Truyện (Chưa Xếp Loại)

Tấm Gương Đen

Bình Huyên

Chương 1



Lời tác giả : "Một số danh tính các nhân vật trong truyện đã được thay đổi cho thích hợp với bối cảnh truyện giả tưởng phản ảnh những khiá cạnh tàn ác dã man của lịch sử tội ác loài người."

Mùa Đông năm Tý. Trong làng Nghi-Tàm, ngoại ô phiá tây-bắc thành Thăng-Long (Hà-Nội), vào lúc canh năm trời còn tối mịt, toán quan quân tiến ra phiá bờ hồ. Một người lính cầm đuốc dẫn đường. Ông quan khăn đóng, khoác áo bông trần mầu đen, đeo kiếm, chân đi hia. Theo sau ông là toán lính vác dáo, xách mã-tấu, đội nón nhỏ chóp nhọn, mình mặc áo trấn thủ đen, quần trắng thắt lưng nâu, chân quấn xà-cạp, đi giày vải. Họ áp tải hai tù nhân, một đàn ông, một đàn bà, hai tay bị trói quặt ra đàng sau lưng. Tới bên bờ hồ nước váng đục, sương mù toa? dầy đặc, cây cối trơ cành, ông quan giơ tay ra lệnh đứng cả lại. Ông chỉ tay vào hàng cọc gỗ, cất tiếng oai nghiêm:
- Bay hãy mang trói quỳ gối hai tên gián điệp này mỗi đứa vào một cái cọc. Đao phủ và phụ đao phủ cùng quân lính đứng vào vị trí chờ lệnh!
Quân lính dàn hai bên, cách tử tù ba trượng. Hai đao phủ cầm mã-tấu sáng loáng, đứng cách hai tử tù một trượng. Hai phụ đao phủ mỗi người nắm đầu một tử tù, rũ tóc họ ra, cầm chặt đuôi tóc kéo cho dài căng cần cổ. Ông quan nói to:
- Hai tên phản quốc kia! Các ngươi đã biết tội chưa?
Giọng đàn bà the thé lẫn với giọng đàn ông khàn khàn, nói lắp bắp trong hơi thở hổn hển:
- Tôi vô tội. Tôi vô tội. Tha chết cho tôi. Tha chết cho tôi.
Ông quan lắc đầu:
- Bay theo ngoại bang, phản dân hại nước. Phải trừng trị làm gương. Đao phủ! Hãy xử trảm!
Mỗi đao phủ khoa thanh mã-tấu lấp lánh trong ánh lửa bập bùng. Hai tiếng "Xoẹt! Xoẹt!" liên tiếp. Hai cái đầu bị chặt băng. Hai dòng máu đỏ loé mầu lửa vàng từ cổ tử tội phun thành vòi trên đám cỏ đẫm sương. Mỗi phụ đao phủ cho một thủ cấp vào cái túi vải. Toán lính dọn dẹp, cởi trói tử tù rồi mang xác họ theo ông quan rời làng Nghi-Tàm. Khi đám quan quân đi khuất, hai luồng khí trắng bốc lên từ hai cái cọc hãy còn vương máu, bay vút lên cao biến vào tàn cây nhãn xác xơ quện sương giá lạnh. Tự nhiên, trên trời một cơn giông nổi lên, sấm chớp ầm ầm. Sau đó, trời sáng hẳn. Lúc bấy giờ dân làng mới ra khỏi nhà hoạt động. Hầu như không ai mục kích cảnh hai tử tù bị chém đầu bên bờ hồ Nghi-Tàm cách đó vài trống canh. Chung quanh bờ hồ luôn luôn hoang vắng. Thỉnh thoảng mới có người tới tắm giặt hoặc ngồi câu cá.
* * *
Hai trăm năm sau, 1957, cũng giữa mùa Đông nhưng vào lúc chiều tối. Một chiếc xe mầu đen chạy tới, đậu gần bờ hồ Nghi-Tàm. Hai vệt đèn xe chiếu qua lớp hơi đất xông lên thành hai luồng sáng vàng vàng. Một người đàn ông thấp thoáng trong bộ quần áo kaki nhảy ra khỏi xe. Hắn mở cánh cửa phiá sau xe, lôi ra một người. Cái chăn dạ đỏ chùm kín đầu cho đến quá nửa thân hình nạn nhân. Người đó vùng vẫy chống cự yếu đuối, kêu lên the thé:
- Buông tôi ra! Ối làng xóm ơi! Chúng nó giết tôi! Đồ khốn nạn!
Người đàn bà rú rít, giằng co với tên đàn ông kia. Hắn nắm đầu nạn nhân trong lớp chăn dạ, đẩy mạnh ra đằng trước, kéo tay nạn nhân cho chạy nhanh về phía bờ hồ, theo luồng ánh sáng đèn xe vàng đục. Ở đó, hắn rút trong lưng ra một vật dài, đập rất mạnh lên đỉnh đầu người đàn bà qua lớp chăn dạ mỏng. Một tiếng "bộp" khô khan nổi lên. Người đàn bà rướn mình, lăn đùng ra mặt đất đầy cỏ dại, nằm bất động. Ánh sáng đèn xe cho thấy khá rõ cảnh tên đàn ông kéo chăn ra khỏi đầu người đàn bà. Hắn dùng tay phải gỡ mấy ngón tay người đàn bà bấm chặt vào mu bàn tay trái của hắn. Hắn bấm đèn pile soi đỉnh đầu người xấu số. Một dòng máu trộn óc trắng tuôn ra từ chỗ đầu hõm xuống. Mắt người đàn bà trợn trắng, mồm há ra như còn giữ tiếng kêu không thoát khỏi cổ họng. Tên đàn ông cầm chăn đứng thẳng lên, nhìn mu bàn tay trái, lẩm bẩm:
- Con khốn cào xước cả tay người ta! Cho mày chết cũng đáng lắm! Đầu chùm kín khi chết, lại không còn óc thì có thành ma cũng chẳng tác quái báo thù được. Công an đảng ta thật là khôn ngoan! Không cần lo lắng gì hết.
Hắn đi từ từ ra xe, trèo lên ngồi bên cạnh người lái, ra hiệu cho xe chạy khỏi chỗ đó. Trong bóng tối, xác người đàn bà nằm co quắp dưới đất. Một vầng ánh sáng như lân tinh từ xác bà ta bốc lên cao độ nửa thước, chao qua chao lại, nhưng không bay lên được. Từ trên tàn cây nhãn hai luồng ánh sáng trắng bay xuống, đến cạnh xác chết thì ngừng lại. Ánh sáng đọng thành hai bóng cụt đầu. Họ giơ hai tay hứng lấy vầng ánh sáng lân tinh, kéo lên cao, rồi cùng bay vào trong vòm cây nhãn khẳng khiu như bàn tay xương xẩu của quái vật khổng lồ.
Lúc đó gần tám giờ tối một ngày đầu năm Dậu. Sáng hôm sau, xác người đàn bà bị đập chết được mang đi. Phạm trường được dọn dẹp hết dấu tích của vụ giết người dã man. Những ngày tiếp đó, thỉnh thoảng có một cô gái từ đâu tới bên bờ hồ, đi qua đi lại như xem xét cái gì. Cô ta xuất hiện khi thì buổi sáng, khi thì buổi xế chiều, nhưng hình như cô ta không tìm ra điều cô mong đợi. Một buổi tối, khoảng tám giờ, cô ta mò tới. Cô thắp nến, châm bó nhang cắm cạnh bờ hồ, miệng khấn:
- Chị Xuân-Minh! Chị có thiêng thì hiện về cho em biết sự thật cái chết bí mật của chị.
Khấn đi khấn lại câu đó một lúc lâu không có kết quả. Cô ta định ra về. Chợt từ sau cây nhãn bên hồ, một bóng người bay chầm chậm trên lớp cỏ. Cô gái hoảng sợ, nhìn bóng kia trừng trừng, miệng hé mở mà không thốt ra thành lời. Bóng kia dừng lại cách cô ta hai thước, mờ ảo trong chiếc áo cánh hoa, quần lụa đen. Trong màn đêm, nét mặt bóng đó từ từ sáng lên. Cô gái chắp tay, nói như reo:
- Chị Xuân-Minh!
Bóng kia cất tiếng nhẹ nhàng nhưng hơi ngọng ngịu:
- Chị đây, em Xuân-Hoàng! Chị không nói được nhiều với em. Muốn gặp chị, em hãy trở lại đây vào lúc chín rưỡi tối.
Bóng đó quay đi, loạng choạng bước tới gốc cây nhãn thì biến mất. Từ đó, Xuân-Hoàng thỉnh thoảng trở lại thăm Xuân-Minh. Nhưng người chị xấu số của cô chỉ nói những câu rời rạc, nhiều khi khó hiểu. Xuân-Hoàng vẫn kiên nhẫn lui tới, hy vọng sẽ nhận được một vài chi tiết quan trọng trong cái chết bí ẩn của Xuân-Minh. Sự lui tới đó khiến dân làng để ý, bàn tán. Sau vài tháng, Xuân-Hoàng không xuất hiện bên hồ Nghi-Tàm nữa. Cuối năm Dậu, cũng vào buổi tối. Trên trời đầy sao. Một luồng lân tinh từ đâu bay tới bên hồ Nghi-Tàm. Khi chạm mặt đất, ánh sáng tụ lại thành hình cô gái. Đó là Xuân-Hoàng. Cô ta mặc quần vải đen, áo cánh trắng. Cô tiến lại cây nhãn. Xuân-Minh từ sau cây nhãn hiện ra. Hai hình hài mầu sáng xanh quấn lấy nhau. Xuân-Hoàng thổn thức, nói bằng giọng nhẹ nhàng, đứt đoạn, âm thanh yếu ớt ngọng ngịu:
- Vì biết mặt biết tên cái đứa đã lộng quyền, cưỡng hiếp chị cũng như các tình nhân của thủ lãnh tà phái, em và một số người khác đã bị chúng thủ tiêu. Riêng em bị chúng chùm chăn, đập đầu cho chết trên con đường vắng tại bờ sông một tỉnh mạn ngược. Hồn em phiêu bạt đến đây với chị.
Chợt Xuân-Hoàng run sợ chỉ tay ra sau lưng Xuân-Minh, hỏi:
- Ai kia?
Đến sát bên hai chị em là hai cái bóng trắng trong bộ y phục đời xưa bốc ra ánh sáng trắng lạnh lẽo. Trên vai họ là hai cái đầu con lợn sống. Miệng hai đầu lợn há ra ngậm lại. Cái lưỡi thè ra thụt vào. Hai con mắt hấp him. Đôi tai cụp xuống, vểnh lên. Tiếng nói trộn với âm thanh súc vật vang lên một cách quái dị, nhưng cũng làm cho người nghe hiểu được:
- Mỗi khi lò sát sinh nơi đây làm lợn, chúng ta mượn tạm hai cái thủ, để có thể dùng mắt súc vật nhìn rõ hơn, dùng mõm và lưỡi súc vật mà phát âm. Éc! Éc! Đời xưa, vua chúa thường sai chặt đầu tử tội. Chúng ta phải mượn đầu súc vật để phát động ma lực. Ngày nay, bọn cộng sản vô thần thủ tiêu người một cách dã man hèn nhát, bằng cách chùm chăn, đập vỡ đầu cho óc chảy đi hết, để hồn ma thành hoang lạc, yếu đuối, bao nhiêu hình ảnh trên đời ghi trong ký ức bị tan tác, không mạch lạc. Trong thâm tâm, chúng rất sợ hồn ma kẻ thù về báo oán. Xuân-Minh bị hạ sát tại đây, nên được hai ta bao bọc. Éc! Éc! Hai chị em ngươi phải tìm ra một kỷ vật thân yêu của các ngươi trên đời để nương náu và quy tụ dần dần các hình ảnh xưa cũ nhờ kỷ vật đó. Các ngươi hãy đi đi. Mỗi ngày giỗ hãy trở về đây cho ta truyền thêm linh khí. Khi vong hồn các ngươi đủ mạnh, ta sẽ chỉ bảo cách phát động ma lực.
Nói xong, hai bóng trắng lắc lư cái đầu heo, quay lưng biến vào lùm cây rậm rạp, âm u. Hai chị em ôm nhau thành luồng ánh sáng lân tinh, bay về phiá thành phố Hà-Nội, tới căn nhà nơi hai chị em trú ngụ trước kia. Đó là một khu nhà cũ kỹ, chật chội. Ban chỉ huy tà phái dành khu nhà đó cho các tín đồ thân cận của họ. Hai chị em bay lên phòng trên gác. Bên trong đồ đạc sơ sài vẫn như cũ. Trên tường vẫn còn tấm gương lớn bằng tờ nhật trình. Đó là tấm gương mà hai chị em Xuân-Minh, Xuân-Hoàng thường soi chung hàng ngày. Hai chị em rất qúy hoá vì đó là kỷ vật của thân mẫu họ. Hai hồn ma liền nhập vào tấm gương. Đêm hôm đó, bà cụ Ở căn dưới chung cư ngủ mơ thấy hai chị em. Bà cụ đó là vợ một tín đồ đã chết. Bà cụ nghe hai chị em Xuân-Minh, Xuân Hoàng báo mộng: "Bác hãy xin người chỉ huy chung cư này tấm gương của chúng cháu trong phòng trên gác, và giữ gìn cẩn thận cho."
* * *
Vài năm sau, bà cụ lại gặp hồn ma hai chị em Xuân-Minh Xuân-Hoàng trong mộng, bảo bà: "Bác hãy mang trao cho ông Hồ-Kỳ tấm gương của chúng cháu nhờ bác giữ. Ông ấy là thư ký riêng của ông Hồ Dương chồng Xuân-Minh. Bác dặn ông ta hãy giữ cho kỹ, rồi trao cho đứa con trai duy nhất của Xuân-Minh. Nó hiện còn lưu lạc ở nơi bí mật. Ông Hồ-Kỳ là người có thể tin cậy được." Một mặt, ông Hồ-Kỳ cũng nằm mộng thấy hai chị em Xuân-Minh, Xuân-Hoàng, là hai người mà ông tự nhiên qúy mến khi còn sống. Từ đó, tấm gương cũ mang hai hồn ma mất óc được giữ gìn cẩn thận. Hồ Dương là thủ lãnh một nhóm đàn em theo tà phái. Trong nhóm này, người nào cũng bắt chước thói ma giáo của thủ lãnh: ăn cắp lý lịch của người khác, bỏ tên cha mẹ đặt, để lấy tên hiệu bắt đầu bằng chữ “Hồ” cho giống người cầm đầu. Một số đàn em quá khích đã để đàng sau chữ "Hồ" tên những con vật. Chúng lấy làm vinh hạnh vì chúng quan niệm thủy tổ con người là súc vật.
* * *
Hơn mười năm sau, Hồ Dương ngã bệnh nặng. Trước khi nhắm mắt, ông bí mật trao đứa con trai của Xuân-Minh có với ông ta cho ông Hồ-Kỳ, và để lại riêng cho ông này một số tài liệu quan trọng. Đứa con trai được đặt tên là Hồ-Nông. Hồ-Nông được du học bên Pháp và tốt nghiệp thành khoa học gia chuyên về cơ thể con người, lại có thêm bằng bác sĩ chuyên môn về giải phẫu thẩm mỹ. Ngoài ra, anh rất thạo kỹ thuật truyền hình và điện ảnh. Anh về nước làm việc cho tập đoàn tà phái. Ai cũng tưởng anh là con riêng của ông Hồ-Kỳ. Khi quá già yếu, nằm trên giường bệnh, ông Hồ-Kỳ cố gắng dặn dò các con hãy tìm cách cho đồng bào Việt-Nam và thế giới biết tất cả sự thật về ông Hồ Dương cùng tà phái của ông. Ông gọi riêng Hồ-Nông lúc đó đã hơn bốn mươi tuổi, còn độc thân, làm chuyên viên cho Trung tâm lưu trữ và nghiên cứu về cơ thể học. Ông Hồ-Kỳ nói thật với Hồ-Nông:
- Cha mẹ chỉ là người nuôi nấng dạy dỗ con. Cha ruột của con là Hồ Dương, lãnh tụ tà phái của chúng ta. Ông có để lại cho cha một cẩm nang, trong đó ghi nhiều điều mà con sẽ phải đọc, và một số tài liệu mật. Trong tủ sách có cuốn Kinh Dịch (Yijing) của Trung Hoa do cha con để lại. Con hãy đọc kỹ sách đó, nhất là những chương nói về sinh lý nam nữ, phương pháp luyện xác trường thọ, bảng số bói Dịch cùng cách bói toán. Trước đây, bận việc, cha chỉ xem qua, không để tâm tu luyện theo chỉ dẫn của Kinh Dịch. Gần đây, cha nhàn rỗi hơn và muốn tu luyện thì đã muộn rồi. Hai tài liệu mật để trong valise dưới đầu giường của cha. Thứ nhất, lọ thủy tinh nhỏ trong đựng ba cái móng tay. Thứ hai, bản sao văn thư mật. Ngoài ra, có tấm gương cũ, là kỷ vật duy nhất của mẹ con để lại nói là rất quan trọng. Con hãy chú tâm hành sử cho đúng lẽ phải của Trời Đất, theo lời dạy của Kinh Dịch.
Dặn xong, ông Hồ-Kỳ nhắm mắt, qua đời. Một thời gian khi rảnh rỗi, Hồ-Nông mở sách Kinh Dịch ra đọc. Trong đoạn nói về sự giao cấu của đàn ông và đàn bà, Kinh Dịch xác định rõ ràng: Giao cấu rất tốt cho sự sống của con người. Nhưng hành động này phải được thi hành với sự đồng tình của cả hai bên. Trái lại, việc giao cấu trở thành cưỡng dâm, đi ngược với ý Trời, và lẽ tự nhiên. Kẻ chủ mưu, mang mặt người mà lòng dạ còn dã man hơn thú vật, cũng như kẻ dự mưu và tòng phạm đều sẽ bị trừng phạt rất nặng, trên cõi đời cũng như dưới âm phủ. Về phép tu luyện cơ thể và thần trí để sống lâu, có đoạn chỉ rõ công dụng vô cùng ích lợi của việc hô hấp đúng cách: Hít vào cho đầy phổi kèm theo một cái hít mạnh cuối cùng trước khi cầm hơi trong tám giây đồng hồ, rồi thở nhanh ra trong ba giây. Làm như vậy trong hai chục lần mỗi buổi sáng sẽ khiến cho trí nhớ minh mẫn, điều hoà áp huyết, có thể chữa bệnh áp huyết cao. Nếu làm mỗi ngày một giờ đồng hồ, sẽ thọ thêm được năm chục phần trăm tuổi thọ tự nhiên của mình. Những người luyện võ công thường tập hô hấp theo phương pháp cầm hơi nói trên nhiều giờ trong một ngày để có nội công siêu đẳng.
Hồ-Nông nghĩ thầm: "Mình chưa hề biết đàn bà, nên vấn đề giao cấu hãy để sang một bên. Phương pháp tập hô hấp của Kinh Dịch có vẻ hấp dẫn. Mình nên bắt đầu làm theo." Từ đó, mỗi sáng sớm, Hồ-Nông ngồi trước cửa sổ tập hô hấp và cầm hơi, trong một giờ đồng hồ. Một ngày khác, khi xem xét cái lọ đựng móng tay, Hồ-Nông thấy trên mỗi móng tay có dính da và máu khô. Mang lọ thủy tinh đựng móng tay vào Trung tâm cơ thể học, kín đáo thử DNA của móng tay cũng như da cùng máu khô dính vào móng tay, anh tìm ra cùng một loại DNA của da và máu khô, và hai loại DNA khác từ ba móng tay. Sau khi lưu trữ cẩn thận những dữ kiện mới khám phá, Hồ-Nông giở văn thư mật của cha ruột anh để lại. Đó là thư hỏi bệnh viện và toà án về hai cái chết của hai chị em bà Xuân-Minh và bà Xuân-Hoàng trong cùng một năm. Cho đến lúc đó, Hồ-Nông chưa biết hai người đàn bà kia là ai. Nhớ tới tấm gương cũ mà bố nuôi của anh nói là của mẹ ruột anh để lại, Hồ-Nông lấy ra xem. Gương còn mới mà đen tối lạ thường. Nhưng anh cũng lau chùi sạch sẽ, treo lên tường cạnh giường ngủ của anh, làm kỷ niệm người mẹ mà anh chưa bao giờ thấy mặt.
Chiều tối một ngày đầu năm 2002, Hồ-Nông nằm nghỉ trên giường sau khi đi làm về. Anh chợt thấy tấm gương đen trên tường tự nhiên rực sáng như màn ảnh TV. Anh ngồi dậy, nhìn vào mặt gương sáng, và vô cùng kinh ngạc khi thấy hình ảnh hai cô gái xinh đẹp, gương mặt giống nhau, tuổi dưới ba mươi, hiện ra mấp máy môi, chỉ tay về phiá chiếc caméra tối tân của Hồ-Nông để trên giá sắt ba chân ở cuối phòng ngủ. Hồ-Nông hiểu ngay. Anh vội đi đến chỗ đó, quay caméra hướng về tấm gương, bấm máy cho thu hình. Rất may là anh luôn để sẵn một cuốn phim chưa dùng trong máy, phòng trường hợp bất ngờ. Những hình ảnh mầu sắc tự nhiên, từ từ hiện lên mặt gương, thành những khúc phim khá liên tục.
Đó là những khúc phim câm gồm những hình ảnh đã được ký ức của các cô gái trong gương ghi nhận xưa kia, bây giờ được chiếu lại trên tấm gương. Ở đó không có hình ảnh của hai cô gái kia, mà chỉ cho thấy những nhân vật cùng cảnh tượng xảy ra chung quanh những nhân chứng phái nữ kia. Người xem phim có cảm tưởng mình ở trong chuyện đang xảy ra trước mắt vậy. Trong khúc phim thứ nhất, một người đàn ông trung niên dẫn nhân chứng vào trong toà nhà lớn. Hắn ta có bộ mặt của loài rắn tiết ra vẻ hung ác, dâm ô, gian tham vô cùng cực.
Tên đó dẫn nhân chứng tới gặp một ông già gần bảy chục tuổi. Khuôn mặt ông già này giống mặt con dê bị cụt sừng. Trán bẹt dưới hai chòm tóc rũ sang hai bên. Cặp mắt nhỏ sâu đen như mắt con chó mực. Cái mũi dài xẹp với hai lỗ mũi hình tam giác. Nhân trung nhỏ dài dẫn xuống cái mồm rộng có cặp môi thâm mỏng. Ria mép chỗ dày chỗ mỏng, trắng đen lẫn lộn. Dưới cằm có chòm râu dê quặp vào trong.
Ông già bắt tay tên dẫn người, nói vài lời. Tên kia gật đầu, cúi khom người lùi ra cửa. Nhân chứng được ông già dắt tay tới cái giường làm bằng gỗ qúy mầu nâu bóng lộn. Đó là giường của Hồ Dương hiện đang được đàn em tà giáo trưng bày như bảo vật: Giường hẹp hơn giường đôi, rộng hơn giường một ; trên giường trải chiếu dày mầu vàng ; đầu giường có một cái gối trắng, một bên gối có cái quạt giấy nâu, bên kia có cái khăn gấp tư ; cuối giường có cái chăn đơn mầu hồng ; một thành đầu giường cao độ nửa thước kê sát tường có khung gỗ gần sát trần nhà, trên treo tấm vải voile trắng ngà ; mỗi bên đầu giường có cái bàn đêm, bàn bên trái có cái đồng hồ báo thức hình tròn và chiếc đèn ngủ chân gỗ chụp trắng loé ánh đèn điện vàng. Ông già tru miệng hôn nhân chứng, ra hiệu cởi quần áo. Ông ta cũng trút bộ đồ ngủ, lộ thân hình khẳng khiu. Ông nằm vuốt ve nhân chứng, đôi môi dẻo quẹo như thốt lời nựng nịu. Cái đầu dê nhô cao hạ thấp trong cử động giao hoan đều đều. Cái mồm há ra, ngậm lại nuốt nước rãi. Hình ảnh của khúc phim mờ tối, vì nhân chứng phái nữ nhắm mắt lại.
Khúc phim thứ nhì xẩy ra trong căn phòng nhỏ, đồ đạc sơ sài. Ta thấy tên mặt rắn lúc nãy ngang nhiên đột nhập phòng riêng của nhân chứng. Hắn nhe hai hàm răng nhỏ ngắn có bốn răng nanh nhọn dài cười đểu cáng. Hình ảnh giao động mạnh cho thấy sự giằng co giữa nhân chứng và tên mặt rắn. Cuối cùng, trần nhà chao qua chao lại rồi đứng yên: nhân chứng đã bị kềm chế trên giường. Những mảnh quần áo đàn bà tung lên tứ phía. Khuôn mặt rắn nhô lên hạ xuống vùn vụt, chứng tỏ cuộc cưỡng dâm tàn bạo đang xảy ra. Cuối cùng, hắn ta há miệng, trợn đôi mắt rắn long lanh vì khoái lạc. Hình ảnh khi mờ khi tỏ, đôi khi nhoè đi, vì kẻ bị cưỡng dâm mất hết tự chủ, khóc mếu, lắc đầu phản đối yếu ớt.
Khúc phim thứ ba cho thấy hai người đàn ông khác. Một người có gương mặt khỉ mẩn đỏ. Một người mang cái mặt của một loại chó Tây mõm ngắn ( carlin / pugđog). Tên mặt chó giơ tay về phiá nhân chứng, nhăn răng cười, vừa nói vừa chỉ tay ra ngoài. Đoạn cả hai ngồi xuống ghế chờ. Hình ảnh dẫn ta vào phòng tắm ở đó quần áo treo kín mặt tường. Nhân chứng lấy một bộ quần áo mặc vào người, rồi đến trước cái gương dựng trên cái bàn cũ có mấy hộp son phấn để trang điểm. Hình người thấp thoáng trong mảnh gương, cho ta nhận thấy khuôn mặt yêu kiều còn rất trẻ của một trong hai cô gái trong gương lúc nãy.
Xong, cô gái quay ra phòng ngoài, đến trước cái gương lớn bằng tờ nhật trình treo trên tường, soi bóng toàn thân một lần chót. Hai tên kia đứng lên. Tên mặt khỉ vung hai tay tỏ vẻ sốt ruột. Tất cả vội vàng ra khỏi phòng, đóng cửa lại, đi xuống thang. Một xe hơi cũ mầu đen đậu bên hè. Tên mặt chó lên ngồi lái xe. Tên mặt khỉ ngồi bên cạnh. Hai cái gáy của chúng cho ta biết cô gái ngồi ghế sau. Bên cạnh cô có một người khác không rõ mặt. Xe chạy quanh co. Đường phố loang loáng hai bên cửa kính trong ánh sáng đèn đường vàng vọt. Đồng hồ trên cổ tay cô gái chỉ tám giờ thiếu hai mươi. Độ năm sáu phút sau, xe chạy qua một cái làng cổ xưa nghèo nàn, ra bờ hồ âm u. Tên mặt chó ngồi trên xe. Tên mặt khỉ xuống xe, mở cửa sau xe giơ tay ra hiệu cho cô gái bước ra. Hình ảnh xoay xoay chứng tỏ cô gái lắc đầu phản đối. Hình ảnh đảo lộn nhanh, bóng đen phủ xuống che kín mọi hình ảnh. Tấm gương đen treo trên tường trong phòng ngủ của Hồ-Nông u tối đi vài phút. Rồi những tia sáng lân tinh vọt lên tứ tung như pháo bông, tụ lại thành một khối bay là là trên cái xác của cô gái nằm giữa đám cỏ bên bờ hồ. Hai bóng trắng từ một cây nhãn phóng lại gần, nâng khối lân tinh, cùng bay lên cao.
Khúc phim thứ tư cho ta thấy một con đường vắng vẻ, hai bên cây cối um tùm. Nhân chứng thứ hai đang bước vội. Chợt chiếc xe hơi cũ mầu đen lúc nãy vọt lên đậu sát lề đường. Hai tên mặt khỉ và mặt chó nhảy xuống. Một tên đứng chặn lối nhân chứng. Hình ảnh nhẩy lên chứng tỏ nhân chứng định tháo thân. Bóng tối ụp xuống... Tấm gương trên tường nhà Hồ-Nông lại u tối một vài phút. Rồi những tia sáng lân tinh vọt lên tứ tung như pháo bông, tụ lại thành một khối bay là là trên cái xác của nhân chứng nằm trên đám cỏ bên lề đường. Đó là cô gái thứ nhì trong gương. Khối lân tinh từ từ rời xác chết, bay lên cao về phiá tây. Có vẻ quen đường lối, khối lân tinh trở lại bờ hồ Nghi-Tàm. Ở đó, hai khối lân tinh hiện thành hai bóng ma, quấn lấy nhau, bay đi.
Hình ảnh trên tấm gương đen mờ dần, tối hẳn. Hồ-Nông đi lại tắt máy quay phim. Anh gãi đầu, suy nghĩ. Rồi anh nhìn vào tấm gương, nói lời khẩn thiết:
- Xin cho tôi được nghe tiếng nói và âm thanh, để hiểu rõ hơn hai án mạng bí ẩn đã xảy ra, vì chúng phù hợp với văn thư mật do cha ruột của tôi để lại.
Tấm gương vẫn trơ trơ. Hồ-Nông ăn cơm tối. Xong, anh ngồi suy nghĩ cho tới khuya. Anh mệt mỏi ngả mình xuống giường ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ, anh mơ thấy hai cô gái trong gương hiện ra. Một cô trông già dặn hơn, cất tiếng nói nhẹ như gió:
- Ta là Xuân-Minh, mẹ đẻ của con, Hồ-Nông ơi! Đây là Xuân-Hoàng, cô ruột của con. Mẹ ăn ở với cha con, nhưng chưa chính thức thành vợ chồng. Tên mặt rắn là Hồ-Xà, coi về an ninh cho tà phái của cha con. Tên đó đã lạm quyền, cưỡng hiếp mẹ nhiều lần. Tên mặt khỉ là Hồ-Hầu, người hộ vệ của cha con do Hồ-Xà chỉ định. Tên mặt chó là Hồ-Cẩu phụ trách lái xe đón mẹ tới gặp cha con. Hồ-Hầu và Hồ-Cẩu là những đứa tay sai của Hồ-Xà. Chúng đã đưa mẹ đi, cũng như đón đường cô của con, rồi chùm chăn giết cả hai. Nhưng mẹ và cô không biết đứa nào đã giết mình. Con hãy xem kỹ các khúc phim, cố tìm ra thủ phạm.
Hồ-Nông giận dữ nói:
- Như vậy, con hiểu gần hết mọi chuyện, từ các tài liệu mà cha con để lại tới những hình ảnh hiện trên mặt gương. Con cũng đã tìm ra được một số dữ kiện có thể truy ra đích danh thủ phạm đã hạ sát mẹ và cô. Cả ba tên kia đều đáng trừng phạt. Tuy nhiên, con không có quyền hạn nào, uy lực gì để chu toàn sứ mạng đó.
Xuân-Hoàng nói:
- Cháu ơi! Vì mất bộ Óc khi lìa đời, cô và mẹ cháu không phát tác được ma lực huyền ảo như những hồn ma khác. Theo sự chỉ bảo của cặp ma cụt đầu, quan thầy của cô và mẹ cháu, cháu có thể giúp cô và mẹ cháu bằng cách ôm lấy tấm gương tối đen vì thù hận, tập trung tư tưởng, dồn hết trí khôn và nội lực con người, cùng tình thương của cháu dành cho cô và mẹ cháu.
Nói xong, cả hai hồn ma biến đi. Hồ-Nông tỉnh dậy. Anh gỡ tấm gương ôm vào ngực, hướng mặt gương ra phiá ngoài. Từ trong gương, hình ảnh của hai thiếu phụ xinh đẹp hiện lên. Họ nhẹ nhàng bước ra khỏi tấm gương. Mỗi hồn ma nắm lấy một tay Hồ-Nông, giao hoà với trí khôn cùng nội lực con người. Anh con trai mở mắt, nói như đã được gợi ý:
- Mẹ và cô hãy đi tìm ba tên kẻ thù, đòi đủ ba món nợ máu.
Hai chị em liền biến thành hai con dơi to bằng cái quạt vỗ cánh bay ra khỏi cửa sổ vào trong đêm tối.
Món nợ máu sẽ phải trả bằng những hình phạt khủng khiếp, vượt ngoài trí tưởng tượng của chính tội nhân, trong bí sử Tấm gương đen.


Số Lần Chấm:  
36

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 5,982
Nguồn:
Đăng bởi: Tí Lười (10/17/2005)
Người gửi: Việt Dương Nhân