Truyện  

Tờ di chúc (Truyện xã hội)

Thủy Lâm Synh

(Truyện ngắn xã hội)


Hai con thân yêu của mẹ.
Đây là một lá thư, nếu các con muốn gọi là tờ di chúc thì cũng không có gì quấy cả.  Mẹ mãn nguyện lắm khi các con của mẹ khôn lớn nên người.  Từ nay hai chị em phải đùm bọc lẫn nhau.  Của cải, gia sản ấy mẹ không cần ghi hai con cũng biết phải làm thế nào rồi.  Chỉ một điều mẹ muốn hai con nhớ cho rằng tình thương luôn luôn cao quý.  Khi yêu thương thì hạng cùng đinh dân dã cũng giống như giàu sang phú quý, hạng nô lệ hèn hạ cũng giống vua chúa, quan quyền.  Người giàu không thể có tình nhiều hơn kẻ nghèo và cùng đinh hạ tiện không thể kém tình yêu hơn thượng lưu trưởng giả . Cho nên các con cứ chọn người mình thương mà lấy không vì danh dự của ta mà duyên phận bẽ bàng.  Không hiểu sao lúc sống tự ái của mẹ lại nhiều đến thế.  Mẹ không thể nói ra được những lời lẽ nầy.  Cũng càng không phải khi mẹ không còn trên cõi đời mà cố trút đi những ưu tư khó xử về những đứa con yêu của mẹ.  Mẹ chỉ muốn các con đừng quá nặng vật chất và nặng bã hư danh mà ân hận suốt đời.  Những bước chân chập chững của các con mẹ đã hơn một lần đi qua.  Chắc các con lấy làm lạ vì một chúc thư mà mẹ không hề để lại chỉ nơi cất giấu kho tàng, mẹ lại đi phân tích tình cảm vụn vặt.  Vâng! vụn vặt thật nhưng nó là một thứ vụn vặt cần thiết trong kiếp nhân sinh.
Con Hà thì mẹ không rõ con chọn ai. Nhưng thằng Toản thì mẹ đã chọn hộ cho con rồi.  Mẹ đã chọn Hạnh, dù Hạnh là người giúp việc nhưng mẹ đã tìm được ở Hạnh một con người giống như tên của nó hay còn hơn thế nữa.  Nếu được như vậy mẹ vô cùng mãn nguyện nơi chín suối.  Không cần thiết phải ba năm tang chế.  Việc hôn sự càng sớm càng tốt.
 
            Đọc xong tờ di chúc, Toản bàng hoàng xúc động, nhìn lên di ảnh của mẹ, chàng nghe niềm thương pha lẫn nỗi lúng túng kéo dài thật lâu trong lòng. Toản xúc động trước mất mát to lớn vì kể từ nay không bao giờ chàng gặp lại mẹ. Cùng lúc ấy lòng Toản dâng lên nỗi khổ tâm vì trong tờ di chúc mẹ chàng đã tự lựa chọn người bạn trăm năm mà chàng không hề nghĩ tới. Tại sao mẹ chàng lại chọn một đứa tớ gái thiếu nhan sắc đang ở trong nhà nầy như  Hạnh cho chàng.
            Toản đứng thật lâu nhìn sâu vào đôi mắt mẹ. Có lúc chàng thấy mẹ mỉm cười, có lúc đôi mắt ấy trở nên nghiêm khắc lạ thường. Lòng Toản cứ bị giằng co giữa mộng và thực, giữa chữ hiếu và hạnh phúc riêng tư, nước mắt Toản bỗng ràn rụa. Lúc ấy Hạnh khép nép sau tấm rèm cửa, nhìn Toản khóc mà lòng nàng như muối xát. Hạnh mơ hồ đoán rằng Toản đang rất đau khổ vì mẹ chàng bắt phải lấy nàng làm vợ. Hạnh muốn nhào lên giật phứt tờ di chúc trên tay Toản rồi chạy đi biền biệt để Toản không còn vướng bận, không còn khổ sở. Nhưng Hạnh không làm thế được, cái biên giới chủ – tớ  quá cao Hạnh không có quyền hạn gì trong gia đình nầy. Tờø di chúc của bà Hương có thể không làm Toản vâng lời, trong thâm tâm Hạnh, nếu Toản vâng lời mẹ lấy nàng thì  nàng nguyện sẽ yêu Toản vô điều kiện, nghĩa là nàng không đòi hòi ở Toản bất cứ một điều gì, cho dù Toản cưới thêm nhiều vợ khác nữa cũng được. Hạnh chỉ muốn được gần gũi người mình yêu là đủ rồi, ai bảo nàng không có quyền yêu Toản đơn phương. Thiên hạ đã chẳng nói chỉ cần một văn hào nào đó chửi cho một câu là suốt đời họ mãn nguyện đó sao.
            Vừa lúc đó người quản gia già mau mắn đến lôi tay Hạnh ra trước bàn thờ bà Hương, ông ấn vai cô đứng ngang hàng với Toản rồi nói:
            “Mẹ bay qua đời, bà đã để lại tờ di chúc, nãy giờ mọi người đều nghe, bà đã tác hợp cho hai đứa bay. Các con hãy quỳ xuống đây mà lạy người mẹ quá cố bốn lạy để đền ơn”.
            Nghe lời, Toản và Hạnh làm theo người quản gia. Nước mắt Toản chan hòa, thấy Toản khóc lớn, Hạnh cũng òa lên nức nở.
            Một năm sau Hà - chị ruôät Toản - thành hôn với con trai một phú hộ mà nàng đã thầm thương.  Toản cũng lấy Hạnh theo tờ di chúc của mẹ cho tròn chữ hiếu. Nhưng ở đời không phải lúc nào cũng thuận tai, thuận mắt. Đám cưới Hà diễn ra linh đình, trọng thể bao nhiêu thì đám cưới của Toản lại âm thầm, lặng lẽ bấy nhiêu. Chồng Hà là con một phú hộ, anh sống ung dung như công tử Bạc Liêu, chiếc nón feutre trắng lúc nào cũng dán trêân đầu với cái ống điếu lệch một bên mép phì phà khói thuốc.                  
            Còn vợ Toản xuất thân hàn vi, ở đợ. Bên má trái một vết sẹo làm gương mặt trở nên khó coi. Tuy vậy, chỉ cần có một phép mầu xóa vết sẹo đi Hạnh sẽ là một cô gái thật đẹp; khuôn mặt trái xoan, dáng người cao và tổng hợp những gì trên thân thể ấy.
 
            Từ ngày đám cưới tới nay cũng gần năm tháng, Toản chưa bao giờ đụïng tới vợ. Nếu ai để ý sẽ thấy hàng đêm Toản vẫn nằm tại bộ phản gõ hai tấm đen nhánh ngoài phòng khách.  Bên trong đã thế, bên ngoài lời ong tiếng ve của hàng xóm, của bọn tá điền khiến đôi khi Toản muốn bỏ nhà ra đi. Có những đêm chàng theo bạn bè đi uống rượu hoặc la cà ở những nơi buôn hương bán phấn ở phố huyện và chỉ về rất khuya. Bên ngọn đèn dầu Hạnh vẫn ngồi khâu áo chờ cơm, có lần mệt lả, nàng gục đầu trên bàn thiếp đi, Toản về tới mà nàng không hề hay biết. Nhiều lúc như vậy, Toản cảm thấy mình có lỗi, chàng tự nhủ: “Hạnh là vợ, cũng có tất cả những gì một con người có thì tại sao nàng lại thiệt thòi đến như vậy, chính mình lấy Hạnh theo tờ di chúc của mẹ chứ đâu phải lỗi ở nàng”. Sau nhiều đêm suy nghĩ Toản quyết định vào phòng với Hạnh. Đêm hoa chúc không một chiếc đèn hồng thế mà đã đưa tình cảm Toản và Hạnh từ ngàn dặm xa xôi trở về trong gang tấc. Hạnh trinh trắng đã đành, thân hình nàng toát lên vẻ quyến rủ kỳ lạ. Bộ ngực căng đầy như hai trái bưởi sau vườn, cặp chân dài với “vùng tam biên” lún phún, mềm mại như luống mạ non vừa gặp cơn mưa. Đặc biệt nhất có lẽ là mùi thơm da thịt và Hạnh đã biết cách cho Toản nỗi đê mê. Họ thật sự ngụp lặn trong niềm hạnh phúc tuyệt vời kể từ đấy. Nỗi tiếc nuối pha lẫn hối hận dấy lên trong lòng Toản vì chàng đã đối xử tệ bạc với Hạnh trong gần nửa năm trời.
 
            Thời gian lặng lẽ trôi qua cửa, những gièm pha của bá tánh ngày xưa không ai còn nhớ nữa. Cuộc sống gia đình ông Toản êm đềm trôi như giòng sông. Hạnh bây giờ là bà Toản đã sinh cho ông được bốn con, hai trai hai gái, người nào cũng sáng láng khôi ngô.  Lúc bấy giờ y khoa đã tiến bộ, ông Toản quyết định đưa bà Toản đi chữa vết sẹo trên má trái của bà. Dĩ nhiên dù có chữa cũng không tài nào lành lặn hoàn toàn, nhưng nhìn chung gương mặt bà Toản dễ coi hơn nhiều.  Nhà có của nên con cái ông bà Toản đều được ăn học nghiêm túc.
 
            Khi miền Nam VN đổi chủ, ông bà Toản tuổi sắp sáu mươi,  gia đình sa sút vì ruộng đất bị sung vào hợp tác xã nông nghiệp. Hai đứa con trai ông bà Toản là sĩ quan quân đội VNCH đang ngồi tù ngoài Bắc, sức khỏe bà Toản kém không sao đi thăm được, đó là điều bà rất ân hận. Cuộc đổi đời ấy là một khúc quanh đáng kể cho gia đình ông bà Toản. Cũng có thể vì lo âu quá độ mà bà Toản mang trọng bệnh. Ông Toản ngồi hàng giờ bên bình trà mỗi đêm để suy gẫm cuộc đời. Ngày xưa ông là “địa chủ bóc lột”  nay được đổi lại cha của “ngụy quân Sài gòn”.  Lâu lâu ông được mời lên xã để cho biết thêm về những hoạt động “phản cách mạng” của các con ông và làm bản tự khai gia sản vốn không còn gì để khai.
            Vợ bệnh, nhà ông Toản khánh kiệt phải bán đồ dùng trong nhà để chạy thuốc. Lúc bấy giờø thuốc tây đang lên cơn sốt, dù có tiền cũng cực kỳ khó kiếm.  Mấy lần đổi tiền, bao lần kiểm kê, gia sản ông bà Toản được nạo vét thật kỹ từ gia cầm đến đồ nội thất, từ những gốc cây ăn trái sau vườn đến cá nuôi dưới ao cũng phải báo cáo khi gần đến mùa thu hoạch. Hôm nay cơn đau màng óc của bà Toản lại hoành hành trở lại. Ông Toản nhìn vợ xanh xao mà lòng đau như cắt, bà Toản thều thào bên tai chồng:
            “Mình ơi, chắc em không còn sống bao lâu nữa.  Em xin cảm ơn mình đã săn sóc, đùm bọc em từ thuở thiếu thời, từ một con bé nghèo nàn. Anh đã không đối xử tệ bạc với em mà còn thương yêu suốt cuộc đời. Điều ấy khiến cho em lúc nào cũng thấy mình chưa xứng đáng. Trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời em xin mình hai việc. Thứ nhất:  Mình hãy vì em, vì tương lai các con mà tự kiềm chế bản thân, đừng để cho chế độ kết án là phản động, không khéo chừng tuổi nầy còn vào khám thì khổ thân.
            Thấy bà Toàn yếu sức quá, Ông Toản nắm tay vợ lay nhẹ:
            “Mình đừng bỏ anh mà đi. Giờ là lúc anh đang cần mình nhất, mình đừng bỏ anh.”
            Ông Toản sụt sùi.  Bà Toản nhăn mặt vì đầu óc bà đau nhói.  Bà nói lấp vấp trong hơi thở:
            “Còn điều...điều thứ hai:”
            “Điều gì mình cứ nói đi.” – Ông Toản giục.
            “Mình có đồng ý tha lỗi cho em không?”
            “Mình không có lỗi gì cả.  Cho dù bao nhiêu lỗi anh cũng bỏ qua.”
            “Mình hứa với em đi:”
            “Anh hứa đây:” – Ông Toản đau khổ trả lời.
            Bà Toản nhắm mắt, đôi môi mấp máy:
            “Em đã đánh tráo tờ di chúc. Tờ di chúc thật của mẹ em chôn ngoài gốc cây khế chua. Anh hãy đào lên xem mẹ dặn dò điều gì.”
            Vừa dứt lời, đầu bà Toản ngoẹo qua một bên, nhắm mắt vĩnh viễn ra đi. Ông Toản đau xót kêu rú lên, hai tay ôm mặt vợ lắc mạnh, nhưng bà Toản thật sự xa rồi. Tiếng khóc não nuột của ông Toản khàn đi hòa với tiếng dế rã rích bên ngoài. Một đêm và ngàn đêm sau nữa, chưa bao giờ buồn như đêm nay.
 
            Ngồi canh xác vợ, ông Toản tưởng mới ngày nào thế mà đã bốn mươi năm trôi qua. Ông Toản còn nghe văng vẳng đâu đây giọng nói nhẹ nhàng của Hạnh khi Toản về nhà nghỉ hè sau mùa học năm đó.
            “Cậu Ba! Con xách nước cho cậu tắm nghen”
            Tiếng Hạnh làm Toản giật mình.  Chàng quay lại trong khi hàng nút của cái áo sơ mi đã cởi ra chỉ còn lại cái nút cuối cùng. Hạnh bẽn lẽn cúi đầu khiến Toản vội chữa.
            “Xin lỗi nghe Hạnh.  Trời nực quá, khi Hạnh gọi tôi vội vàng chưa kịp...
            “Không sao đâu cậu Ba.”
Hạnh vẫn cúi đầu, một tay mân mê vạt áo. Toản tiếp lời:
            “Hay là Hạnh để mặc tôi. Tôi lớn rồi có thể tự lo cho mình được mà.
            Vừa nói Toản đã gài nút áo xong
thì Hạnh tiếp:
            “Í, đâu có được. Làm vậy bà sẽ la con cậu à.”
            “Không sao đâu, Hạnh nói với mẹ tôi là đã xách đầy nước cho tôi rồi.”
            “Cậu đang dạy con nói dối?”
            Toản cười:
            “Nói dối mà không có làm hại cho ai thì không sao.”
            “Nhưng nói dối là một tật xấu phải không cậu” – Hạnh tinh nghịch hỏi vặn, làm Toản chúm chím cười, nàng cúi đầu chào Toản rồi đi ra nhà sau. Toản gật đầu, chàng định hỏi thêm gì đó nhưng Hạnh đã đi khuất bên hông nhà nên chi chàng đứng tần ngần một lát rồi quay vào phòng. Toản nghiêng mình nhìn mặt trong gương, đưa năm ngón tay làm lược chải lại mái tóc rồi bước ra ngoài vườn.
            Buổi trưa tròn bóng, trời đứng gió nên dù dưới bóng cây Toản vẫn thấy oi bức lạ thường.  Chàng nhìn lên cây ổi sai trái, nhón gót hái một quả, chà vỏ vào quần rồi cắn ra ăn.  Toản đang nghĩ vẩn vơ, trong đó đôi mắt Hạnh chợt đến chợt đi, gương mặt Hạnh đẹp, nước da trắng như trứng lột, chân răng hồng như màu mận chín. Cha mẹ nàng đã cho hai đồng tiền sâu nơi má như lúc nào cũng cười, chỉ có điều một vết sẹo oan nghiệt làm tan tành dung nhan bá mị.  Chàng lẩm bẩm một mình: “Hạnh con ai, sao lại đến ở nhà mình?”  Toản đi vòng ra phía hông nhà, nơi chú Tám để chiếc xe lôi hai bánh, nhưng cả xe và chú Tám cũng không có ở đó. Toản đi thẳng ra ngõ, chàng mở hé cánh cổng bước ra đường.  Trước mặt Toản xa xa, dáng một cô gái xách giỏ bước thoăn thoắt. Chiếc áo xanh lục, hình như đó là Hạnh bởi cô vừa mới đây  cũng chiếc áo màu xanh ấy.  Toản vừa đi vừa chạy mới bắt kịp. Khi đến gần, nghe tiếng động người con gái quay lại:
            “Cậu Ba! Cậu đi đâu đây, nắng như vầy sao cậu không biểu ông Tám lấy xe kéo câu đi?”
            “Tôi đi lang thang chớ có việc gì quan trọng đâu mà đi xe. Mà hình
như xe không có ở nhà!”
            “À phải rồi, hôm nay rằm bà đi chùa sớm, bà dặn con đi chợ mua ít đồ về nấu chay cho cậu ăn.”
            Toản mỉm cười:
            “Tôi có tu hành gì đâu mà ăn chay.
Ví dù có muốn ăn cũng bất tiện, ở trọ nhà người ta, họ nấu gì mình ăn đó, nhưng lâu lâu ăn chay chắc ngon miệng lắm.”
            “Vậy bữa nay con nấu chay cho cậu ăn hén?”
            “Cả nhà ăn chớ.” – Toản hỏi.
            “Chắc bà, cô hai, cậu và khách của bà nữa.” – Hạnh quả quyết.
            “Ai vậy? – Toản hỏi dồn.
            Hạnh vừa đi vừa nói:
“Con hổng biết, chỉ nghe ông Tám nói là ông bà xã Hiệp người định làm sui với bà.”
            “Làm sui!  Chị tôi lấy chồng à?”
            “Con đâu biết, nhưng...”
            “Nhưng gì?” – Toản hỏi lại.
            “Nghe nói ông bà xã Hiệp nào đó có con gái không hà!”
            Toản cau mày, tinh nghịch:
            “Hạnh nghe có cô con gái nào theo qua nhà mình coi mắt tôi không?”
            Hạnh liếc nhìn Toản cười nói:
            “Sau chuyến thăm nhà nầy, cậu phải đi qua nhà họ để con họ coi mắt cậu thì có.”
            “Nói thật với Hạnh, dù cho con bà xã Hiệp nào đó có sắc đẹp “nghiêng thùng đổ nước” tôi cũng không đi coi mắt đâu!”
            “Tại sao vậy” – Hạnh hỏi.
            “Tôi không muốn lấy vợ”
            “Cậu muốn làm hòa thượng?” – Hạnh nghịch.
            “Chưa biết chừng” – Toản nhún vai trả lời.
            Hạnh nói:
            “Thôi, cậu từ từ đi, con đi chợ kẻo trễ.”
            “Tôi cũng ra chợ nữa.”
            “Cậu mua gì?”
            Toản ú ớ:
            “Tôi.. .tôi có.. .mua gì đâu! À có mua cây bút chì.”
            “Cậu nầy, cây bút chì cũng đi chợ, quán bà Sáu gần nhà mình thiếu gì!”
            Hai người cùng bước đi. Hạnh cứ thụt lùi mà Toản thì lại muốn đi song song nên hai người đi thật lâu mới tới chợ. Toản đi bên phải của Hạnh, vết sẹo nằm phía má trái nên khuyết điểm trên gương mặt nàng ít thấy.
 
            Toản là đứa con trai độc nhất của ông bà Hương.  Một gia đình trung nông giàu có nhiều đời.  Nhà ông bà Hương nằm trên miếng đất hương hỏa của ông bà để lại ở làng Nghi Phụng, huyện Ninh Hòa cách Nha Trang chừng ba chục cây số về hướng bắc. Bà Hương hiền lành quảng đại, giàu lòng vị tha, dù đã ngoài bốn mươi bà vẫn còn phảng phất nét đài các. Ông Hương lúc sinh tiền ít nói, con người ốm yếu bệnh hoạn. Ở làng nầy không ai là không biết vợ chồng ông bà Hương. Không những họ chỉ biết bên ngoài mà họ còn biết cả bên trong cuộc sống không hạnh phúc kéo lê thê như cỗ xe tang của gia đình người phú hộ nầy. Ông Hương qua đời trong cơn bạo bệnh để lại bà hai người con – một trai một gái. Hà, cô con gái lớn mà mọi người tới lui nhà bà Hương thường gọi là cô hai.
            Cây lành đôi khi cũng sinh trái đắng, cô hai tính tình nhỏ mọn, hẹp hòi luôn cả lời nói, cô giống cha, gương mặt có nét xương xương khắc khổ. Những lúc gặp mất mùa bọn tá điền đong lúa trồi sụt cô thường phiền hà hoặc nói năng thiếu lễ độ.  Hà đã 22 mà vẫn chưa có ai giạm hỏi. Dĩ nhiên điều kiện hộ đối môn đăng cũng là một trở ngại lớn cho cô chưa kể tánh tình. Càng cô đơn cô càng cay cú với những người trong nhà. Đối với Hạnh, Hà thường ép làm việc quá sức khiến đôi lần bà Hương khó chịu phải tìm lời an ủi Hạnh.
 
            Khác với chị, Toản là một thanh niên hấp thụ văn minh tỉnh thành.  Kiến thức rộng rãi lại nhân hậu. Mặc dù Toản đi học xa, nhưng không vì thế mà tiếng tốt của chàng không được bàn tán trong xóm, nhất là trong giới tá điền. Toản xem những người giúp việc, như người thân, gặp nhau chàng luôn tỏ ra lịch sự, kính trên nhường dưới.  Bọn tá điền lắm người có con gái đến tuổi cập kê muốn được có một chàng rể như Toản, nhưng bức tường gia thế đã dập tắt cái ước mơ từ trong trứng nước của họ.
            Nhờ dịp đi cùng đường lên chợ  với Hạnh mà Toản được biết Hạnh mồ côi cha mẹ, đang ở với người dì họ. Dì Hạnh nghèo túng nên ông Tám kéo xe mới tìm cách giúp đỡ bằng cách đưa Hạnh vào ở đợ cho nhà mẹ Toản. Hoàn cảnh của Hạnh đã tạo cho Toản một cảm tình, cũng có thể chút tình thương hại. Trong dịp nầy, Toản biết thêm lý do tại sao Hạnh lại có vết sẹo ngay bên má trái: “Nhà em cháy lúc nửa đêm. Lửa nóng, em chạy ngõ sau ra ngoài nhưng mẹ em chưa ra được. Em chạy lại vào nhà, chân mẹ em bị kẹt dưới thanh giường tre gỡ không ra.  Em giúp gỡ được chân và cố lôi xếch mẹ ra ngoài. Mẹ em bị gãy chân, còn em bị một thanh cây cháy áp vào bên má. Nhưng em không bao giờ ân hận, vì đã đưa được mẹ ra ngoài, dù sau đó khi tới bệnh viện cũng không cứu được vì khói đã vào đầy phổi.
            Như nhớ lại một tai nạn khủng khiếp. Hạnh chớp mắt muốn khóc, nàng mím môi.
            Hạnh vừa tròn 16, tương lai không có gì để suy nghĩ. Mỗi tháng nàng được trả công bằng lúa để đem về cho gia đình người dì. Nàng thích Toản, như bao người con gái khác trong xóm thích Toản. Có điều Hạnh đỡ hơn vì thường được gặp người mình yêu thích. Có khi Hạnh lén nhìn Toản lang thang ngoài vườn, lòng nàng cũng thấy vui vui. Rồi nàng vụt quay đi vì thấy Toản cao chót vót, đó là lúc nỗi buồn chợt đến rồi đi. Sau mấy tháng hè, Toản lên tỉnh trở lại, không hiểu sao Hạnh buồn quá. Có một chút gì khác lạ làm khuấy động tâm hồn người con gái đang lớn.
 
            Lùi lại một tí, Hạnh tự thắc mắc với buổi đầu tiên tại sao Toản cùng đi lên chợ với nàng. Mua cây bút chì chỉ là một cái cớ. Càng nghĩ, Hạnh càng chủ quan cho rằng Toản cũng thích nàng. Hình như đôi lần suốt quãng đường đi và về Toản lúng túng với lối xưng hô cậu – cháu.  Toản chỉ xưng tôi và gọi Hạnh bằng tên. Toản đề nghị Hạnh không cần gọi cậu nhưng lại không tìm được chữ nào thay thế. Toản cố sang bằng giai cấp bằng một suy nghĩ thốt thành lời trước mặt Hạnh
“Tại sao tôi không là một nông dân,
 một tá điền như bao tá điền khác?” Dù sau đó Toản không giải thích thêm là làm một nông dân nghèo để làm gì?
            Nhưng thôi, bấy nhiêu đó cũng
 đủ cho Hạnh vui mỗi khi Toản về thăm nhà và buồn mỗi khi Toản ra đi. Có một điều mà Hạnh biết chắc chắn là nàng không thể nào là vợ Toản bởi nếu phải sắp hàng thì nàng còn xa xôi lắm.
 
            Từ ngày về ở đợ cho nhà bà Hương, Hạnh thân nhất là ông Tám xe lôi.  Có những buồn vui nào nàng cũng kể cho ông nghe khi hai chú cháu ăn cơm với nhau hoặc khi bắt sâu ngoài vườn.  Nhận xét của ông Tám về những người trong nhà đã làm lòng Hạnh kính mến bà Hương, cảm mến Toản thêm, ngược lại nàng rất sợ Hà. Trong một thoáng rất nhanh, Hà ước gì mình giàu, có học cao để khỏi quá chênh lệch với Toản và để hiên ngang nói chuyện với cô hai.  Nhưng đó là giấc mơ vá trời, phận tôi đòi túi cơm giá áo là thực tế mà Hạnh cần chấp nhận.  Tuy vậy, không hiểu sao đôi khi trong giấc ngủ chập chờn  Hạnh lại mơ thấy Toản nắm tay mình đi trên cánh đồng ngập vàng lúa chín
 
            Riêng bà Hương mỗi ngày một già yếu.  Cứ mỗi tối bà thắp nhang rồi ngồi trước bàn thờ Phật lần hết bận chuỗi này đến bận chuỗi khác.  Bà ăn chay trường và thường xuyên chẩn bần để lấy phước.  Cũng vì hộ đối môn đăng mà ngày trước bà phải lấy một người chồng không hề có chút tình thương.  Bà đã chôn cuộc đời thanh xuân chỉ vì cha mẹ bà muốn được tiếng tăm.  Lúc còn trẻ bà thương tha thiết người con trai chăn trâu cho cha mẹ bà. Bà lén cha mẹ để hò hẹn ngoài đồng sâu.  Khi cha mẹ bà biết được thì ly gián cuộc tình, cho người đánh đập, hăm dọa.  Kết quả chàng trai bị đuổi ra khỏi làng và từ đó biền biệt khiến bà u sầu bỏ ăn bỏ ngủ.
            Cuối cùng bà Hương phải chấp nhận một cuộc hôn nhân gượng ép.  Hình ảnh người tình nghèo của bà chưa phai nhạt dù đã mấy chục năm.  Dĩ
 vãng bẽ bàng, quá khứ thương đau,
vết thương lòng ấy vẫn hằn sâu trong tâm khảm bà Hương nhưng bà lại không hề oán hận cha mẹ. Ở cương vị bà, bà cũng phải hành xử như thế.
            Dù vậy, tánh nết Hạnh đã làm cho Bà Hương có một cái nhìn khác. Bà tự nhủ: “Con bé nghèo mà thanh cao,  đôi khi bà giả vờ đong dư cho nó một đôi giạ lúa là nó từ chối, hoặc cho bà biết là đã tính lộn, tháng sau sẽ nhận ít hơn để bù. Tiền chợ cũng thế, nó không bao giờ tham gian khi bà đưa lộn.
 
            Được ra kinh đô thi năm ấy Toản hớn hở vô cùng.  Mảnh bằng Thành Chung mà chàng ao ước bấy lâu.  Chàng phải ăn chực nằm chờ để được nghe kết quả.  Khi đi cả gia đình đều ước mong Toản chiếm bảng vàng.  Hạnh e ấp đôi má đỏ hồng e thẹn, nhưng “chúc cậu thi đậu” là chúc cho khoảng cách cao hơn vốn đã quá cao so với Hạnh. Đêm hôm đó lần đầu Hạnh đã khóc cho thân phận mình. “Nàng chỉ thương Toản cho dù Toản không thương nàng cũng được” – Hạnh nguyền như thế.
 
            Khi Toản về quê, những người bà con xúm lại mừng rỡ. Riêng bà Hương vừa mãn phần.  Người quản gia cũng là chú ruột của Toản lấy phong bì trên bàn thờ bà Hương đưa cho Toản.  Toản quỳ lạy trước bàn thờ mẹ sụt sùi.  Tay chàng run run mở tờ đi chúc.
            Hai con thân yêu của mẹ ..
 
***
 
            Mới đây mà đã sáu mươi năm cuộc đời. Bốn mươi năm chồng vợ, Hạnh là người đàn bà đảm đang, trung hậu, một người mẹ tốt, một người vợ hiền.  Hôm nay vợ vĩnh viễn ra đi, nàng xin ông Toản tha tội vì quá yêu chàng mà Hạnh đã đánh tráo tờ di chúc. Ông Toản không hề oán trách vợ, ông ôm vợ khóc nức nở. Mẹ đã để lại cho ông một kho tàng vô giá đó là Hạnh và bốn đứa con ngoan. Ông quyết định không bao giờ đào lên tờ di chúc nào khác.
 
Thủy Lâm Synh
Jan. 12, 1980
 


Số Lần Chấm:  
20

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,637
Nguồn:
Đăng bởi: Nguyenthitehat (7/9/2008)
Người gửi: thuylamsynh