Truyện  

Diệu Thủ Dương Cầm

Bell, Robert

THE VIRTUOSO PIANIST
Robert Bell
Robert H. Bell, giáo sư Associate Professor of English trường Wiliams College.
Bài này được đăng trên The Berkshire Review và Havard Magazine


Diệu thủ dương cầm

Bản dịch của Lan Huệ
Mến tặng những ai đồng cảnh ngộ.


Tất cả những gì tôi biết về bà Hastings cũng chỉ do người ta nói trong một bửa tiệc: " Bà Hastings đúng là người thích hợp để dạy piano vỡ lòng. Bà ấy có kiểu dạy đặc biệt, nhưng bà sẽ dạy anh được đấy"
Do đó tôi tìm gặp bà Hastings. Tôi gải thích với bà tôi là giáo sư Văn ở trường Williams và tôi đang nghĩ dưởng sức ở Northampton vì nhà tôi dạy đang dạy Văn ở trường Smith.
"Tôi mới bắt đầu học vài tháng thôi," tôi nói, "và tôi hy vọng sẽ có chút tiến bộ trong năm nay. Người ta khuyên tôi nên học với bà."
"Tôi có cách riêng của tôi," bà xác nhận, "và tôi đã thành công suốt bốn mươi năm nay."

Tôi về nhà, hơi thở ngắn vì kích động và tôi tả cho nhà tôi nghe. "Ilona, cô ấy thật tuyệt vời. Cô ấy là dân quý tộc Virginia lạc loài tới đây--người cô ấy tỏa ra một vẻ tự tại quý phái làm sao."

Tuần đầu tiên Bà Hastings xem sơ qua về kỷ thuật của tôi và những bản Bach tôi đã học năm trước: " Tôi không biết cô giáo trước đây dạy ông như thế nào." Khi nói về cô giáo cũ của tôi, Bà Hastings luôn luôn dè dặt, mơ hồ như thể không muốn nêu tên một người chị họ thiếu uy tín. " Có thể nói, ta không thể nào nuốt trọng nguyên trái táo một lần được."

Do đó một lần nửa tôi lại trở thành một chú bé. Bà Hastings giao cho tôi mấy bản nhạc " Going to the Circus", "Skipping Rope" và bài tập cổ điển chạy scale trong cuốn sách kinh điển The Virtuoso Pianist của Hanon. Trong lời mở đầu Hanon viết: "Hiện nay, môn dương cầm đã quá phổ thông, và có rất nhiều nghệ sĩ chơi dương cầm xuất sắc nên không thể nào chấp nhận được lối chơi tầm thường. Hậu quả là thường thường học sinh phải học tám tới mười năm trước khi có thể biểu diễn.....ngay cả biểu diễn cho hạng khán giả tài tử "


Trong ba tuần, tôi đã học tới bài " The Happy Fisherman. Bà Hastings ra lệnh: " Ông học thuộc lòng bài này để chơi trong buổi tiệc nhé?"
"Tiệc gì?" tôi hỏi lại bà, bụng tôi chợt thắt lại.
"Chúng ta họp mặt bốn lần trong năm và tất cả mọi người đều trình diễn."
"Trời đất ơi, không được đâu cô, tôi chưa bao giờ trình diễn cho ai coi hết."
"Nhằm nhè gì ba cái lẻ tẻ này," bà Hastings nói, giọng nói kiểu dùng đối đáp lại với tụi trẽ con ương ngạnh." Ông còn một tháng để học thuộc bài này. Và để cắt tóc."

Tuần sau đó tôi gặp chú nhóc tám tuổi Timmy McGrew khi chú sắp sửa xong buổi học với cô Hastings..
" Sao, khoẻ không, ngon lành không Timmy?" tôi chào nó.
"Dạ, ngon lành"
"Ai nói là con ngon lành vậy?" bà Hastings sửa lại.
"Hả? Cô nói chi?" thằng Timmy cà lăm, nó bối rối vì lới nói sẳng của bà Hasting
"Ai nói con ngon lành ? Cô thấy là con không được chút nào."
"Con chỉ nói là con khỏe thôi mà." Timmy lập bập.
"Con có biết cô nghĩ gì về bửa học hôm nay không? Cô nghĩ là con học tệ lắm.! Nếu tuần tới con cũng trả bài tệ như hôm nay, cô sẽ giận vô cùng ."
Tôi thấy bà có vẻ khá tức giận rồi. Nều không có con Scottish terrier quái quỷ của bà đang nắm ngủ trên thàm, tôi có thể đã kết luận rằng bà thiếu lòng thương cảm với sự thất bại. Nhưng mối nghi ngại tiềm ẩn đó đã nhanh chóng nhường bước cho một kết luận cụ thể: lẽ ra tôi phải dành nhiều thì giớ hơn để tập cho nhuyển dòng nhạc cuối của bài " The Happy Fisherman."
Vài phút sau, Timmy dám cả gan bất đồng ý với bà Hastings về một nốt nhạc rắc rối trên khóa bass
"Timmy, lần nào con cũng đành sai nốt này. Nào đánh lại đi, nốt D-sharp."
"Đó là nốt F-sharp, thưa Cô.". Mắt bà Hasting bị cườm khá nặng.
"Timmy, sao con nói ngược ngạo vậy? Đây là nốt D hay là nốt F, nói lại cô nghe coi? "
Khi mẹ Timmy đến rước chú, bà bị nghe nghe một bài diễn văn từ bà Hastings. " Chị cưng chiều nó qúa. Ba nó cũng cưng chiều nó quá. Cần phải khép cháu vào vòng kỷ luật."
Bà nhấn mạnh vào chữ "kỷ luật" ý muốn nói rằng phụ huynh phải bắt đầu bằng roi vọt và nếu cần phải còn phải cứng rắn hơn nửa. Timmy và tôi cùng nhau chia sẻ một phút giây thông cảm không lời, chúng tôi đều là nạn nhân bất hạnh của sự áp bức. Mẹ Timmy xin lổi vì đã dung dưỡng Timmy và hứa là tuần sau Timmy sẽ khá hơn, nếu không, bà Hastings sẽ biết lý do.

"Chết rồi," tôi nói đùa khi họ đả ra về, " tôi hy vọng là bửa nay tôi trả bài không tệ lắm. Heh, heh, heh." Giọng cười của tôi có vẻ thiếu tự nhiên.
"Tôi không nghiêm hay sao? tôi nói với ông rồi, tôi có kiểu dạy của tôi."
"Da thưa Cô có ạ. Cô nghiêm lắm ạ."
"Tôi không có quan hệ gì với mấy người giáo viên thời nay. Họ để mặc cho tụi con nít muốn làm gì thì làm. Giờ đây ai cũng thấy như vậy là không tốt. Kiểu dạy quá sức là xưa của tôi bây giờ lại trở nên hợp thời."
"Vâng, tôi hiểu," tôi thấy mình chợt nói. " Bây giờ tụi nhỏ không đọc được hay viết được tiếng Anh nửa đấy. Tôi bắt chúng học thuộc lòng mấy bài thơ, vậy mà tuị nó cũng rên xiết ỷ ôi ."
"Nhưng chúng phải làm như thế," bà khẳng định. " Đó là cách duy nhất uốn nắn chúng theo kỷ luật. Bửa nay bài đầu tiên là bài nào vậy?"

Chắng mấy chốc tôi sẽ phải biểu diển bài " The Happy Fisherman" trong buổi recital mùa thu của Bà Hastings. Tôi tốn hàng giờ cố học thuộc lòng bản nhạc phức tạp này cho giây phút trên sân khấu của tôi; dợt tới dợt lui đến lần thứ mấy trăm tôi cũng " hành xử" được bài này không bị vấp lỗi náo. ( Như Groucho Marx có thể đã nói: "Ach then I really killed it.")

Có bảy người sẽ đàn dương cầm ở buổi recital--bốn đứa trẻ thiều kỷ luât và ba người lớn cần thuốc an thần. Thiếu kỷ luật không làm tụi trẻ con lo lắng gì cả. Tụi nó ngọ ngoạy, cười khúc khích và tra tấn nhau một cách vui vẻ, không có dấu hiệu nào cho thấy chúng lo lắng về việc phải chơi đàn trước đám đông.

Ngươì lớn đầu tiên trình diễn là Dr. Rand. Lúc đầu, ông chơi theo trí nhớ, nén một lời ta thán, ngừng chơi đột ngột, quơ quạng mò tìm bản nhạc, và cuối cùng cũng đàn xong một bài "Prelude" tuyệt vời của Chopin. Ba Hastings giải thích là Dr. Rand không đủ thời gian để học thuôc lòng trọn bản nhạc. Trong khi đó, những người lớn khác như Cissy Caffrey và tôi, ngồi đợi tới phiên mình như thể đang trong trạng thái chấn thương lâm sàng. Tuy nhiên Cissy bằng cách nào đó cũng vượt qua nổi khó khăn, trình diễn được một bản fugue của Bach một cách đơn điệu, không lấy gì xuất sắc.

Rồi tới phiên tôi. Như thường lệ, khi nào hốt hoảng tôi lại diễn xuất một cách khá tồi tệ. Tôi sải bước tới chiếc dương cầm giống như Gary Cooper lúc đang ở cao điểm của phim "High Noon". Tôi ngồi vào ghế, bắt chước dáng điệu hào hoa của Van Cliburn ở Moscow Music Festival. Không may cho tôi, tôi không biết bắt đầu ở chỗ nào. Tôi có cảm giác như thể ai đã bỏ tôi trên sa mạc sao Hỏa và tôi phải tự tìm lấy đường về.

Bà Hastings nhắc một cách chắc nịch: " A dưới Middle C."
Tôi gỏ vào một phím đàn.
"A dưới Middle C."
Tôi lại gỏ sai một lần nửa. Không những phím A dưới Middle C tự nhiên biến đi đâu mất tiêu một cách bí hiểm, mà tôi cũng không thể nào tìm thấy phím Middle C. Tôi dư biết nó phải ở một nơi nào đó ở chính giửa dàn phím. Bà Hastings lại nhắc thêm nửa, lần này kỷ lưởng hơn, chi tiết hơn: " Ở ngay đó đó, ngay dưới ngón thứ ba của ông đó....Không...ngón thứ ba, tay trái. Đấy, đúng rồi đấy."

Mặc dù tôi có cảm giác mình đeo đôi găng tay baseball, một cách nào đó tôi cũng vất vả đánh ra được một bản sao của bài "The Happy Fisherman." Nhưng với nhịp điệu của tôi, bản này lại giống như là bản " Hành Khúc Tang Lể của Chopin viết cho Người Ngư Phủ Hạnh Phúc."

Năm phút sau, bà Hastings tuyên bố, một lần nửa bài " The Happy Fishherman" sẽ được biểu diễn bởi chú bé Cecil Harper, bẩy tuổi. Bà nói Cecil mới học dương cầm được sáu tuần. Tôi nghĩ Cecil có vẻ quá bình tỉnh so với một đứa trẻ mới học đàn có sáu tuần. Khi chú bé đứng dậy và bước chân sáo đền cây đàn, tôi nghĩ rằng tôi nghe chú ấy, hướng về tôi và thốt ra một lời phẩm bình gì đó.

Chú ngồi vào đàn, hất mái tóc dài vàng óng ra sau, nhìn tôi với ánh mắt vô cùng kiêu kỳ, và trình diễn bài " The Happy Fisherman" nhanh và tinh tế khôn cùng. Nều như thằng bé này không phải là Mozart tái thế thì cũng là một kỳ thủ dương cầm người lùn mà bà Hastings mướn tới đây để làm cho tôi chịu đau khổ gần chết.


Trong vòng trên dưới một tháng sau, tôi cũng hàn gắn được lòng tự trọng đã rách nát tả tơi và có thể gặp mặt bạn bè mà bắp thịt ở ông mày bên trái không còn thình lình bị máy một cách khó chịu nữa.


Một tuần đầu tháng Muời Một, bà Hastings bảo tôi viết xuống lịch " Tiệc Giáng Sinh ngày 17 tháng Mười Hai." Bửa tiệc hàng năm này bà mời không những thân nhân của các học sinh mà tất cả bạn bè của bà nửa. Mỗi học sinh sẽ trình diễn một bài theo trí nhớ, một bài song tấu, và một bài giáng sinh đệm cho tất cả mọi người hợp ca. Tôi được chỉ định bài " The Marriage of Figaro", song tấu với chú bé bị o ép vào kỷ luật sắt, Timmy và đệm bài "We Three Kings of Orient Are."

Ilona và tôi định viếng thăm cha mẹ chúng tôi vào tuần lể trước ngày Giáng Sinh, nhưng bà Hastings không thích cho chúng tôi vắng mặt trong buổi tiệc của bà. "Ông không thể nào tưởng tượng được thằng bé sẽ thất vọng như thế nào," bà tâm sự. " Timmy đã tập bài song tấu đó từ tháng Mười." Tôi đành phải sắp xếp lại toàn thể chương trình nghỉ lể để có thể có mặt trong buổi tiệc của bà ngáy 17 tháng Mười Hai.

Một tuần trước buổi tiệc, bà Hastings gọi tôi: "Bob, bà nhà nấu ăn được chứ?
""Ummm, dạ được."
"Bà nhà có thể làm bánh chứ?"
"Ahh...có thể nhưng khổ nhọc lắm."
"Ông bảo bà nướng một ổ bánh đem tới nhá, mẹ mấy đứa học trò đều mang bánh tới đấy."
Tôi nghĩ bụng, " Bà Hastings ơi, bà chẳng hiểu gì cả. Thế hệ của bà và chúng tôi khác nhau nhiều lắm. Ilona và tôi đều cùng làm việc nên hôn nhân của chúng tôi giống như loại hôn nhân phức tạp hai- vợ- chồng- đều- đi làm mà báo New York Magazine thường nhắc đến. Tôi không thể bảo vợ tôi nướng cái bánh cho buổi piano recital của tôi. Chắc chắn là không thể, nhất là ngay thời điểm này--khi mà cô ấy đang bận tít mù ở vào cuối một học kỳ khó khăn. Tháng vừa qua, có ba vị giảng sư đến xét thanh tra lớp cô ấy, cô ấy vừa mới hoàn tất việc duyệt lổi chính tả cho bản luận án tiến sĩ của cô ấy, và còn ba ngày nửa cô ấy sẽ công bố luận án ấy. Tôi không thể nào nhờ cô ấy nướng cho tôi một cái bánh."
Tôi nói, " Dĩ nhiên rồi, Cô Hastings ạ."
Trong bốn mươi lăm phút tôi lo lắng tìm cách nói cho Ilona biết, và viết chữ "bánh" nhỏ xíu xiu vào lịch, ngày 16 tháng Mười Hai.

Ilona đi làm về, bực bội vì người ta không tái ký hợp đồng với cô bạn Beth. " Họ tống cổ cô ấy về xứ Hốc Bà Tó. Trời ơi, thật là thủ đoạn! Hiện nay em còn phải chấm ba mươi bài, và em cũng chưa viết xong luận án của em. Anh ơi, "bánh" ngày 16 tháng Mười Hai là cái gì thế?"
"Anh sẽ nói cho em biết sau khi xong luận án."
"Vậy là sao?"
Tôi kể cho nàng biết, nhe nhàng nói rằng tôi cảm thấy không vui khi yêu cầu nàng trong lúc bận bịu như thế này.
"KHÔNG, KHÔNG ĐƯỢC!. Anh có điên không? Mình đã phải đổi ngày nghỉ của mình vì cái bửa tiệc dởm của bà còn gì."
"Anh đã cố gắng giải thích cho bà ấy là mình phải đổi kế hoạch đi chơi cuối tuần nhưng bà ấy có chịu nghe anh nói đâu."
"Anh chẳng bao giờ làm như thế cho ai cả. Ngay cả lái xe đưa bà em ra phi trường anh cũng không làm nữa là. Anh bị bà ấy quay anh như dế ." vân vân và vân vân...Nhà tôi còn dùng nhiều từ không mấy hay ho để ám tả tính cách của tôi, nhưng tôi xin miển kể vào đây vì chúng không liên quan đến câu chuyện.

Ba ngày sau, Ilona đã thành công rực rở với luận án của nàng. Ngày hôm sau, chúng tôi có được một buổi chiều rảnh rổi hoàn toàn không vướng bận bất kỳ áp lực hay sự căng thẳng nào. Chúng tôi sắp sửa dùng bửa tối thân mật, có rượu Chateauneuf-du-Pape cho thêm phần tình tứ thì chuông điện thoại reo vang.
"Bob, tôi nói với ông bửa nay mình sẽ tổng dợt vào lúc mấy giờ nhỉ?"
Tôi đã quên bẳng đi mất buổi tổng dợt vào tối thứ bẩy.

Tôi đến nơi muộn mất ba mươi phút và bà Hastings cho tôi ngồi nơi cái ghế đặc biệt do Hiêp Hội Nuôi Chó Mỹ tặng. Thằng quỷ sứ Cecil Harper, người đã làm tôi nhục nhã lần trước, đang ngồi tại đàn dương cầm chơi bản nhạc "The Happy Fisherman" mà không cần nhìn vào phím đàn. Cuối bản nhạc, nó còn thè lưởi ra trêu tôi nữa.

Bà Hastings đã sắp xếp chỗ ngồi cho tất cả những người trình diễn và hợp xướng một cách chính xác cực kỳ. Tôi được xếp chỗ ngồi ở hàng cuối cùng với những người cao lớn khác, Dr. Rand và Cissy Caffrey. Một lần nữa, Cissy đang ở trong tình trạng hôn mê, và một lần nữa, tôi ngụy trang nỗi kinh hoàng của tôi bằng những câu nói bông đùa ( "Bản nhạc của tôi có tựa đề " Bagatelle for Piano, Flute , và Oboe, without Piano") . Chẳng mấy chốc giây phút lo âu đã tới: "Và đây, Bob sẽ trình diển bản " We Three Kings" ở trang sáu."

Trong khi tôi lê bước chân không hồn tới chiếc đàn dương cầm, điện thoại reo vang. Ngay trước khi tôi bắt đầu, Dr. Rand trịnh trọng tuyên bố với giọng nói nghiêm trọng, " Xin lỗi Cô Hastings, rất tiếc tôi phải đi đở đẻ". Lập tức tôi nhận ra âm mưu vụng về của ông ấy và trả đủa tức thì " Ông đàn bản "We Three Kings đi, còn tôi sẽ đi đở đẻ."

Đàn xong câu đầu tiên của bản giáng sinh suông sẻ không lầm lổi, tôi chợt nhớ ra Dr. Rand có lần tự giới thiệu với tôi ông ấy là bác sĩ chuyên khoa Dị Ứng. Bổng nhiên mấy ngón tay tôi trở thành những cột điện, tôi không nhớ gì nữa và dàn hợp ca tiếp tục hát tới khúc " the perfect light" không có đàn đệm. Vài tiếng cười khúc khích vang lên từ mấy hàng ghế đầu.
" Được rồi, Bob, chúng ta sẽ học lại bản này sau." Để an ủi tôi, bà Hastings nói với ban hợp ca, " Đây là lần đầu tiên Bob đàn với ban hợp ca, nên ông ấy hơi bối rối"

Trong khi Cissy đàn một các hoàn hảo bản " O Come All Ye Faithful," tôi ghen tỵ với lòng quả cảm của Dr. Rand." Đở đẻ, gan thiệt". Rỏ ràng là ông ấy đã sắp xếp sẳn một vụ đẻ sinh ba ngay trước khi sân khấu mở màn hôm thứ Sáu. Có lẽ tôi nên thuê một đứa học trò của Ilona để nó gọi tôi vào bửa tối thứ Sáu ở nhà bà Hastings: " Gọi Dr. Bell! Gọi Khẩn cấp!. Cần giảng giải gấp một ẩn dụ cho sinh viên ngay lập tức!"

Nhìn quanh phòng khách của bà Hastings, tôi thấy nhiều ảnh, tượng nghệ thuật của người Da Đỏ, và có ít nhất là bốn cái đầu lâu. Bà này gớm thật, đúng là người điên.

Tình thế đã trở nên thê thảm. Chúng tôi không còn viên Valium nào, Ilona phải nướng bánh, và tôi phải tự làm trò hề trước bốn hay năm chục người. Có lẽ bà ầy đã mời hết cả bầy phù thủy của bà ấy tới dự.

Tôi chỉ còn một hy vọng cuối cùng. Mỗi ngày thứ Tư, tôi tham gia đội bóng rổ địa phương của những người hơn " ba mươi tuổi", tôi hồ hởi sống lại phút huy hoàng của ngày xa xưa cùng với đám thể tháo gia già nua. Có lần tôi hơi lo là mình có thể làm trật một ngón tay của bàn tay thẩy bóng vì tập quá nhiều nhạc Mozart. Bây giờ tôi đang âm mưu sao cho khi chơi bóng rỗ ngày thứ Tư, bàn tay tôi sẽ bị thương.

Lúc tan buổi tổng dợt, Cissy Caffrey nói với tôi: " Tôi phải đi công tác ở Hartford, không chừng tôi không thể trở về đây kịp vào thứ Sáu."
"Cissy, nếu chị không đến, tôi sẽ cũng không."
"Cô Hastings sẽ đập anh một trận đấy. Ôi chao, bà ấy coi trọng cái vụ này quá."
"Tôi đồng ý với chị."
"Cô Hastings quên là mình cũng có cuộc đời để sống. Tôi rất bận rộn trong khoảng thời gian cuối năm, và tôi phải chăm sóc mẹ già đau yếu nữa."
"Tội nghiệp chị quá."
"Anh có biết không cô Hasting làm gì không? Cô ấy gọi điện cho mẹ tôi, bảo bà phải nướng một ổ bánh!"

Buổi sáng ngày Recital thật rạng rở, tôi biết vì tôi thức giấc từ 6:30, mồ hôi đầm đìa. Tới 9 giờ sáng, tự nhiên tôi lại đánh thuộc lòng được bản " We Three KIngs," và khám phá ra niềm vui vĩ đại của nền tự do đạt được bằng khổ hạnh.

Tôi mua tặng bà Hastings một hộp kẹo ngon và nồng nhiệt viết thiệp tặng bà. Bà thật là một giáo viên xuất sắc! Bà đã biến đổi một người vụng về thành một tay đàn chuyên nghiệp!
Trong tiệm bánh kẹo, tôi đã tình cờ gặp Herb Waller, hắn rủ tôi chiều nay đi chơi bóng rỗ. " Tôi không thể đi được ông ạ," tôi nói với niềm tự hào, "tôi phải ở nhà dợt bài cho buổi piano recital tối nay." Tôi không thèm để ý tới lời càm ràm thô tục của hắn.

Trưa nay, Ilona đang vui vẻ hoạt bát, nàng mới chấm xong mớ bài của khóa học. " Em sẽ làm một ổ bánh theo công thức Harvey Walbanger," nàng nói. " Ai cũng thích cái bánh ấy. Sau khi chấm bài ba ngày ròng rả, tự nhiên em lại thích làm bánh."

Phòng khách của bà Hastings trở nên chật chội với khoảng hai mươi lăm người và ít nhất là mười ổ bánh. Bà Hasting nhìn thật tươi sáng trong chiếc áo Đông Phương đẹp lộng lẩy. Khi bà giới thiệu tôi với quan khách, bà cười rạng rở. Tất cả mọi người đều hỏi thăm, " Anh là một trong những người biểu diễn tối nay đấy à?" và tôi khiêm nhượng gật đầu, sung sướng với danh giá của mình. Tôi cố gắng tìm Cissy Caffrey. Thật tội nghiệp, tôi nghỉ thầm; cô ấy cần phát triển cách tự khép vào kỷ luật và lòng tự tin.

Có hai tô lớn đựng món egg-nog, một tô có pha rượu , một tô trơn. Tôi lập tức uống hai ly rượu rum và egg-nog, vừa đủ để củng cố quyết tâm của tôi mà không làm suy yếu năng lực của tôi. Tôi chơi bàn Mozart ổn thỏa, mặc dù Ilona nói rằng cái chào đắc thắng của tôi làm giảm đi phần nào sự lịch thiệp và tỏ ra tôi thiếu tính tự trào.

Timmy và tôi không ăn nhịp với nhau mấy trong bản song tấu. "Thưa quý bà, thưa quý ông," tôi tuyên bố, " như Paganini và Rubenstein đã nói trong buổi hòa nhạc nổi tiếng ở Prague, xin cho phép chúng tôi đàn lại lần nữa." Chúng tôi trình diễn khá hơn lần thứ hai này.

Tôi hơi lọng cọng trong bản "We Three Kings", nhưng vì tất cả mọi người đều hát rất to, hát lạc giọng, và sai nhịp lung tung, cho nên cũng không có ai để ý hết. Khi "kẻ thù' truyền kiếp của tôi, Cecil Harper đang đàn nửa chừng chợt ngừng ngang, tôi cảm thấy mình đủ lòng vị tha để không thè lưởi ra nhạo lại chú bé.

Sau khi chúng tôi đã đàn hát và thưởng thức các món tráng miệng, bà Hastings phát các gói quà được chưng bày dưới gốc cây thông lấp lánh. Thử tưởng tượng xem, mấy chú bé sẻ sung sướng biết là bao khi chúng nhận được mấy gói quà gói rất khéo trong đó có ba bịch bút chì số 2 Herald Square.
Tôi đi về tay cầm chặt mấy cây bút chì và các bản nhạc giáng sinh của tôi, rất hạnh phúc và đắc thắng, vì tôi đã bắt được nhịp cầu nối liền cái vực sâu khủng khiếp giửa tôi và âm nhạc của mọi nẽo tinh cầu.


Số Lần Chấm:  
2

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 2,523
Nguồn:
Đăng bởi: Cả Ngố (7/20/2008)
Người gửi: LAN HUỆ
Người sửa: Cả Ngố;