừng hai trăm cây số. Hoàng nhớ lại lần rút lui của mình ở Quảng Ngải. Lần đó anh chạy về hướng nam mới trốn thoát được. Tuy nhiên lần này anh phải chạy ngược lại tức là chạy về hướng bắc. Đi về hướng bắc nếu có đụng chỉ đụng với bộ đội không chiến đấu do đó anh có hy vọng trốn thoát nhiều hơn. Địa điểm gần nhất mà anh muốn tới là Ba Ngòi hay Cam Lâm hoặc Vườn Dừa. Từ các nơi đó anh mới có thể tìm ra ghe để về Sài Gòn.
Lính mừng rỡ khi thấy Tín vác con nai trên lưng. Riêng Hoàng bắt tay Bảnh thật chặt. Hơn ai hết anh vui mừng gặp lại ông thượng sĩ thường vụ của đại đội. Anh cần một người lính tháo vát và nhiều kinh nghiệm như Bảnh trong lúc này. Ông thượng sĩ kể cho Hoàng, Trường và Hưng nghe chuyện mình đi lạc rồi may mắn gặp Tín trong lúc săn nai. Mỗi người lãnh phần ăn với gạo xấy và thịt nai nướng chấm với muối ớt. Ăn xong Hoàng bàn với Trường, Hưng và Bảnh.
- Mình không thể về Phan Rang, Phan Rí hay Phan Thiết được...
Trường gật đầu.
- Đại úy nói đúng. Giờ này mà mò về mấy chỗ đó là bị tụi nó tóm cổ liền...
Hít hơi thuốc Bastos Hoàng nói tiếp.
- Mình cũng không thể băng rừng để về Vũng Tàu hoặc Bà Rịa vì xa quá. Từ đây về đó xa gần hai trăm cây số...
Bảnh lên tiếng.
- Mình lội không nổi đâu ông thầy. Vả lại khi mình lội tới Vũng Tàu hay Bà Rịa là mấy thằng bộ đội nó cũng có mặt rồi...
- Vậy mình đi đâu đại úy?
Hưng hỏi nhanh.
- Tôi tính dùng đường biển về Sài Gòn. Muốn có ghe ta phải ra bờ biển...
Bảnh nhìn vị đại đội trưởng của mình giây lát đoạn hỏi nhỏ.
- Ông thầy biết mình đang ở đâu không?
Hoàng giở ba lô lấy ra tấm bản đồi rồi trải lên mặt đất.
- Đêm hôm qua mình đang ở Bà Râu. Nếu mình chạy ngược về hướng tây thời tôi đoán mình đang ở trong vùng Núi Đá Mài...
Trường gật đầu làm thinh ngẫm nghĩ hồi lâu mới cất giọng khàn khàn.
- Tụi nó tràn về Phan Rang cho nên sẽ bỏ trống các vùng lân cận như Du Long, Bà Râu và Bà Tháp. Vả lại nếu chúng chiếm đóng thời cũng chỉ là đám lính hậu cần đi theo để tiếp thu. Có đụng mình cũng không ngại lắm...
Đang ngồi dựa lưng vào gốc cây ăn cơm, nghe cấp chỉ huy của mình bàn luận Tín chợt lên tiếng.
- Đại úy... Thằng Tửng ở tiểu đội của tôi quê ở Rừng Phong. Nó rành vùng này lắm... Đại úy hỏi nó may ra...
Nghe Tín nói Hoàng mừng như bắt được vàng.
- Nó đâu rồi?
- Nó ngồi đàng kia... Để tôi kêu nó... Ê Tửng... Đại úy muốn gặp mày...
Tửng là binh nhì, còn trẻ chừng mười tám, mười chín tuổi. Nó đăng vào biệt động chỉ vì lý do là khoái mặc bộ đồ rằn ri và đội bê rê nâu.
- Dạ... Đại úy gọi em...
Tửng rụt rè lên tiếng. Hoàng cười nhẹ.
- Ừ... Anh nhờ em chỉ đường ra biển. Muốn về Sài Gòn mình phải dùng ghe chứ lội bộ không thấu...
Tửng nhăn răng cười.
- Mình kiếm đường về Sài Gòn để oánh nữa phải không đại úy. Mẹ... Thua trận này em tức lắm... Phải oánh cho chết mẹ mấy thằng bộ đội...
Hoàng vỗ vai người lính trẻ.
- Ừ... Mình phải về Sài Gòn để oánh nữa. Em chỉ cho anh đường nào ra biển để mình kiếm ghe...
Tửng cười hì hì khi nhìn thấy tấm bản đồ.
- Đại úy coi bản đồ làm chi cho mệt... Nhìn mấy con số, hình vẽ đó nhức đầu lắm. Em dẫn đại úy đi đường tắt ra Vĩnh Hy... Ở chỗ đó có xóm chài lưới...
Hoàng muốn ôm lấy Tửng để cám ơn nhưng anh dằn lòng rút gói thuốc ra mời người lính binh nhì. Giờ này nó là cứu tinh, là anh hùng của đại đội.
- Mình ngáo đêm nay cho khỏe đi đại úy rồi sáng mai mình đi cái vù là tới Vĩnh Hy liền...
Tin tưởng vào lời nói của Tửng Hoàng bảo Bảnh cho lính bố trí phòng thủ ban đêm và chia phiên canh gác. Sáng mai hai mươi mấy người còn lại của đại đội sẽ tìm đường ra biển.
Trời chập choạng tối. Chim về tổ kêu quang quác. Tiếng côn trùng rĩ rã. Gió rung cây rừng làm thành âm thanh ào ào liên miên hoài hủy. Sương mù giăng giăng. Khí núi lạnh tanh. Cuộn mình trong chiếc poncho Hoàng bỗng thấy nhớ Sa Huỳnh lạ lùng. Nhớ quay quắt. Đòi đoạn. Nhớ điên cả người. Mấy hôm nay lo vật lộn với sự sống chết nên anh không có thời giờ nghỉ ngợi và nhớ Sa Huỳnh. Bây giờ đêm hoang vu và lạnh vắng anh để mặc cho tâm tư mình trôi về Vũng Tàu. Thành phố đẹp và thơ mộng. Bãi cát vàng ươm chạy dài. Nước biển xanh một màu xanh. Dân cư hiền hòa và dễ thương. Nhưng dễ thương nhất là hình ảnh của một ni cô.
- Sa Huỳnh ơi...
Trong giờ phút buồn nản, cô đơn và hầu như còn rất ít hy vọng Hoàng luôn gọi tên người ni cô như cầu xin một chở che, phù hộ và giúp đỡ. Nằm co ro vì lạnh Hoàng hồi tưởng lại lần đầu tiên mình đặt chân lên ngôi chùa nhỏ. Tất cả mọi điều xảy ra sau này bắt đầu từ hành động đó. Nếu không gặp Sa Huỳnh ngày hôm đó có lẽ anh không nằm đây. Tất cả chỉ là sự tình cờ, sự đẩy đưa không báo trước, chữ duyên hay là định mệnh? Không có câu trả lời thỏa đáng.
Sáu giờ sáng. Sương mù dày đặc. Khí rừng bốc ra lạnh căm. Lính thức dậy ăn uống thật no xong Hoàng ra lệnh lên đường. Hai mươi hai người chia làm hai toán đi cách nhau không xa lắm vì sợ bị lạc. Càng gần tới Bà Râu họ càng thêm thân trọng và đi chậm lại. Dấu chiến trận còn đầy với vết xe tăng, hầm hố của đại bác nổ và xác người chết. Có xác cụt đầu. Có xác mất tay. Có xác đứt nửa người. Có xác chết nằm ngửa, nằm xấp, dựa vào gốc cây. Mùi máu bốc lên thum thủm.
Há bịt mũi.
- Thúi quá...
Tửng làm khinh binh đi đầu vì thuộc đường. Nó dẫn đại đội đi theo đường mòn, xuyên qua hẻm núi, lội qua hai con rạch lớn, luồn qua rừng cây rậm rạp và lắm lúc chui qua các hang đá. Khoảng hơn một giờ đại đội dừng lại khi gặp đường rầy xe lửa. Sau khi vượt qua đường rầy xe lửa, đi một đoạn họ lại thấy quốc lộ 1. Con đường vắng tanh. Mấy chiếc quân xa bị cháy xám đen. Thây người chết nằm rải rác. Hầm hố vỡ tung. Vỏ đạn vương vải khắp nơi.
- Sao không thấy thằng bộ đội nào hết trơn vậy tía?
Há thì thầm hỏi Bảnh.
- Chắc tụi nó kéo về Phan Rang ăn mừng chiến thắng rồi...
Khoảng bốn giờ chiều Tửng dừng lại bên cạnh bờ sông nhỏ đầy nước. Đứng trên bờ nó nói với Hoàng.
- Đại úy... Đây là sông Bóng Nho... Mình còn cách Vĩnh Huy chừng ngày đường...
Chỉ tay vào ngọn núi không cao lắm ở trước mặt chừng cây số nó nói tiếp.
- Đó là núi Chùa. Sau khi qua khỏi núi Chùa mình theo con đường mòn tới núi Bà Đương rồi lội qua sông Nước Ngọt mới tới Vĩnh Hy...
Vì đã xem bản đồ trước cho Hoàng biết Tửng đi đúng đường. Anh ra lệnh cho lính dừng lại nghỉ đêm. Mỗi người được lãnh bữa cơm là một phần tư bịch gạo sấy và một miếng thịt nai nướng lớn bằng hai ngón tay. Ăn xong Bảnh khui gói Bastos quân tiếp vụ chia cho lính. Há nói nhỏ vào tai người đại đội trưởng của mình.
- Ông thầy để dành điếu Bastos đi. Em có cái này sang hơn...
Nó lục trong ba lô lấy ra hai điếu thuốc được gói cẩn thận bằng mấy lớp ny lông. Đưa cho Hoàng một điếu nó cười cười.
- Ông thầy thử đi...
Đưa lên mũi ngửi rồi nhìn chăm chú điếu thuốc giây lát Hoàng trợn mắt.
- Lucky... Mày giỏi thật...
- Tôi để dành lâu lắm rồi... Giờ mới đem ra hút biết đâu mình lại có may mắn thoát được về Sài Gòn...
Hoàng cười nhẹ khi nghe thằng lính bán trời không mời thiên lôi của mình lại mê tín dị đoan. Tuy nhiên anh cũng vuốt đuôi theo.
- Ừ... Hút Lucky biết đâu mình lại có may mắn...
Ngồi dựa vào tảng đá Hoàng lim dim mắt thưởng thức hương vị nồng thơm của điếu thuốc. Anh mỉm cười khi nghĩ nếu mình đem chuyện này ra kể cho Sa Huỳnh nghe chắc ni cô sẽ cười khi biết anh lại dị đoan tin vào những chuyện hoang đường. Có lẽ ở vào tình trạng bi đát và khốn cùng nhất con người lại tin vào phép lạ hay may mắn. Lội nguyên cả  ngày mệt đừ Hoàng vừa nằm xuống là chìm vào giấc ngủ. Nửa đêm anh chợt giật mình thức dậy khi nghe tiếng động ì ầm xa xa về hướng tây.
Bảnh thì thầm vào tai người đại đội trưởng của mình.
- Dường như tiếng xe chạy... Tôi bảo thằng Tín đi xem coi có chuyện gì...
- Mấy giờ rồi?
- Năm giờ sáng... Ông thầy làm hớp cà phê cho tỉnh...
Bảnh ấn vào tay Hoàng ly cà phê còn ấm. Hớp một ngụm xong đưa ly cà phê lại cho Bảnh vị đại đội trưởng nói nhỏ.
- Ông đánh thức anh em dậy sửa soạn rồi mình đi...
Lát sau Tín trở lại cùng với Tửng.
- Xe nhà binh đông lắm đại úy... Có cả mấy trăm chiếc...
Hoàng nhìn Bảnh. Hai người lính già dặn kinh nghiệm biết là địch đã di chuyển đại quân vào nam để tấn công Sài Gòn. Tửng xen vào.
- Tôi thấy có T54 của tụi nó nữa đại úy... Tôi định bắn mà anh Tín không cho...
Hoàng cười lắc đầu.
- Thôi bắn làm gì... Em có bắn cháy một chiếc cũng không cản được...
Quay sang Trường Hoàng tiếp.
- Anh em xong chưa mình đi...
Đứng bên bờ sông Bóng Nho bề ngang chừng mười thước Tín hít hà.
- Chà... Mới sáng sớm mà mình được tắm sông chắc đả lắm nghe đại úy...
Hoàng cười lội xuống trước nhất. Nước lạnh làm anh rùng mình nổi gai ốc. Con rạch không sâu lắm. Chỗ nào sâu nhất nước cũng chỉ tới ngực cho nên lính lội cái ào là tới bờ bên kia. Đoàn người lầm lủi đi trong bóng tối mờ mờ. Gió lành lạnh. Mặt trời ưng ửng đỏ nơi hướng đông. Hai ngọn núi Ông Thọ và núi Bà Đương  mờ mờ nhô lên trong buổi bình minh. Đoàn người đi lọt vào con đường mòn xuyên qua hai đỉnh núi. Cây cỏ rất ít. Rừng cũng không rậm và không có nhiều cây cao. Đồi thấp thoai thoải với những đụn cát chạy dài. Hoàng biết mình ra gần tới biển vì đất dưới chân có pha lẫn cát. Tửng quẹo trái vào một con đường mòn khá rộng. Nắng le lói khiến cho Hoàng thấy rõ cảnh vật tiêu điều và hoang vắng.
- Mình còn cách Vĩnh Hy không xa... Chắc đứng bóng là mình tới...
Nếu Hoàng không lên tiếng nhắc chắc lính đã reo hò khi biết sắp tới bãi biển. Mọi người đi như chạy. Khoảng mười một giờ sáng họ nghe tiếng sóng vỗ ì ầm rồi lát sau xóm nhà lá hiện ra. Gọi là xóm song chỉ có khoảng mươi căn nhà lụp xụp cất dọc theo bờ sông.
- Đại úy để tôi vào trước thử coi...
Tửng lên tiếng và Tín nói liền theo.
- Để tôi đi với nó nghe đại úy...
Hoàng gật đầu. Khi hai người lính khuất dạng Hoàng khều Bảnh và láy mắt ra hiệu. Hiểu ý ông thượng sĩ ngoắc Tấn và mấy người lính. Cả bọn biến mất sau mấy mô cát cao. Lát sau Tấn trở lại.
- Đại úy... Tía bảo tôi trở lại báo cho đại úy biết là có ghe rồi...
Toán lính mừng rỡ đi thật nhanh. Tới nơi Hoàng thấy Bảnh đang cười nói với một ông già mặc bộ bà bà đen.
- Đây là ông đại úy của tôi...
Ông già chấp tay xá Hoàng và anh cũng chấp tay xá lại.
- Mấy ông lính cộng hòa đi lẹ đi... Ở đây lâu không được đâu...
Một bà lão từ trong nhà bước ra nói lớn.
- Thì ông cũng để cho anh em ăn cái đã. Tội nghiệp mấy con... Hai hôm trước tui thấy tụi nó dẫn đi mười mấy người lính mặc đồ như mấy con... Thôi mấy con đi bình an... Con Nhẫn của tôi đang chờ dưới ghe...
Hai mươi hai người lính ngồi chật trên chiếc ghe đánh cá đang xuôi dòng sông ra biển. Hoàng thở dài. Không biết anh thở dài vì buồn hay vì vui.



Chương 17
Hoàng ngừng nói. Căn phòng khách thật im lặng. Nguyễn nghe được tiếng gió hú ngoài sân và tiếng lửa trong lò sưởi nổ tí tách. Lát sau Hoàng từ từ kể tiếp. Giọng nói của anh nghe buồn buồn.
- Ghe đánh cá ghé vào Vũng Tàu. Tôi lại gặp Sa Huỳnh. Tuy nhiên chúng tôi không có nhiều thời giờ với nhau vì tình hình càng ngày càng trở nên nguy kịch. Tôi được lệnh kéo đại đội về Sài Gòn. Lần nữa chúng tôi phải chia lìa, cách xa và có thể không bao giờ gặp lại. Đại đội hai mươi mấy người của tôi đụng địch mấy lần trên đường trở về Sài Gòn. Dù không sợ chết, dù lính bắn tới lúc hết đạn, tôi và đại đội cũng không thể cản được địch. Từ Bà Rịa tôi cùng đại đội chạy bộ về Long Thành, Nhơn Trạch và Thành Thủy Hạ. Một cuộc cận chiến diễn ra ác liệt đã làm tôi bị mù mắt. Những người lính may mắn không bị thương đã dìu tôi và đồng đội bị thương vượt qua sông Sài Gòn về Cát Lái. Rồi biến cố ngày 30- 4 xảy ra. Không còn cách nào hơn binh sĩ dưới quyền dẫn tôi xuống tàu ra biển...
Hoàng ngừng kể. Không khí im lặng trừ tiếng lửa cháy trong lò sưởi và tiếng thở của bé Tâm Ấn. Uống ngụm bia Hoàng nói nhỏ.
        - Sông Thu... Em hãy kể cho anh Nguyễn nghe tiếp đoạn cuối chuyện tình của anh với ni cô Sa Huỳnh...
Hoàng hôn nhẹ vào má của vợ như thúc hối. Sông Thu ngồi dậy. Giọng nói thánh thót của nàng hòa lẫn trong tiếng gió hú ngoài sân.
- Sau khi chia tay với Hoàng ở Vũng Tàu Sa Huỳnh sống những ngày dật dờ mộng tưởng. Nàng lười ăn biếng ngủ, quên giờ tụng kinh, đốt nhang lễ Phật. Ngày ngày nàng leo lên tượng Thích Ca Phật Đài ngó mong  con đường dẫn về Long Thành, mõi mắt hoài trông một người đã đi bạt ngàn xa. Nàng gọi tên người đó. Nàng khóc âm thầm, lặng lẻ. Ni cô Sa Huỳnh bây giờ chỉ là người, thật người, khổ đau vì tình. Bây giờ nàng mới thấm thía hai chữ tình nghiệt mà sư cụ cố gắng giải thích cho nàng nghe. Than ôi... Chậm mất rồi. Muộn quá rồi. Người lính chiến tên Hoàng đã trở thành một thực thể, một hiện hữu không thể bôi xóa. Rồi nàng phải làm sao, phải làm gì khi đời sống tu hành của nàng bị xáo trộn. Khi mà câu kinh tiếng kệ không còn đủ sức mạnh để lấn át tiếng cười, giọng nói của Hoàng.
Sáng ngày ba mươi tháng tư năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Sa Huỳnh nhớ không bao giờ quên. Ngày thành phố Vũng Tàu bắt đầu thấp thoáng bóng những người lính xa lạ, lạnh lùng và vô tình cảm. Sa Huỳnh biết mình phải ra đi vì không thể sống với những người mà nàng sợ hãi. Nàng lặng lẻ dìu sư cụ xuống bãi biển. Thương hại kẻ tu hành người chủ thuyền cho nàng và sư cụ một chỗ trong góc. Trời nước mênh mông. Sa Huỳnh gọi thầm trong trí não tên Hoàng. Nước mắt của nàng nhỏ xuống lòng đại dương đen thẳm. Nàng biết sẽ không bao giờ gặp lại Hoàng.
Tạm trú ở đảo Guam Sa Huỳnh không biết làm gì hơn cho qua ngày tháng trống rổng là tham gia phái đoàn Phật giáo đi ủy lạo đồng bào tị nạn. Một bữa tới thăm khu quân nhân và gia đình của họ nàng lịm người đi vì hình ảnh của một người. Đơn độc. Bơ vơ. Ngác ngơ. Hốc hác. Hoàng của nàng ngồi đó...
- Hoàng...
Tiếng kêu tắt nghẹn. Người lính biệt động quân ngơ ngác. Đôi mắt nồng nàn tình tự yêu thương không còn nữa..
- Xin lỗi ai gọi tên tôi...
Sa Huỳnh bật khóc.
- Hoàng...  Hoàng... Tôi là Sa Huỳnh... Ni cô Sa Huỳnh...
Giọng người lính chiến nghèn nghẹn.
- Thưa ni cô vẫn mạnh...
Hoàng đưa tay ra. Sa Huỳnh nắm lấy bàn tay chai cứng đặt lên mặt mình. Hai dòng nước mắt từ từ ứa ra trên khuôn mặt gầy gò và hốc hác của người lính tật nguyền.
Từ đó mỗi ngày. Sáng. Trưa. Chiều. Tối. Sa Huỳnh tới lui thăm viếng và chăm sóc cho người lính chiến tật nguyền. Nàng lo cho Hoàng từng bữa cơm, giặt giủ quần áo, dìu Hoàng ra bãi biển ngồi ôn lại chuyện cũ. Rồi một hôm Sa Huỳnh được tin nàng có tên trong danh sách chuyến bay sang Mỹ. Tâm hồn nàng ngổn ngang. Đầu óc nàng rối rắm. Rồi Hoàng sẽ ra sao. Hoàng sẽ làm gì với đôi mắt đã mù. Còn ai lo cho Hoàng miếng ăn. Còn ai lo cho Hoàng manh áo. Rồi ai sẽ dắt dìu Hoàng vào đời sống lạ xa nơi đất khách quê người. Nàng không thể nào thanh thản, bình yên để tu hành khi nghĩ tới hoàn cảnh của người mà mình yêu thương. Nàng đi tu là để làm vơi nỗi khổ đau của chúng sinh. Hiện giờ, ngay tại đây, có một người đang khổ sở và rất cần sự giúp đỡ của nàng. Hoàng đã từng hy sinh mạng sống che chở, giúp đỡ cho nàng. Bây giờ chính là lúc nàng phải hy sinh để đền đáp. Sa Huỳnh suy nghĩ, cân nhắc, so đo và sau cùng đi tới một quyết định. Ni cô Sa Huỳnh cởi bỏ áo tu hành để thành Hồ Thị Sông Thu...
Nguyễn thở dài không phải vì buồn mà vì nhẹ nhỏm và vui mừng. Sông Thu nhìn chồng mỉm cười. Nụ cười của nàng tắm đẵm hạnh phúc. Thứ hạnh phúc hình thành từ tình yêu chân thật nhất. Lửa tàn dần. Hình ảnh của người ni cô nhạt mờ lung linh.
Ba hôm sau Nguyễn từ giã Hoàng với Sông Thu. Anh cảm thấy lòng thanh thản vì biết dù hai mắt bị mù Hoàng đã có một kẻ đồng hành lý tưởng cho quãng đời còn lại của mình.
 
Mùa thu 1990
Chu Sa Lan







Số Lần Chấm:  
14

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,066
Nguồn: Diễn Đàn Đặc Trưng
Đăng bởi: Ngô Đồng (1/9/2010)
Người gửi: chu sa lan