Truyện Truyện Dịch

X U Ấ T G I A

Kyiohiro Miura

Phần Hai



PHẦN HAI





Và giờ thì ngày Ryokai phải từ gĩa gia đình cuối cùng cũng đến.

"Nó chỉ cần mang bộ đồ mặc theo mình", Ni sư trụ trì đã căn dặn, nên chúng tôi chỉ mang theo cho con trai những thứ vật dụng nó vẫn dùng hằng ngày ra xe. Vợ tôi nói ít nhất chúng tôi cũng nên mua cho nó bộ giường chiếu mới. Nhưng nhớ lại Ni sư đã nói: "Người tu ngủ ở đâu chẳng được", tôi đành đem cho nó bộ nệm của tôi. Thứ duy nhất vị trụ trì đã bảo chúng tôi mang theo cho nó là cây đèn để bàn học cho nó học bài.

Chiếc radio cassette Walkman mà nó luôn nghe khi ngồi học, và một lô các đĩa nhạc nó đã thâu, theo chúng tôi là cần thiết, nên tôi bỏ tất cả vào một bao giấy để mang theo. Trong lúc đang xếp đồ đạc, tôi quyết định mang theo luôn cho nó dàn máy stereo. Cũng may là vị trụ trì rất thích âm nhạc: Ni sư có cả bộ các đĩa nhạc cũ, băng thâu các buổi thuyết giảng và các thứ tương tự, Ni sư đã có nói một ngày nào đó, Ni sư sẽ nghe chúng.

Tôi đã thưa với Ni sư : "Ryokai thích Bach. Đó là một loại nhạc tôn giáo".

Vì thế, tôi bỏ thêm bộ nhạc Bach của tôi, các đĩa nhạc cổ điển, và bộ nhạc Rock, rồi mang cả lô đó theo. Tôi không biết nó sẽ nghe loại nhạc nào ở chùa, nhưng có lẽ Ni sư sẽ nghĩ tất cả là nhạc Bach. Thật thú vị khi nghĩ rằng dòng nhạc Bach sẽ tràn ngập cả chùa khi vị trụ trì vắng nhà. Nhạc Bach đúng là được làm ra để nghe khi người ta ở chùa.

Sau đó có một tranh cãi nhỏ xảy ra. Cô em gái nhỏ Rie nhất quyết không chịu rời xa dàn máy stereo. Hình như Rie, có thói quen hay bắt chước ông anh, cũng thích nghe nhạc với cái headphone trên đầu, và đã coi dàn máy stereo như một vật sở hữu chung. Nó đã thường bực bội khi bị em gái bắt chước, nên sau đó cô em trở nên kình chống với ông anh. Sự bực bội với anh càng như được tăng cường độ khi gần đây hình như cha mẹ càng như có vẻ chiều chuộng, cho ông anh đủ thứ.

Tôi giải thích: "Khi anh con đã đến chùa ở, anh con sẽ không thể có được những thứ nầy".

Rie trả lời: "Nhưng cha mẹ vẫn có thể mua cho anh ấy chứ".

"Không, không thể được. Khi anh con đã đến ở chùa, anh ấy trở thành một chú tiểu nhỏ thôi. Và các chú tiểu không được những thứ như dàn máy stereo".

"Tại sao không?"

Phải giải thích việc 'bỏ nhà đi theo tiếng gọi của tâm linh' với một cô bé lớp 5 không phải là dễ. Tôi mang dàn máy stereo ra khỏi nhà khi cô bé nhìn theo mắt đẫm lệ. Rồi cô bé thọc tay vào cái túi giấy Ryokai đang mang ra để chắc chắn là các điả nhạc của cô không có trong đó. Trong khi tiếp tục than vãn, cô bé giựt mấy cái điả và đem giấu chúng đi.

Con trai tôi thay đồ, mặc áo tràng, mang theo các thứ vật dụng và cái túi đen của các thầy tu treo lủng lẳng ở cổ. Trên người nó chỉ có đôi giày thể thao là hiện đại. Sau đó, Ryokai đứng ở cửa ngỏ, quay về phía vợ tôi nói: "Mẹ, cảm ơn đã chăm sóc con suốt thời gian qua".

'Hãy ráng giữ gìn sức khỏe", vợ tôi nói, rồi chạy biến vào nhà. Tôi nghĩ là cô ấy sẽ trở ra để tiễn nó lên đường, nhưng không. Tôi để Ryokai ngồi vào băng kế bên, rồi lái xe đi. Ryokai đã ra đi cũng như mọi lần khác khi chúng tôi ra đi, nó không một lần quay nhìn trở lại.

Trong xe, tôi nói với nó rằng khi còn trẻ đã biết chịu cực khổ thì đáng quý làm sao. Đêm trước khi đi tôi đã nói với nó về một chuyện mà tôi lặp lại ở đây lần nữa: về việc khi tôi bằng tuổi nó, tôi đã mất người mẹ như thế nào, và tôi đã bỏ nhà đi học như thế nào. Đó là lúc chiến tranh chống Mỹ. Rồi sau chiến tranh, tôi qua Mỹ, và trong khi làm việc bán thời gian, tôi đã tranh thủ để học xong đại học. Mặc dầu tôi đã vượt qua bao trở ngại, tôi vẫn không thể thành công vì tôi không có mục đích rõ ràng, không có thầy tốt, không có kỷ luật. Khi lớn lên, tôi dần dần nhận ra những việc sau đây: "Con người phải có mục đích rõ ràng, tìm được thầy tốt, và có thể sống một cuộc đời có quy luật. Không có gì may mắn và can đảm hơn thế nữa".

Con trai tôi chỉ nhìn thẳng phiá trước, nên tôi không thể đoán được nó có lắng nghe tôi nói hay không. Rồi, sau một lúc im lặng, bổng nó hỏi:

-Cha, tại sao cha không đi tu?

"Con trai à...", tôi ghì mạnh tay lái, làm cái xe chao đảo gần đụng vào chiếc xe ở lằn bên cạnh. Lẹ làng trở lại lằn xe của mình, tôi tiếp tục: "Cha chưa có đủ duyên lúc đó. Thứ nhất là lúc đó rất khác bây giờ. Lúc còn trẻ, cha luôn mơ tưởng về nước Mỹ, con biết không? Nhưng giờ cha không còn lo lắng gì. Giờ cha chỉ lo cho bản thân mình. Ai cũng nghĩ cho mình và hành động như thế. Nhưng người mà thực sự biết lo cho mình rất hiếm. Trong Thiền, con chỉ lo cho chính con, con phải đối diện với chính mình. Hãy nhìn ngay dưới chân mình là Thiền vậy."

"Thầy trụ trì cũng nói thế".

"Khi còn trẻ, mắt cha hướng về nước Mỹ". Tôi chìm đắm trong sự hồi tưởng. "Đối với cha lúc đó, nước Mỹ dường như là nơi kỳ diệu nhất thế giới. Cha đã nghĩ là nếu cha đi được đến đó, cha sẽ khám phá ra được một điều gì đó rất quan trọng. Nhưng giờ, mắt cha hướng vào bên trong, về nội tâm mình. Cha cũng không thể nói cha đã tìm thấy được mình hay không, nhưng ít nhất cha cũng đang kiếm tìm. Con và cả cha nữa. Chúng ta là một và giống nhau. Cha cũng không biết nữa -có lẽ vì cha đã đến Mỹ, nhưng cha nghĩ về nước Mỹ bây giờ cũng không khác xưa. Nếu cha không đặt chân đến đó, ai biết được cuộc đời sẽ ra sao?"

"Con nghĩ là con rất khác cha".

"Đúng rồi, chúng ta khác nhau. Hiểu được sự khác biệt đó cũng là một phần của Thiền. Người ta đã nói là tự Ngã không phải là khác. Nhưng cũng đúng là cái Ngã là khác".

Tôi thấy mình bắt đầu nói chuyện giống như Ni sư trụ trì, và thật khó chú tâm đến con đường trước mắt khi nói những chuyện như thế, nên tôi đổi đề tài. "Con đã thay đổi nhiều kể từ lễ thọ giới xuất gia có phải không? Khi thầy trụ trì hỏi nếu con có muốn trở thành một vị tu sĩ không, hình như con đã nói 'Con không thấy tự tin'". Có thật là con trai tôi đã tự quyết định đi tu? Và nó có hài lòng với sự lựa chọn đó không? Cuối cùng tôi đã nói được những điều tôi suy nghĩ trong đầu.

"Cũng vậy thôi", nó trả lời thẳng thắn. "Con vẫn không có tự tin. Nhưng thầy trụ trì nói là lúc ban đầu ai cũng thế. Thầy nói là với thời gian lòng tự tin sẽ đến".

"Đúng vậy. Nó sẽ đến với thời gian", tôi trả lời, tay nắm chặt tay lái, và gật đầu sốt sắng.

"Thầy bảo con cứ dốc lòng tu tập và đừng nghĩ gì đến những chuyện khác. Cứ tu tập cho chính mình".

"Đúng. Đó là cốt lỏi. Đừng nghĩ về bất cứ chuyện gì. Con là con: không cần phải nghĩ về cha, về mẹ. Hãy trở nên một người tu xứng đáng, đó là tất cả." Nước mắt ấm đầy cả mắt tôi.

Tôi bắt gặp mình suy nghĩ: tôi không cần phải quan tâm tới những chuyện đã xảy ra; cái gì qua đã qua; chắc chắn là mọi sự rồi sẽ tốt thôi. Hình như tôi đang cố gằng đè nén những nổi hoài nghi và bất trắc còn lại trong tôi. Con trai tôi vặn radio lên, và khi tiếng nhạc pop tràn đầy trong xe, nó bắt đầu gỏ nhịp tay theo điệu nhạc.

Khi chúng tôi đến chùa, con trai tôi đặt lòng bàn tay trên chiếu, cúi lạy Ni sư trụ trì đang ngồi ở bàn uống trà.

'Con vừa từ gia đình Kimura trở về", nó thưa.

Ni sư cười, quay sang tôi nói: "Cảm ơn về sự vất vả của con".


Tôi không biết gì về chuyện thay đổi họ tên. Tóm lại, tôi chỉ tưởng là con tôi đổi tên, chứ không phải được gia đình đó nhận nuôi. Tôi đã nghĩ là nó chỉ nhận một cái tên mới, tôi chẳng bao giờ ngờ là nó sẽ trở thành một thành viên trong gia đình ấy.

Chỉ khi tôi nghe một người bạn nói là Ni sư trụ trì đã nộp đơn xin toà xoá tên con tôi ra khỏi sổ gia đình, tôi mới thấy được vấn đề nghiêm trọng thế nào.

Khi trở về nhà, tôi tuôn ra với vợ: "Thầy trụ trì đã đưa đơn xin xoá tên con ra khỏi sổ gia đình rồi".

"Thế à?", vợ tôi trả lời. Hình như cô ấy không có vẻ gì ngạc nhiên. "Chuyện đã như thế thì còn làm gì khác hơn được chứ".

Có lẽ tôi cũng đã quen với những câu trả lời cộc lốc như thế, nhưng giọng nói của cô ấy làm tôi bị sốc. "Sao em dững dưng quá vậy", tôi nói.

Là người mẹ, có lẽ cô ấy đã biết trước chuyện nầy sẽ xảy ra từ khi có vụ đổi tên. Có lẽ cô đã không mất bình tỉnh vì chúng tôi đã chứng kiến buổi lễ trong đó con tôi đã tuyên bố cắt đứt mọi liên hệ với cha mẹ nó.

Về những chuyện nầy, tôi đều có hỏi qua ý kiến vợ tôi, nhưng cô ấy chưa bao giờ có ý kiến phản đối. Khi buổi lễ thọ giới xuất gia chấm dứt, Ni sư trụ trì cúi xuống, nói nhỏ với tôi rằng trong những trường hợp như vầy, người mẹ thường là người dễ chống đối nhất. "Nhưng tôi là người cả quyết, nên đã quyết định dứt khoát như thế", sau nầy khi nói với người khác về vấn đề nầy, vợ tôi đã nói như thế trong tiếng cười.

Khi con trai tôi chuẩn bị về chùa, cô ấy đã không ra đưa tiễn, tôi đã tưởng đó là do 'cá tính cả quyết' của cô. Vì thế, tôi rất ngạc nhiên khi trở về nhà, thấy đôi mắt cô ấy sưng lên. Nhiều ngày sau nữa, đôi mắt đó vẫn đỏ mọng, làm tăng thêm vẻ buồn thảm trong nhà. Vờ như tin vào 'tinh cách cương quyết' của cô, tôi tiếp tục làm như sự buồn rầu của cô ấy chỉ là tình cảm thoáng qua. Tôi không quan tâm mấy.

Giờ, cô ấy nói quay lưng về phía tôi, hướng mặt về sàn nước: "Em chỉ làm theo những gì anh nói. Lúc nó đổi tên cũng vậy".

"Đừng có nói như thế! Chúng ta đã chẳng trao đổi với nhau những chuyện ấy sao?"

Cô ấy đang giận dữ về chuyện gì đó, mà tôi không biết là chuyện gì. Có lẽ cô đã nhớ con nhiều hơn cô tưởng, và bứt rứt không biết phải làm sao với nổi buồn trong lòng mình. "Mọi chuyện anh đều tự quyết định! Anh đâu có cần biết em suy nghĩ như thế nào".

Lại như thế nữa. Dầu khoảng cách giữa chúng tôi không lớn, nhưng lúc nào chúng tôi cũng kết thúc cãi nhau như thế nầy. Tôi nói: "Anh không nói về chuyện đó. Anh chỉ muốn nói về việc xoá tên con ra khỏi sổ gia đình".

"Anh biết chuyện đó sẽ phải xảy ra, phải không? Bây giờ có nói gì cũng đã muộn. Anh quá ngây thơ. Không phải anh là người đã quyết định việc nầy sao? Nếu anh không bằng lòng, anh đã ngăn chặn nó xảy ra rồi".

"Em nói đúng. Nhưng không phải là anh ngây thơ. Có điều là anh không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau khi con mình đã thọ giới".

Tôi rủn cả lòng khi nghe cô ấy bảo rằng đánh lý ra tôi phải ngăn chặn việc ấy. Và cô còn tiếp tục: "Anh muốn nói gì chứ? Em ghét lắm khi anh thiếu cương quyết. Em không màng nếu nó có phải bỏ tên Kimura. Bộ anh không nói nó vẫn là con mình sao? Vả, em cũng chẳng ưa cái tên Kimura mấy. Những điều thầy trụ trì đã nói với anh đúng đó: Nếu nó giữ tên Kimura, lớn lên nó sẽ bay bướm với đàn bà, y như anh vậy".

"Nầy nầy! Lúc đó tôi còn trẻ, lại sống ở Mỹ".

"Giờ nó cũng khoảng tuổi đó vậy".

Khi Ni sư trụ trì và tôi hàn huyên sau những buổi tọa thiền, Ni sư thường nói giọng vui vẻ: "Ryokai hỏi thầy rằng: 'Chừng nào con mới trở thành Gyokusen?' Và nó cẩn thận viết trong các quyển tập học năm nay chữ 'Gyokusen Ryokai'. Làm như nó không thể đợi được vậy."

"Vâng, chúng ta phải lo chuyện giấy tờ ngay", tôi trả lời, cố gắng kéo dài quá trình hoàn tất thủ tục cho con thêm chút nữa.

"Khi con đến, nó thưa với thầy: 'Ông Kimura vừa đến'. Thiệt buồn cười. Đáng lý ra nó phải nói: 'Cha con vừa đến'. Làm như nó nghĩ mình đã là một Gyokusen".

Tôi hơi thất vọng khi nghe thế. Nhưng tôi cũng phần nào biết nó sẽ như thế. Nó lúc nào cũng cương quyết giống như mẹ nó. Có lẽ như thế tốt hơn: có nhớ nhà cũng không ích lợi gì.

"Trong trường hợp đó tôi sẽ cố gắng giải quyết cho ông càng sớm càng tốt", người nữ thư ký trung niên mặc áo tay ráp, tử tế nói với tôi.

Tôi muốn nói không cần phải gấp gáp đâu, nhưng kiềm lại.

"Chúng tôi mời cha mẹ ruột đến để chắc chắn là có sự bằng lòng của họ trong việc nầy. Nhiều khi trẻ con bị bắt đưa đi làm việc trong các gia đình hay đâu đó. Tệ hơn, nhiều khi chúng được dùng như một thứ thế chấp để mượn nợ. Rất ít trường hợp cha mẹ cho con vì những lý do cao thượng như của ông bà".

Tôi lắng nghe với lòng xốn xang. Có lẽ bà ta đã chứng kiến hàng ngàn cảnh cho con. Biết hết mọi mánh lới. Nhưng với tôi, đây là lần đầu, và tôi cảm thấy bất lực. Tôi tự hỏi, có gì bảo đảm mọi việc sẽ xảy ra tốt đẹp không?

Bỗng dưng người thư ký nói: "Ni sư trụ trì là người rất tốt. Nếu không, chúng tôi đã không cho phép những chuyện như vầy đâu. Cuộc đời ni sư rất cực khổ. Bị mẹ ghẻ hành hạ, ni sư bỏ nhà đi lúc khoảng mười tuổi, và phải làm đủ thứ công việc: giữ trẻ, làm trong các xưởng gỗ, văn phòng, coi bói, giúp việc ở đền Shinto, phụ việc trong phim trường, biên kịch, công chức, bất cứ thứ gì người ta có thể nghĩ ra. Ni sư biết cả hai mặt của cuộc đời. Khi ni sư chỉ mua một tờ giấy, liếc mắt bà cũng biết gía bán đó là sĩ hay lẻ, giá trị làm sao. Bà còn biết giá gỗ giỏi hơn các bác thợ mộc ngày nay, biết làm sao dựng cột, sơn tường. Gần như việc gì bà cũng biết làm theo phương pháp cổ truyền: phơi trà, làm dưa cải, sửa soạn quà cáp và viết thiệp chúc mừng. Thật đáng nể. Khi người ta đến viếng thăm bà mà cứ nói lăng nhăng, không nói thẳng vào vấn đề, bà sẽ nói ngay: "Thôi, cứ vào thẳng vấn đề đi". Bà là vị sư mà các Phật tử có thể tìm đến để tâm sự khi có vấn đề giống như thời xa xưa. Và càng đáng khâm phục hơn khi ta nhớ rằng bà là một người đàn bà. Bà giống như một người đàn ông, nhưng lại có nội tâm thậm sâu mà chỉ có một người đàn bà mới có thể có được. Đôi khi ta cảm tưởng như bà không phải là người bình thường. Không phải loại người ta muốn gây thù oán! Nhưng riêng về phần ông, ông hãy yên tâm, Ni sư là người ông có thể tin cậy được".

Tôi liếc nhìn người thư ký, cảm nhận một sự đồng cảm.

"Ni sư năm nay bao nhiêu tuổi?" người thư ký hỏi nhỏ.

"À, tôi cũng không rỏû. Có lẽ sáu mươi lăm hay sáu mươi sáu gì đó".

"Còn sức khỏe bà ra sao?"

"Sức khỏe của bà?", tôi lập lại, ngạc nhiên vì câu hỏi. "Thực ra thì cũng không tốt lắm. Bà đã giải phẩu gan. Hình như bà sống bằng ý chí của mình. Tôi cũng hy vọng là bà mạnh khỏe cho đến ngày con tôi ra trường".

"Hình như những người có luyện tập từ nhỏ, thì họ dễ thích ứng với tuổi già hơn. Bà ấy có bà con thân thích gì không?"

"Tôi nghe có ai đó ở vùng Hokuriku. Nhưng giờ thì bà đã đổi tên, và đã rời bỏ nơi đó nhiều năm về trước. . . ."

"Trong trường hợp đó, con trai ông là người thân duy nhất, có phải thế không?"

"Có lẽ vậy", tôi trả lời, lại thót người lần nữa.

"Có lẽ ông cần suy nghĩ thêm về điều nầy, dầu tôi chắc ông cũng đã nghĩ đến rồi".

"Về. . .điều gì?"

"Người con nuôi phải chịu trách nhiệm nuôi dưỡng mẹ nuôi".

"Đúng vậy", tôi nuốt nghẹn. "Vâng, tôi có biết điều đó".

"Quan trọng lắm đấy!". Người thư ký tiếp tục. "Vì sao? Vì mới hôm qua hôm kia gì, cha mẹ ruột của một đứa bé được một nhà sư nhận nuôi đã giết chết nhà sư vì không làm theo giấy cam kết. Đó là một trường hợp hiếm thấy, vì nhà sư đã giấu rằng mình có bịnh, và hình như đó là một trong những lý do gây ra án mạng. Ông không thể biết chuyện gì sẽ xảy ra đâu, ngay cả với những người mạnh khỏe".

"Điều đó cũng đúng. Nhưng Ni sư luôn đặt việc tu học lên trên mọi thứ. Bà là loại người dầu cho cha mẹ ai đó có qua đời, bà vẫn bắt người đó phải ngồi Thiền trước đã".

Người thư ký mỉm cười nói: "Aáy là tôi chỉ nhắc ông những việc như thế có thể xảy ra, thế thôi".


"Trong ba năm nó sẽ không được trở về nhà", Ni sư trụ trì nói với tôi, ngay sau khi tên của Ryokai đã tách ra khỏi sổ gia đình. "Nó cần phải bỏ các thói xấu ở thế tục và sự nuông chiều trong gia đình. Gần đây con lại làm hư nó nữa, có phải không? Sau ba năm rồi sẽ tính. Có thể lâu hơn-ai nói trước được?"

Trở về nhà, tôi báo tin nầy cho vợ tôi.
"Thôi hết hy vọng rồi", cô ấy thở dài. Rồi cô ấy nói: "Ngay đến sau ba năm, ni sư cũng sẽ không để nó trở về đâu. Em biết mà. Hồi đó ai nói rằng nó sẽ về mỗi thứ bảy: Giờ thì năm mới nó cũng không được về. Vậy mà em dự tính dẩn nó đi chơi suối nước nóng. Nó rất thích suối nước nóng. Các thú vui trong đời em càng ngày càng thu hẹp lại. Khi em làm theo lời anh, là mọi việc hỏng hết. Anh thì đâu có vấn đề gì-anh vẫn gặp nó vào những ngày chủ nhật mà".

"Nếu em muốn gặp con, sao em không đến chùa? Hằng năm có bao nhiêu dịp lễ lộc, cúng kiếng".

"Em không có tự nhiên tham gia vào các thứ đó chỉ vì muốn được gặp con. Em không thể hạ mình đến thế đâu!".

Bàn ghế cô ấy đã dành để cho con trai tôi dùng, giờ để lại cho Rie, và tất cả những đồ đạc, sách vở của nó được xếp cả vào tủ. Vợ tôi giờ dường như câm lặng ngay cả ở các bữa ăn; khi phơi đồ hay rửa chén, cô hát khe khẽ chỉ cho riêng mình nghe. Đôi khi, cô ấy ra đứng ở hàng hiên, trân trối nhìn ra con đường dẫn ra ga. Đó là con đường con trai chúng tôi vẫn thường đi đến trường. Sửa cái mủ trệt xuống đầu, nó đạp xe dọc theo con đường đầy cây cho đến khi biến mất sau dãy đồi ở bên trái.

Khi tôi đến gần, tôi nghe cô khe khẻ hát bài hát con trai tôi ưa thích. Nó thường dùng hai ngón tay đánh lên các phím piano bài nhạc nầy. Điả nhạc đó được cất đi ngay sau khi con trai tôi rời bỏ nhà; một lần, tôi định hát lại điả nhạc nhưng vợ tôi đòi tắt đi.

Tôi đứng cạnh cô ấy, không nói lời nào. Không quay lại nhìn tôi, cô tiếp tục nhìn đăm chiêu vào khoảng không. Đôi khi cô nói: "Có cảm tưởng như Ryota sẽ hiện bất cứ lúc nào từ đám rừng cây kia với cái đầu tròn như quả trứng, nhấp nhô lên xuống".

Cô ấy không còn gọi nó là Ryokai nữa. Ngay khi tôi nói Ryokai, cô bướng bỉnh trả lời là Ryota. Ở bàn ăn, khi dọn món hamburger mà nó ưa thích, cô nói: "Nếu Ryota mà có ở đây, nó đã kêu lên 'Ồ, món con ưa đây'".

Con trai tôi là một đứa trẻ dễ thương. Có chuyện gì, là nó không thể giữ kín được. Không biết nó sẽ trở thành một nhà sư như thế nào đây? Tôi không thể không nghĩ rằng có thể nó sẽ trở thành một nhà sư chỉ giỏi rót trà tiếp khách. Nó rất thích đùa giỡn.

"Hôm nay ở trường con ngốn hết một cái hamburger. Thầy giáo đã cho con".

"Con vòi vỉnh thầy phải không? Con không được làm vậy", vợ tôi phản ứng đầy vẻ nghiêm trọng.

"Con đùa thôi!", nó cười ngất.

Nó cũng hay chọc nghẹo Rie như thế, rồi phá ra cười. Con bé cũng thế lúc nào cũng tin anh, rồi khi biết mình bị lừa, cô bé sẽ rượt đánh anh bằng một cái gối hay con búp bê đang cầm trong tay.

Ryota ít khi chơi với Rie, trừ khi cậu muốn chọc nghẹo em. Trong khi Rie thích theo dỏi, để bắt chước anh. Cô bé vẽ cùng loại tranh, nghe cùng loại âm nhạc, coi cùng các chương trình TV. Tuy nhiên lòng thương đối với người anh của cô bé không được đáp trả lại. Anh cô không nhường em viết màu hay các băng nhạc. Hai đứa hình như cãi nhau luôn, chỉ ngừng lại khi cùng ngồi trước màn ảnh TV hay dàn máy stereo. Chỉ có lúc đó tôi mới thấy chúng đúng là anh em.

Nhưng khi người 'bạn' của Rie đã đi, em buồn bực, chán nản và cô đơn.

"Khi anh con ở nhà, nó toàn chọc ghẹo con thôi", tôi an ủi.

"Nhưng con vẫn thích có anh ở nhà hơn", nó nói.

Tôi thật sự đau lòng khi nhìn Rie có vẻ cô đơn như thế. Tôi chợt nhận ra rằng tôi đã bỏ quên tình cảm của con gái. Quá lo nghĩ cho Ryota, tôi không nhận ra hậu quả không hay cho các thành viên khác trong gia đình. Chính Rie chứ không phải là Ryota là người có lòng thương người, thưong vật. Nên nhìn trên một khía cạnh nào đó, có lẽ Rie xuất gia thích hợp hơn là Ryota. Tôi trở nên lo sợ cho Rie bị tổn thương quá mức chính vì tính nhạy cảm của bé.


Vào những ngày chủ nhật, khi cả gia đình ngồi quanh bàn ăn, tôi trở nên có thói quen kể những chuyện lặt vặt về Ryokai. Nhưng ngay các tin tức nầy cũng không phải do tôi nắm được, mà do Ni sư trụ trì hay bà giúp việc trong chùa nói lại. Ni sư đã cấm tôi không được trực tiếp gặp nó.

"Cha mẹ hơn là ai hết làm cản trở sự tu học của con cái", Ni sư nói.

Tôi nghĩ, điều đó Ni sư nói đúng. Cha mẹ khi có cơ hội là chạy đến dúi tiền xài vặt hay quà bánh cho con mình.

"Tuyệt đối không được cho nó tiền xài vặt", Ni sư nói. "Mọi thứ nó cần đã được nhà chùa chu cấp. Mọi người đều có tiền lương, giống như trong một công ty. Mổi tháng thầy được hai mươi ngàn yen. Chẳng lâu nữa, Ryokai cũng được tiền tháng. Thành ra đừng cho nó tiền dễ dàng quá. Nếu con có gì cần đưa cho nó, hãy báo cho thầy biết. Không bao giờ được đưa thẳng cho nó thứ gì".

Do đó mọi liên hệ trực tiếp đều ngưng lại. Tôi chỉ có thể nhìn từ xa khi nó quét vườn, lau sàn hay ngồi Thiền. Trong lúc thọ trai, tôi ngồi bên nầy, nó ngồi bên kia, và Ni sư trụ trì ngồi chính giữa. Tôi có cảm tưởng như chúng tôi vừa được đưa đến một xứ sở nào khác, nơi đầy những luật lệ nghiêm khắc.

Khi chúng tôi vô tình đi ngang qua nhau như lúc dọn dẹp sau bữa ăn hay làm chuyện gì đó, tôi sẽ thì thầm lén lút: "Nầy, thế nào rồi?"

"Tốt", nó chỉ nói có thế với vẻ lo lắng trên nét mặt, mắt nhìn xuống. Nó không còn giống như con trai của tôi nữa, điều đó làm tôi đau khổ và bực tức. Tôi chẳng bao giờ thấy nó được vui chơi, ngang dọc như lúc ở nhà. Không biết có chổ nào để nó làm thế không? Tôi lo âu không biết nó có có thể chịu đựng nổi bao stress đang đè trên vai nóù.

Vợ tôi làm mấy món ăn mà nó thích, bảo tôi mang đến cho nó, nhưng tôi nhắc cô ấy là chúng tôi đã được căn dặn rằng đừng có chọc con chó đang ngủ. Nếu chúng tôi mang những thứ ấy đến thì phải cúng dường chùa, mà chúng tôi đâu có được quyền cúng thức ăn sớt, thừa cho chùa.

Ngay tiền lì xì Tết của ông bà cho nó hằng năm cũng bị trả lại. "Con trả lại dùm đi, và bảo với họ đừng làm thế nữa".

Ôi, tôi đã cố gắng, nhưng tiền lì xì không thể trả lại được. Chúng tôi quyết định bỏ số tiền trong ngân hàng dưới tên nó, nhưng tôi tự hỏi không biết đến bao giờ chúng tôi mới có thể đưa cho nó.

Ni sư trụ trì đã khuyên tôi phải chịu đựng dầu có cảm thấy bất nhẫn đến đâu, nhưng giờ tôi mới nhận ra làm vậy không vì đứa trẻ, mà vì các bậc cha mẹ.

Cha mẹ ruột của Ryokai thì phải lánh xa nó, còn cha mẹ 'đở đầu' thì không. Đó là những 'cha mẹ trong đạo tràng'.

"Thầy đã suy nghĩ về chuyện đó, và với tư cách là trưởng đạo tràng", Ni sư trụ trì nói với tôi. Ông ta là chủ cái chợ nhỏ trước ga xe lửa. Khi vợ ông ta bị đau uốn váng gần chết, mổi sáng trước khi đi làm, ông thanh tịnh hoá mình và đến chùa cầu nguyện. Một buổi sáng, tôi bắt gặp ông khóc trước tượng Phật Thích Ca Mâu Ni khi ông dâng cúng Ngài trong chánh điện. Vợ ông thoát chết như một phép lạ.

Trong cuộc họp mặt, sau lễ xuất gia của Ryokai, ông đã đưa ly lên chúc tụng, rồi mắt đầy lệ, ông ôm lấy tay tôi, bảo: "Giờ thì Thiền viện đã ổn rồi. An toàn rồi".

"À, ông ta mau nước mắt vậy chứ không có ai can đảm bằng đâu", một lần vị trụ trì đã nói với tôi như thế.

Những 'cha mẹ đỡ đầu" là những người mà các chú tiểu đang học tu có thể đến thưa hỏi những chuyện mà các chú không thể thưa với thầy trụ trì. Trong trường hợp vị trụ trì mất, cha mẹ đỡ đầu sẽ thay thầy chăm lo cho các chú tiểu. "Trong trường hợp khẩn cấp, có cha mẹ ruột cũng vô ích thôi", Ni sư trụ trì nói.

Ngay như khi Ni sư trụ trì mất, lúc đó, chúng tôi cũng không phải là người được quyền chăm sóc nó.

"Có lẽ con cũng biết rồi đó, con trai thường có khuynh hướng chống đối lại cha mẹ mình và ít khi hỏi ý kiến cha mẹ điều gì. Dỉ nhiên là không kể trẻ nít hay những đứa quá yếu mềm."

Cha mẹ đỡ đầu mang cho Ryokai đủ thứ đồ. Và Ni sư trụ trì tỏ vẻ hài lòng vì chuyện đó. "Lần sau con nên mang cho nó thứ gì?", ông hỏi Ni sư trụ trì.

"Hảy coi xem. Lâu rồi nó không được ăn thịt, đem cho nó ít thịt", Ni sư trả lời.

"Dạ", ông nói. Rồi với một đĩa khổng lồ đầy thịt sukyaki ở chợ của ông, ông mang theo vợ con, ra chổ cây chérie gần khu chánh điện ngồi nướng thịt.

Vào những dịp lễ nghĩ hè hay năm mới, ông ấy mang áo, đồ lót, và các thứ đại loại như vậy, 'cho Ryokai'.

"Oâng ta mang đủ thứ cho Ryokai, nhưng không mang gì cho thầy cả", Ni sư trụ trì nói, nhưng Ni sư không có vẻ gì là phiền hà về chuyện đó cả.


Ni sư trụ trì thích nói với mọi người về Ryokai. Thường Ni sư cũng thích tán gẫu và bàn chuyện -một cá tính hình như khó dẹp bỏ của phái nữ- dầu nhờ vậy chúng tôi được biết con trai mình sống ra sao. Nhất là vấn đề học hành, chúng tôi không có cách gì biết được nếu không qua Ni sư trụ trì. À, cũng có người đàn bà phụ việc trong chùa đôi khi thầm thì vào tai tôi, ở cửa nhà bếp.

"Kỳ thi rồi nó làm bài tốt không thưa thầy?", khi tôi hỏi những điều như thế, Ni sư thường trở nên bực bội. "Đừng bận tâm vào những chuyện nhỏ đó. Nếu cứ để ý từng điểm nó được, hay nó mất, thì chịu sao nổi. Tại sao mấy con số điểm lại quan trọng thế? Thầy đã từng nói với Ryokai: Miễn sao con đậu là được. Thầy cũng không ưa mấy người học giỏi quá. Nói điều nầy với con thì có lẽ không hay, chứ những người học rộng như con cũng chẳng ích chi mấy. Lúc nào cũng nghĩ đến những việc nhỏ mọn. Không đi tới đâu với những vọng tưỡng trong đầu. Ryokai cũng bị nhiễm tánh hay lo của con, và ta phải sửa đổi nó nhiều về việc nầy. Ta không hỏi điểm của nó, sau mổi bài thi".

Đáng lý ra tôi phải biết rằng hỏi Ni sư về điểm của nó cũng giống như phải giải công án làm sau lấy chiếc chuông vàng ra khỏi cổ sư tử.

Nhưng điểm con trai tôi đã tiến bộ hơn. Người đàn bà phụ việc đã nói nhỏ vào tai tôi: "Lần nầy đứng hạng thứ 11, lên được ba hạng so với lần trước. Học giỏi ngoại ngữ, nhưng toán và khoa học vẫn còn kém. Còn lớp giáo lý điểm cao nhất".

Lần khác, bà nói: "Giờ lên hạng tám trong lớp rồi. Lại lên ba hạng so với lần trước. Điểm toán lên được đến tám điểm. Ryokai học chăm lắm".

Bà phụ việc nói với tôi những việc nầy như thể nếu Ni sư trụ trì biết được Ni sư sẽ cho bà mấy cây thiền bản.

Nếu ta nhớ rằng nó đã từng đứng thứ hai, thứ ba chót lớp ở trường học củ, thì đây quả là một thay đổi lớn. Ni sư trụ trì đã bảo Ryokai đừng quan tâm về thứ hạng, nhưng Ni sư cũng khuyên nó phải cố hết sức mình về toán và viết chữ. Những kiến thức đó rất cần cho việc điều hành Thiền viện. Đó là lý do tại sao Ni sư bắt nó phải ghi xuống từng xu trong sổ chi tiêu. Chữ viết quan trọng trong việc khắc chữ lên các bảng gỗ cho các ngôi mộ. Vì Ryokai viết tay trái, chữ viết của nó trong giống như mấy hình người bằng que diêm. Đối với tôi, việc nầy coi bộ khó sửa đổi lắm. Con trai tôi chẳng bao giờ quan tâm về chữ viết của nó, nhưng chỉ với một lời nói của Ni sư, nó đã gia nhập câu lạc bộ chữ viết ở trường, và chuyển qua viết chữ bằng tay mặt. Những tác phẩm của nó dần dần không chỉ được trưng bày ở trường, mà còn ở các triển lãm khác, và có cái còn được tặng gỉai nữa. Uy lực của Ni sư quả to tát.

Trong một lần nói chuyện với Ni sư lúc dùng trà, tôi hỏi: "Nó đã được giải thưỡng gì vậy, thưa thầy?".

"Gì? À, quà gì đó do giáo hội tặng. Tốt hơn là đừng nên trúng giải gì cả, nếu không cái mũi nó lại phồng to lên".

Rồi Ni sư đổi đề tài: "Nó cần thực hành toán nhiều hơn. Nó vẫn chưa nắm được những cái căn bản".

"Có lẽ vì chính con cũng ghét toán", tôi lý giải.

"Nó giỏi tiếng Anh, giống như con là thầy dạy tiếng Anh, nhưng nó vẫn chưa nắm vững mẫu các câu căn bản. Không biết cha mẹ nó lo làm gì? Có thể nó có được điểm cao vì đã học thuộc lòng tiếng Anh, nhưng với toán không thể làm như thế được. Nó còn phải biết cách áp dụng toán. Nó quá cứng nhắc, giống như con vậy. Khi nó làm việc nầy, nó quên hết mọi thứ khác. Con nào, cha nấy mà. Ừ, thì nó cũng cố gắng lắm. Vả nó còn trẻ, nó sẽ tiến bộ hơn thôi. Nhưng thầy đã bảo nó đừng lo cho tiếng Anh, mà chú tâm vào học toán mới đúng. Ngày hôm kia, nó được chín mươi tám điểm trong bài kiểm Anh vân, thầy không nói gì, nên nó hỏi sao thầy không khen nó vậy. Thầy bảo nó, con đừng có nói quàng xiêng. Tiếng Anh có cần cho người tu không? Con có muốn đi ngoại quốc học và thuyết giảng Thiền không? Dỉ nhiên một số thầy thích làm vậy, nhưng thầy không thích thế. Tiếng Anh đâu có lợi ích gì cho người chỉ cốt chí tu Thiền. Thầy đã nói với nó như thế".

Con tôi đã hiểu ý Ni sư. Khi thầy giáo chủ nhiệm giới thiệu nó đi học một lớp Anh văn đặc biệt, nó đã từ chối. (Để tạo nhiều cơ hội cho học sinh có thể được tuyển vào các trường đại học tốt, trường con tôi đã mở những lớp đặc biệt cho tiếng Anh và toán. Được chọn vào các lớp nầy là một danh dự).

"Hình như thầy giáo chủ nhiệm của nó ngạc nhiên đến há hóc mồm, khi Ryokai nói với ông là nó không thích học ở đó vì thầy dạy Thiền của nó đã dạy rằng nó chỉ cần được điểm đậu", Ni sư trụ trì cười ngất.

Tôi cũng được biết là thầy giáo chủ nhiệm của nó còn đề nghị nó làm lớp trưởng, nhưng nó cũng đã từ chối, nói rằng thầy nó không ưa những chuyện như thế.

Vợ tôi hỏi: "Tại sao mình không được coi điểm hạng của nó chứ? Đâu có phải là mình sẽ cho nó tiền hay quà đâu. Mình chỉ muốn coi nó học hành ra sao thôi. Cha mẹ muốn coi điểm hạng của con thì có gì xấu đâu?"

"Nhưng ta có còn là cha mẹ của nó nữa đâu", tôi nói, cảm thấy quá đau lòng vì những lời vừa thốt ra.

"Anh nói cái gì? Em đã sinh ra nó mà. Em không bao giờ quên sự đau đớn khi sinh nó ra. Làm sao người đàn bà đó có thể hiểu được những điều như thế".

Đây là lần đầu tiên tôi mới nghe vợ tôi gọi Ni sư trụ trì bằng "người đàn bà đó".

"Đó là một vấn đề khác nữa. Đã gia nhập tăng đoàn Phật giáo. Giờ nó nghe theo lời dạy của Đức Phật, đâu phải của chúng ta".

"Có nghĩa là lời dạy của thầy trụ trì chứ gì. Em biết điều đó chứ. Từ lúc nó cạo đầu trong ngày lễ xuất gia, em biết rằng nó đã chọn đi con đường khác chúng ta. Đó là lý do tại sao em chỉ ngồi nhìn mà không nói tiếng nào. Em đã cố gắng không can thiệp cho đến giờ phút nầy và cũng có ý sẽ tiếp tục làm như thế. Nhưng có gì sai đâu khi chúng ta chỉ muốn biết nó ra làm sao? Người khác cũng biết mà. Đâu có phải là điều bí mật gì, có phải không? Tại sao chỉ có cha mẹ của nó là không được biết?"

Tôi không có câu trả lời cho cô ấy. Với tư cách là cha mẹ, chúng tôi không có quyền ư? Hình như đó là cách suy nghĩ của Ni sư. Ni sư gọi đó là "lòng mù quáng của cha mẹ". Suy nghĩ như thế, nên Ni sư có vẻ coi thường chúng tôi. Vậy mà chúng tôi cũng phải xếp đặt mọi thứ theo Ni sư. Chúng tôi đã xoá tên nó ra khỏi sổ gia đình để Ni sư được đỡ đầu nuôi dưỡng nó. Giờ con trai chúng tôi ở trong tay Ni sư, với sự chấp thuận của chúng tôi. Ít nhất theo phép xã giao, Ni sư cũng phải cho chúng tôi biết về nó chứ. Đâu có phải là chúng tôi sẽ nhảy dựng lên khi biết điều nầy, điều nọ về nó. Chúng tôi không thể nào coi nó chỉ như một người xa lạ. Ngày nào chúng tôi còn sống, tình cảm chúng tôi dành cho con sẽ không bao giờ thay đổi. Dù chúng tôi đã từ bỏ hết mọi quyền làm cha mẹ, tình cảm dành cho con chúng tôi vẫn nguyên vẹn. Đó là "lòng mù quáng của cha mẹ" sao?

Còn Ni sư thì sao? Ni sư không có điều mù quáng sao? Khi Ni sư đối xử với Ryokai bằng tình thương, trong đó không có 'tình cảm của cha mẹ" sao? Chính vì nhìn thấy Ni sư đối xử với Ryokai như thế mà chúng tôi đầy lòng biết ơn, chỉ biết chấp hai tay lại cảm ơn. Chúng tôi chẳng bao giờ ganh ghét hay cay đắng đối với Ni sư. Tất cả những bậc cha mẹ ai không sung sướng khi thấy con mình được thương yêu, chăm sóc. Như thế thì tại sao Ni sư lại không hiểu tình cảm của chúng tôi, những cha mẹ ruột của nó?

Việc Ryokai sẽ làm người thừa kế, rõ ràng là có liên quan với điều mong ước cả đời của Ni sư là phải phục hồi lại Thiền viện Zenkaiji. Trong thời kỳ bất ổn của cuộc cải cách đất đai, Ni sư đã có hơn mười ngàn mét vuông đất chùa, và Ni sư đã xây lại chánh điện, các thất từ những căn nhà dột nát, xuống cấp trầm trọng biến thành những công trình hoành tráng với mái bằng đồng hay ngói. Không chỉ có thế, Ni sư còn sửa lại các công trình xây cất khác như: nhà khách, tăng phòng, một phòng chứa đựng các kinh điển của Đức Phật. Ni sư sửa sang lại các vườn cây cảnh quanh các lối đi, với đủ các loại bông hoa cho bốn mùa. Nếu Ni sư đã được sinh vào thời đại Kamakura chứ không phải thời hiện đại nầy, chắc là Ni sư đã có một tu viện mênh mông với bao nhiêu chùa rải rác khắp nơi trên đất nước.

Dù công việc xây dựng, trùng tu đã hoàn tất, công việc kế tiếp là phải có người kế thừa. Sự xuất hiện của Ryokai, rõ ràng, là nét chấm phá cuối cùng trong bức tranh toàn cảnh. Và điều đó cũng ổn thôi đối với tôi. Vợ tôi và tôi không có gì để phản đối điều đó. Có lẽ Ni sư sẽ bảo rằng đó chỉ vì công cuộc phát triển Phật giáo. Nhưng không lẽ tất cả những điều đó không liên quan gì đến những tham vọng cá nhân của Ni sư? Sự tương quan giữa việc xây cất chùa chiềng rộn rịp và triết lý của kẻ tu hành là như thế nào? Tại sao phải cần tu viện bề thế đến vậy? Vậy ra sự 'học hỏi giáo Pháp' của Ryokai cuối cùng cũng chỉ là để gìn giữ và phát triển cơ ngơi tôn giáo nầy sao? Tóm lại, nó có hơn gì là một con rối cho các tham vọng của Ni sư? Cũng không sao nếu như nó có khả năng gìn giữ, và phát triển cơ ngơi nầy, bằng không nó sẽ bị chìm đắm trong việc quản lý hơn mười ngàn mét vuông đất chùa.

Suy nghĩ về những chuyện như thế làm tôi đâm bực bội, vợ tôi bèn nói: "Anh đâu có dám nói gì khi có mặt Ni sư. Em nói đúng quá, có phải không?"

"Anh nói gì bây giờ?"

"Anh phải hỏi con trai mình ra sao. Thật sự là anh không biết hỏi làm sao phải không? Những điều anh nói với em thì trái ngược với những gì đã xảy ra. Em đã tưởng là nó sẽ về nhà mỗi thứ bảy, hay ít nhất là mổi năm một lần nó có thể đi nghĩ hè với mình. Giờ thì cho đến thứ hạng của nó mình cũng không được biết. Tại sao từ ban đầu mình không biết nó sẽ như thế nầy nhỉ?"

"Đúng! Đúng! Nhưng làm sao anh biết được. Anh chưa từng là nhà sư mà".

"Anh có biết người ta đang nói gì không?" Vợ tôi ngước lên nhìn tôi nói: "Bạn bè của em và những người biết anh. Tất cả mọi người đều nói rằng chúng ta đang bị người khác lợi dụng. Họ nói chúng ta không hiểu đời gì ráo".

"Chắc là họ nói đúng đó- chúng ta đúng là chẳng hiểu đời".

"Họ nói tất cả các chùa chiềng đều gặp khó khăn vì không có người thừa kế. Em còn nghe nói rằng có vị trụ trì kia đăng báo rằng ông sẽ gã con gái và lo mọi chi phí học hành cho kẻ kế thừa. Khi em nói cho họ nghe mình đã cho con, và giờ ba năm nữa nó mới được về thăm nhà, họ hết sức kinh ngạc".

"Nhưng chính Ryota muốn bỏ nhà ra đi theo con đường đạo mà". Tôi buột miệng nói Ryota hồi nào không biết.

"Em tự hỏi không biết đó có phải thực sự là điều nó muốn?"

Tôi lặng thinh.

"Khi nào có dịp gặp nó, em sẽ hỏi. Không ai cho em biết gì cả. Hình như chỉ có anh và thầy trụ trì bàn về chuyện đó, rồi Ryota biến mất khỏi cuộc đời em trước khi em kịp biết chuyện gì".

Tôi nói: "Chính nó là người đầu tiên nói về chuyện ấy. Chắc chắn là vậy. Anh còn nhớ vẻ nghiêm trọng trong đôi mắt của con. Có thể nó cũng hơi ngần ngừ, nhưng chưa bao giờ nó bỏ ý định trở thành một nhà sư. Có thể nếu chúng ta cứ để mặc, nó sẽ quên đi. Có lẽ đó là điều chúng ta nên làm. Ai biết được? Nhưng không thể, nó không thể nào quên. Ước muốn đó có thể sẽ được chôn kín bên trong. Rồi một ngày, khi nó lớn lên, già đi, biết đâu nó không hối hận vì đã không dứt khoát trở thành người tu. Anh chắc một điều: đó là duyên nghiệp của nó. Có một số người như thế trong nhóm tu thiền của anh. Có người bị gia đình cho đi, nên không thể trở thành nhà sư. Giờ ông ấy làm việc rất vất vả để khi con trai ông ấy lớn rồi, ông ấy sẽ đóng cửa tiệm, đi tu mặc cho ai nói gì thì nói. Không có gì là trễ, nhưng nếu trước sau gì mình cũng làm thế, thì làm càng sớm càng tốt. Một nhà sư thật thụ phải nghiền ngẫm hằng trăm công án. Nhưng, nếu ta bắt đầu trễ quá, thì có lẽ ta sẽ chết trước khi thấy được mười hay hai mươi cái".

"Lúc nào anh cũng thuyết phục được em bằng những chuyện viễn vông. Dầu gì, cuối cùng rồi em cũng phải đồng ý với anh. Đó là lý do tại sao em muốn anh phải có thái độ. Nếu Ni sư không nói với anh những điều đó, tại sao anh không hỏi thẳng Ryota?", vợ tôi nói, nhìn thẳng vào mắt tôi. "Bộ mình không được quyền nói chuyện với con đẻ của mình sao?"

"Đúng rồi, như thế là không được", tôi nói, nhưng cảm thấy quai hàm như cứng lại khi tôi ráng tạo một nụ cười trên môi.



Lần đầu tiên vợ tôi gặp lại con trai kể từ khi nó rời xa gia đình là vào dịp lễ hội ở trường. Người đàn bà phụ việc ở chùa đã báo cho tôi biết đó là ngày nào. Giờ đây con trai chúng tôi đang học trung học đệ II cấp ở trường học đạo cũ. Vì chúng tôi luôn dự các ngày lễ khi nó còn học ở trung học đệ I cấp, việc được tiếp tục truyền thống nầy rõ ràng là một an ủi lớn đối với vợ tôi. Chúng tôi dẩn theo con gái cùng đi. Chúng tôi đến lớp học, con trai chúng tôi không có ở đó. Khi hỏi bạn nó ở đâu, chúng tôi được biết là nó đang ở Thiền đường của trường, nơi có cuộc trưng bày triển lãm tranh và chữ viết.

Khi chúng tôi tiến đến Thiền đường, cửa phòng đang mở, và kià, ở cuối phòng là con trai của chúng tôi. Nó đang đứng trước những cuộn lụa treo trên tường, tiếp chuyện một thanh niên tóc ngắn, đeo cà-vạt. Vợ tôi dừng lại ở ngưỡng cửa, không muốn bước vào. Tôi có cảm tưởng như chúng tôi đang đợi sự cho phép trước khi bước vào nơi chứa kho báu quốc gia.

"Mẹ còn chờ gì nữa? Nhanh lên, đi vào đi", Rie níu kéo cho đến khi người mẹ đặt những bước chân nhút nhát vào bên trong.

Con trai tôi vẫn tiếp tục câu chuyện, nhưng sau đó nhận ra chúng tôi, cúi đầu chào, mặt không lộ nhiều biến đổi. Nó vẫn tiếp tục chuyện trò với người bạn.

Chúng tôi đi dạo quanh một lúc, ngắm nhìn cuộc triển lãm. Dù không thích thú với những thứ nầy, vợ tôi cố tỏ ra lịch sự.

"Hãy lại đằng đó đi", Rie nói, kéo tay áo của mẹ.

"Chưa được. Con không thấy anh đang tiếp khách sao?", cô ấy trả lời, chậm rãi bước.

Không lâu sau, xong câu chuyện, con trai tôi cúi đầu chào người khách trẻ, rồi biến mất.

"Mẹ, anh ấy đi rồi", Rie nói.

"Vậy sao?", vợ tôi trả lời, rồi như có vẻ vừa trút xong gánh nặng, cô nói: "Chắc là nó bận lắm".

"Con thấy là anh ấy không muốn tiếp chúng ta", Rie nói, giọng hờn dổi. "Đáng lý ra anh ấy phải đến nói chuyện vơí mình chứ".

"À", vợ tôi nói vẻ buồn rầu, "có lẽ vì nó không còn tha thiết gì về chúng ta nữa".

Tôi nói để an ủi vợ: "Con trai là như thế. Chúng không bao giờ nghĩ nhiều về cha mẹ như lòng cha mẹ mong muốn. Nhưng nếu chúng làm khác thế thì cha mẹ lại không biết phản ứng làm sao. Anh biết mà -anh cũng như thế lúc nhỏ".

Nhưng vợ tôi đã quay trở ra không nói lời nào.



Lần thứ hai vợ tôi gặp lại con là vào ngày lễ cúng cô hồn, một ngày lễ vào giữa mùa hè ở chùa. Vì đây là dịp lễ hằng năm chúng tôi luôn dự trước đó, vợ tôi cảm thấy cũng tự nhiên để đi dự lần nầy.

Bốn mươi chín những mảnh giấy lớn, màu sắc để tưởng nhớ người chết được treo rũ quanh chánh điện, và các cây tre tô điểm cho hai cây cột chánh. Tiếng giấy loạt xoạt và tiếng lá tre xào xạt trong gió hè, tạo ra một thoáng sáng sủa trong chánh điện tối tăm, và phát ra một thứ âm thanh như là một làn gió thỏang mát.

Buổi lễ bắt đầu bằng các bài tụng kinh. Ni sư trụ trì choàng y vàng rực rỡ, kín mít hình như chỉ thấy đầu Ni sư. Ni sư xướng tụng với cái nhìn bình thản. Vị tăng đi theo sau Ni sư là Ryokai. Rồi đến ngồi khuất một góc dưới bàn thờ Phật, nó gõ lên một miếng gỗ tròn có hình thù con cá, thỉnh thoảng đánh cái chuông có hình dạng như cái tô. Mắt vợ tôi đỏ lên, cô chậm mắt khi nhìn thấy nó trong bộ y vàng và vẻ mặt ngượng nghịu, cứng ngắt. Rie ngồi xếp bằng bên mẹ, thỉnh thoảng lại cựa quậy.

"Mẹ, anh Ryota ngó bộ không ổn lắm, phải không?" Rie nói, ngước lên nhìn mẹ, nhưng người mẹ đang chìm đắm trong suy tưởng, không trả lời cô bé.

Tôi cũng đang nghĩ hình như nó đáng chuông không chỉnh. Lúc mạnh quá, lúc yếu, lại còn sai nhịp nữa. Lúc đầu, tôi nghĩ có lẽ vì nó còn mới, nhưng hình như còn có cái gì khác nữa. Rồi tôi bỗng nhận ra: nó đánh nhịp giống như đang chơi trống trong ban nhạc ở trường. Nghỉ thế, một nụ cười thoáng nở trên môi tôi.

Sau phần kinh tụng, Ni sư trụ trì lên ngôi ở chiếc ghế màu lá vàng, ngồi xếp chân tròn, và bắt đầu bài giảng của ngày lễ cô hồn về Ngài Mục Kiền Liên và mẹ. Vị Bồ tát nầy có nhiều thần thông và muốn cứu mẹ đang bị đoạ dưới điạ ngục đói khát.

"Ra, cũng có các nhà sư lo lắng cho mẹ vậy," vợ tôi nói nhỏ với tôi.

Tôi giữ im lặng, nhìn Ni sư trụ trì lau mồ hôi trên trán bằng chiếc khăn tay. Chắc Ni sư cũng đang rất nóng, vì những khăn áo trên người. Lối trình bày thẳng thắng của Ni sư có sức thuyết phục, nhưng khi Ni sư hơi ra ngoài đề thì cũng phải ít lâu Ni sư mới trở lại được. Mổi năm, câu chuyện thay đổi một ít; lần nầy Ni sư thêm vào phần về những tội lổi sâu dày của phái nữ.

"Người nữ sinh ra đã mang bảy tội nghiệp lớn. Do đó để được giải thóat người đàn bà phải cố gắng nhiều hơn. Mẹ của Ngài Mục Kiền Liên là người rất tham lam, nhưng bà không phải là người duy nhất bị đọa đói khát. Làm sao biết khi nào có người trong chúng ta đây cũng bị đọa đày. Mà không chừng đã bị đọa rồi mà không biết".

Nói xong, Ni sư trụ trì nhìn quanh khắp phòng. Một số là các phụ nữ trung niên, và rất nhiều người già. Một bà chắc bị đau, ngồi đưa chân ra một bên, quay qua nói chuyện với người ngồi bên cạnh.

"Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói, trong một ngày, con người đi qua sáu cửa địa ngục. Quí vị có biết sáu cửa đó là gì không? Đó là đau khổ, đói khát, súc sanh, ngạ quỷ, người và trời. Con người luân hồi trong sáu cõi đó. Trong một ngày, biết bao lần ta rơi vào cửa địa ngục của khổ đau, của đói khát, của ngạ quỷ.

"Và con người không rơi vào các cửa nầy chỉ vì họ đã làm điều ác. Mà mổi khi ta nghi ngờ, ghen ghét, vọng tưởng, sân si, là ta đã rơi vào địa ngục đói khát, đau khổ. Nầy, bà bán tàu hủ ơi", Ni sư gọi lớn bà lão đang nói chuyện.

"Bà có im lặng được không? Nếu bà muốn nói, ra ngoài mà nói nhé? Nói lang bang nhu thế là phạm giới vọng ngữ, bà có biết không. Làm vậy là chắc chằn đọa địa ngục đói khát đó".

Bà lão bán tàu hủ quay qua người bên cạnh hỏi: "Thầy nói gì đó", đầu nghểnh lên vì lãng tai.

"Đầu óc và trái tim con người là những thứ đồ ô uế", Ni sư nói, tiếp tục bài thuyết giảng "Các vị có nghe câu 'Cái đầu của con ngựa và trái tim con khỉ' không? Tất cả những gì quí vị nghĩ về sự thay đổi củng giống như thế. Tất cả qúi vị, hãy nhìn lại mình đi, sẽ thấy. Lúc nào cũng thay đổi. Nhất là các bà. Đó là lý do tại sao người ta nói đàn bà khó tu. Tệ hơn nữa, là họ tìm cách che dấu lỗi của mình.

"Thầy có thể nhìn thấu trong lòng mọi người. Thầy không còn làm vậy nhiều nữa, nhưng trước đây thầy thường nhìn thẳng vào tim người ta. Một lần, có đôi bà đến chùa gặp thầy, và nói họ đã nói chuyện nầy, chuyện kia trên đường đến đây. Thầy bảo họ nói không đúng sự thật, họ đã nói về những chuyện khác kìa. Oâi, họ ngạc nhiên quá. Họ không biết làm cách nào mà thầy biết. Dần dần khả năng nầy trở thành một điều khó chịu, nên thầy bỏ đi. Thầy không cần phải làm vậy, vì Đức Phật có thể nhìn thấy hết mọi việc. Tốt hơn hết là đừng quên nhớ tới Đức Phật. Đó là bài giảng của thầy hôm nay", Ni sư trụ trì bỗng như chìm đắm trong bài kinh hồi hướng khi Ni sư chấp hai tay lại.

Sau đó, những chiếc bàn xếp dài được mang ra chánh điện, và các món hủ tiếu, rau cải và trái cây do các bà làm được mang ra. Chúng đạo tràng nầy gồm những người trồng rau cải, làm tàu hủ, chủ tiệm bánh phở , vân vân, nên mọi thứ đều tươi ngon và ê hề.

Ryokai cột tay áo lên và đi quanh các bàn ăn. Các bà lo dọn đồ ăn, nhưng khi có gì cần, họ luôn hỏi nó, nên nó có vẻ rất bận rộn. Ngoài ra, nó có vẻ quen biết nhiều, người ta thường mời nó ngồi xuống bàn, ăn ít miếng.

Ba chúng tôi ngồi ở một góc phòng, đưa đũa lên miệng và quan sát từ xa.

Chằng lâu, Rie đã ăn xong, và chạy đi chơi; khi vợ tôi và tôi vừa dùng xong, chúng tôi nghe ai đó gọi từ bàn bên kia: "Ông Kimura, ông Kimura".

Đó là ông Ota, chủ chợ, trưởng lão đạo tràng, và là cha đỡ đầu của Ryokai. Ông gọi chúng tôi đến. "Đừng có ngồi trong góc kia. Hãy đền ngồi đây. Ryokai cũng ở đây. Sao không đến nói chuyện với chúng tôi?"

Ryokai đã được ông Ota mời, và đang ngồi kế bên ông, ăn món gì đó mà cha mẹ đỡ đầu đã đưa cho nó, mỉm cười khi trả lời điều gì. Ông Ota có lẽ tự nghĩ là vô phép khi giữ nó cho riêng mình, trước mặt cha mẹ ruột của nó. Ông lòm khòm đứng dậy, đon đả chạy đến chổ chúng tôi. "Đi mà, không có sao đâu. Sao không đến ngồi với chúng tôi? Ryokai đã tiến bộ lắm. Nó sẽ thành một nhà sư giỏi. Oâi, nó làm tôi tự hào và sung sướng lắm. Không giống chút nào với đứa con vô dụng, ngỗ nghịch của tôi. Lúc nào tôi cũng bảo nó phải như Ryokai kìa. Tôi thật lòng coi nó như con ruột của mình. Đó là một điều danh dự, thật vậy. Đó là Phật trời xui khiến. Đi, lại đó đi! Oâng bà là cha mẹ ruột của nó phải không? Đâu có gì phải ngần ngại_".

"Sao ông không im dùm đi !". Giọng của Ni sư thình lình nổi lên ngay sau lưng ông Ota.

Ni sư đang ngồi ở một bàn khác, nói chuyện với một bà trong đạo tràng. Hình như lúc nào Ni sư cũng trông chừng Ryokai, và giọng ông Ota lớn quá. Ni su tiếp tục, "Cứ để tự nhiên. Ông nằn nì mãi làm tôi điên cả đầu. Chỉ có ông là cha nó. Ông và tôi giờ là cha mẹ duy nhất của Ryokai".

Ông Ota có vẻ bối rối, không biết phải phản ứng như thế nào, khó xử, ngượng ngùng. Với nụ cười vô nghĩa, ông lẩm bẩm: "Thôi, tôi trở lại đó đây... Ừ, gặp ông sau nhé..." Khom lưng, ông quay ra trở lại chỗ ngồi cũ.

Uống một ngụm trà đã trở nên đắng ngắt, tôi quay sang vợ tôi nói: "Thôi ta về đi".

Không trả lời, vợ tôi nhìn quanh và nói lớn: "Con Rie chạy đâu mất rồi?".

Vừa ngay lúc đó, Rie hiện ra từ đàng xa, dấm dúi thứ gì đó trong tay, mắt láu liếng. "Con đi đâu vậy? Đi toilet hả?" vợ tôi nói, có vẻ hoàn hồn.

"Con đến phòng của anh con. Đầu máy stereo, mọi thứ trong đó". "Đồ ngốc", tôi la. "Con không được làm vậy".

"Nhưng đó cũng là máy của con vậy", nó phụng phịu. "Coi nầy!". Nó xòe tay cho chúng tôi coi. "Đây là đĩa của con. Con tưởng là mất đâu. Ryota đã lấy đó".

"Sao con có thể lấy lại những thứ đó", tôi nói.

"Vì đó là của con, và con sẽ nói với anh ấy như thế".

"Không, con không cần phải nói như vậy".

"Em nghĩ là anh phải nói với nó", vợ tôi nói, đứng về phía con gái tôi. "Nó sẽ thắc mắc khi bị mất đồ".

"Nhưng . . ."

Rồi, tôi nhìn thấy Ni sư đang tiễn một bà trong đạo tràng. Vợ tôi nói: "Sao không để con bé nói với anh nó? Rie có được tiếp xúc với nó không? Đâu có gì sai phải không? Chúng ta đâu có bịnh truyền nhiễm? Đây có phải là phần thưởng dành cho em vì đã sinh ra nó trên đời? Đây là cách chúng ta được đối xử vì đã mang nó đến đây sao?"

Rie đứng lên ngạc nhiên vì vẻ giận dữ của mẹ.

"Đi. Đi nói với anh con là mình mang những thứ nầy về nhà".

Rie chạy thoắt qua mấy dãi bàn ăn đền chổ anh nó đang ngồi. Đứng ngay đó, cô bé đưa cho anh mấy đĩa cassette và nói gì đó. Ryokai chìa tay ra và đứng dậy như thể để giựt lại.

"Của em!", Rie thét lên.

"Không, không phải. Anh vừa thâu chúng mấy ngày trước đây. Anh đã xoá mấy thứ trước rồi".

"Sao anh dám! Anh đã xoá mấy cái băng của em. Của em mà".

Ryokai không có tiền mua đĩa mới, nên đã dùng đĩa của Rie.

"Có chuyện gì thế!", Ni sư trụ trì la lên. "Đây không phải là chỗ làm loạn".

Ryokai giải thích với Ni sư việc Rie lấy lại những băng nó đã thâu các chương trình âm nhạc trong radio.

Ni sư trụ trì lại la lên: "Đưa cho nó! Đưa cho nó mọi thứ nó đòi. Nếu một người tu mà bám víu vào những thứ như thế, người tu đó sẽ trở thành gì? Âm nhạc của người tu là tiếng tụng kinh. Con không hiểu những điều ta đã nói rồi sao?"

Ryokai ngồi xuống với gương mặt tái xanh.

Chúng tôi bỏ vài cái bánh với trái cây vào túi nylon để mang về nhà, đứng dậy, đi ra cửa chánh điện, cúi chào và sửa soạn bước ra khi Ni sư tiến đến.

"Thầy có ít điều muốn nói với các con". Ni sư đứng ngay đó. "Thầy hiểu tình cảm của các con đối với Ryokai, nhưng điều đó chỉ làm phiền cho nó. Tình cảm của cha mẹ hơn mọi thứ hết làm sự tu học khó khăn hơn, sợi dây tình cảm giữa cha mẹ và đứa con là thứ khó dứt bỏ nhất. Thầy không muốn nó trở thành nữa người nữa ngợm như con. Nếu tiếng 'nữa ngợm' không phải cách nói, thì gọi đó là sự thiếu ổn định, thiếu chính chắn.

"Thuở xa xưa, dưới triều nhà Đường ở Trung Quốc, có một nhà sư tên gọi Tozan Ryokai (Động Sơn Lương Giới 807-869), một trong những ông tổ của dòng Thiền Tào động của Phật giáo Thiền. Oâng rất có tình máu mủ thân tộc, nên thường gửi nhiều thứ thực phẩm ở chùa về cho cha mẹ ông ở quê. Oâng không đi thăm họ, nhưng cha mẹ ông thỉnh thoảng đến chùa để thăm ông và nghe ông thuyết pháp. Rồi một ngày kia, cha ông mất đi. Mẹ ông, giờ chỉ có một mình, thu xếp đồ đạc lên chùa, nghĩ rằng bà có thể ở đó để lo cho con trai, nhà sư trụ trì. Khi người mẹ đến nơi và cho con biết ý định của mình, đại sư Tozan từ chối. Oâng cố gắng giải thích cho mẹ hiểu tại sao ông không thể làm vậy, nhưng người mẹ không thể nào hiểu được. Cuối cùng ông phải nhờ đệ tử dẫn mẹ và mang hành lý của bà ra khỏi chùa. Người mẹ van xin được ở lại, nhưng cổng chùa đã đóng kín và bà không thể nào bước chân trở vào. Mặt đẩm đầy nước mắt, bà mẹ đi trở về quê. Sau đó, bà nhiều lần trở lại chùa, nhưng đại sư Tozan từ chối tiếp bà.

"Các con thấy không? Đạo luật của ta phải nghiêm nhặt như thế. Hãy nhớ câu chuyện đó và suy gẫm về nó".


"Nếu con trai chúng ta được trở thành người tốt, đó mới là điều quan trọng. Tình cảm của chúng ta không quan trọng", tôi nói với vợ khi chúng tôi đã trở về nhà, và không có mặt con gái tôi.

Vợ tôi trả lời: "Em đã chấp nhận chuyện đó. Nó sẽ không trở về nhà nữa. Giờ em chỉ còn có Rie, mong là anh không tước đoạt nó khỏi tay em. Làm vợ anh, những thú vui trong đời của em dần dần tiêu mòn hết".

"Tước đoạt- em nói gì vậy? Bộ chúng ta không từng thảo luận, hành động nhất trí với nhau à? Nhưng em nghĩ lại coi, tất cả hình như là do duyên nghiệp định sẳn nên từ ban đầu mọi chuyện đã dẫn dắt để xảy ra như ngày hôm nay. Anh nhận xét như thế. Đó là định mạng. Không phải là chuyện mình có thể sắp đặt được. Mà do bàn tay của định mệnh, tất cả bắt đầu bằng việc anh dẩn nó đi chùa. Nhưng đó cũng không phải là ý kiến của anh; chính em là người biểu anh dẫn nó đi theo lên chùa vì em bận quá nhiều chuyện ở nhà".

"Cái gì!" vợ tôi cao giọng. "Anh đổ mọi thứ cho người khác -đó là thói xấu của anh, anh biết không. Chuyện gì anh cũng đổ thừa tại số mệnh, nhưng em nghĩ mọi chuyện là do anh làm ra chứ không do gì hết. Sao anh dám nói như là em luôn muốn đuổi nó đi cho khuất mắt. Đó là điều ác độc nhất mà anh nói được. Anh đâu có biết em nghĩ gì. Từ ngày Ryota ra đi, em đau khổ biết mấy, nhưng anh có bao giờ nói lời nào an ủi em đâu. Rie nó còn biết em buồn, và an ủi: 'Mẹ, đừng khóc.' Còn anh, anh chẳng bao giờ để ý, phải không? Anh chỉ nghĩ là em muốn xua đuổi nó, phải không?".

"Không. Anh chỉ nghĩ là dần dần em sẽ hiểu, chỉ có vậy". (Thì ra thế. Đáng lý tôi phải nói vài lời với cô ấy lúc đó.)

"Anh là như thế đó. Chỉ cần biết anh hiểu là đủ. Còn người khác, à, họ sẽ dần hiểu thôi. Anh nói đi, em phải hiểu điều gì?"

"Sự tu tập của con! Nếu con làm được vậy và trở nên một vị tu sĩ tốt, thì mọi chuyện đều ổn. Đó là điều ta phải quan tâm nhất".

"Anh lúc nào cũng nói về chuyện tu tập của con, nhưng tại sao anh lại muốn con phaỉ làm chuyện đó chứ? Anh nói như là nó sanh ra để đi tu, chứ không phải chính anh, mới là người muốn nó đi tu? Con nó muốn chơi trong băng nhạc nhà trường, nhưng anh bắt nó phải tụng kinh gõû mõ. Em nghĩ người cần tu tập chính là anh, chứ không phải là nó".

À, đây là thứ người ta gọi là trực giác của đàn bà. Quá sốc, tôi chỉ có thể nhìn trân trối vào khuôn mặt đỏ gay vì giận của vợ.

"Một ngày nào đó, em sẽ nói với nó: chính cha con mới cần đi tu. Thật là giả đạo đức, anh ăn chơi thả láng, nhưng sau đó bắt con phải đi tu".

"Nhưng em không thấy sao, đó cũng là một cách tu tập. Đi nước ngoài khi còn trẻ cũng là một hình thức tu tập. Không có gì trong cuộc đời nầy không là một bài học cho chúng ta. Đó là điều anh biết được sau khi bắt đầu học khoá Thiền. Tất cả mọi thứ ta làm đều là thiền: đi, đứng, nằm ngồi, ăn uống".

Tôi chợt nín bặt. Tôi vừa nói với vợ tôi những điều tôi đã nói với hai thanh niên Mỹ ở New York, hai mươi năm về trước, chỉ trừ không có hoa tay múa chân. Điều khác biệt duy nhất là lúc đó tôi đùa giỡn, giờ tôi rất nghiêm túc. Dầu vậy, tôi vẫn tiếp tục.

"Ngay cả khi vui chơi, anh cũng rất nghiêm chỉnh. Anh không biết những chuyện mình làm chỉ để cho vui hay bị dẫn dắt. Anh không cưỡng lại được. Giờ cũng không khác xưa. Có người dù họ làm việc hay vui chơi, mọi việc trong đời đối với họ đều dễ dãi. Anh không có cái may mắn đó. Anh không có một người thầy tốt để dẫn dắt mình. Sánh với anh, Ryokai thì..."

"Thôi đừng đổ mọi thứ cho việc anh không có được người thầy tốt. Bất cứ khi nào anh thất bại, anh đều đổ lỗi cho kẻ khác hay số mệnh. Đó là lý do tại sao Ni sư trụ trì gọi anh là nữa ngợm".

Nhớ lại lúc Ni sư gọi tôi như thế, vợ tôi phì cười, rồi dịu xuống một ít. "Em nghĩ nếu Ryota chịu khó tu học để trở nên một nhà sư giỏi, thì cũng tốt. Em đâu có ý đeo theo Ryota cho đến ngày em chết. như bà mẹ của ông thánh gì đó. Ni sư có lẽ nghĩ người mẹ nào cũng giống như thế, nhưng em không phải vậy. Đó là lý do tại sao em không hạ mình xuống để chỉ được gặp nó".

Vợ tôi dần bình tỉnh lại. "Nhưng em không có mơ mộng như anh. Em đã bị vỡ mộng quá nhiều lần -hình như điều đóù đã thành lệ kể từ khi mình lấy nhau đến giờ. Nó đâu còn là con trai của mình nữa, thành ra em có bám víu vào những ước vọng về nó cũng chẳng ích lợi gì. Nếu nó chịu tu tập và thành được một nhà sư giỏi thì cũng được. Bằng như nó có chán, bỏ cuộc, và làm thứ gì khác thì cũng xong. Nhưng lúc đó em muốn được giúp đở nó. Giờ thì em chỉ nghĩ có vậy. Em không nghĩ là bằng mọi giá nó bắt buộc phải trở thành nhà sư".

Tôi nói: "Không, chúng ta phải có những ước vọng. Nếu không chúng ta không có mục đích để tranh đấu và vượt qua khổ đau. Anh không nói đến những ước mơ viễn vong như trở thành nhà phi hành vũ trụ hay dùng ý chí để bẻ cong cái muỗng. Anh muốn nói tới những ước vọng làm phong phú thêm hiện thực, thúc đẩy ta có thể thực hiện được ngày mai những gì ta chưa làm được hôm nay. Nhân loại tiến bộ bằng cách đó, từng bước từng bước một".

Vợ tôi trả lời: "Nhưng em không biết ngày mai sẽ mang đến cho ta những gì. Em đã trông chờ bao nhiêu việc trong tương lai, nhưng rồi mọi việc xảy ra không như em mong đợi. Nên em không nghĩ nhiều về tương lai nữa. Chuyện gì sẽ xảy ra cho con trai chúng ta, cho Thiền viện, chúng tôi càng ít biết hơn nữa? Rồi Ni sư nữa, bà đã già yếu. Nếu Ni sư mất, chuyện gì sẽ xảy ra? Em đoán, chắc là con ta sẽ phải lo quản lý Thiền viện, thời giờ đâu tu học. Nó làm sao chăm sóc nổi một Thiền viện to lớn như thế? Ni sư đã tạo ra nó. Ni sư gánh vác được. Chừng tới tay nó, chắc là nó phải chia đất ra, bán bớt".

Chủ nhật đó, sau buổi tọa thiền, khi tôi sửa soạn ra về, Ni sư trụ trì xuất hiện ở cửa chánh điện, trao cho tôi một gói ny-lông trông quen thuộc, và nói: "Hôm nọ hình như con đã để quên gói nầy". Đó là cái túi đựng bánh và mấy quả táo.

Khi Ni sư chặn tôi lại để giảng cho một bài học, tôi đã quên phứt nó đi. Cái túi hình như đầy hơn hôm trước. "Thầy bỏ thêm mấy thứ còn lại", Ni sư nói.

"Gần đây thời tiết khó chịu quá, và bữa hôm đó thầy cũng nóng, nói năng quá cứng rắn, dầu thầy không nghĩ mình có nói điều gì sai. Câu chuyện về đại sư Tozan, con có hiểu không? Con có thể coi đó là một công án cho mình. Trong thế giới bao la, tận cùng mặt đất, không có gì không là một công án. Sự khổ đau của một đứa con cũng là một công án cho bậc cha mẹ. Vần đề của con trai con là một công án lớn dành cho con. Con phải biết ơn những điều đó".

"Dạ, con biết", tôi vui vẻ trả lời, rồi lợi dụng câu chuyện nói thêm:

"Con hoàn toàn hiểu là hiện giờ con trai con đang sống trong một thế giới khác; con sẽ kiềm giữ mình không quên điều đó. Từ bây giờ, ước vọng duy nhất của chúng con là nó được chuyên tâm tu hành. Giờ nó đã thành một người tu, con mong muốn nó được học hành tu tập, dầu có chuyện gì xảy ra. Nhưng nếu nó chỉ chăm lo cho nhà chùa và các đạo tràng, thì con không hiểu tại sao nó phải có mặt ở đây". Tôi nhấn mạnh câu cuối cùng.

"Đúng," gương mặt Ni sư thoáng hơi rắn lại, nhưng rồi Ni sư trả lời: "Thầy biết con muốn nói gì. Thầy hiểu ngay ý con muốn nói gì, vì thầy đã suy nghĩ về việc nầy còn nhiều hơn con. Chắc là con tự hỏi không biết việc quản lý nhà chùa đối với thầy quan trọng tới đâu. Và con lo sợ rằng Ryokai bị bó buộc phải làm những việc ấy, không còn thì giờ tu tập chứ gì. Con nghe thầy nói đây: Đối với một người tu hành, việc gìn giữ nhà chùa, chăm sóc cho chúng cũng rất quan trọng. Đó cũng là Phật sự của họ. Hoàn toàn quên hẳn thế giới bên ngoài không phải là cách tu hành chân chính đâu. Một nhà ẩn dật bên Trung quốc xưa đã từng bị chỉ trích vì ở trong tình trạng mà như ông đã tả: 'Một cành liễu đeo trên ngọn thạch băng, không chút ấm lòng dẫu giữa mùa đông'. Tu tập như thế là 'Thiền nhành liễu', chứ không phải sống. Con hiểu ít nhất được đến vậy chứ?

"Điều thầy quan tâm về việc quản lý chùa không có gì quá đáng. Nếu không, thầy đã xây một chổ đậu xe để cho mướn, hay một nhà trẻ. Thầy đã tìm đến chùa nầy vì sư phụ của thầy dạy như thế. Sư phụ bảo thầy phải nhận ngôi chùa đổ nát nầy và trùng tu nó lại. Cũng không phải chỉ vì lời dạy của sư phụ. Trước hết là vì Đức Phật. Chùa càng đẹp, ngọn nến trên bàn thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni càng sáng hơn. Thầy đâu thể làm được thế nầy nếu không có sự gia hộ của Đức Phật.

"Tuy nhiên, chùa là chùa. Chỉ là một cơ sở. Với riêng con, thầy mới nói điều nầy, điều thầy chưa tiết lộ với ai bao giờ: rồi thầy sẽ bỏ ngôi chùa nầy ra đi, ý thầy là sau khi Ryokai đã ra trường, đã hoàn thành việc tu học và trở về đây. Lúc đó, thầy sẽ một lần nữa trở thành một nhà sư tay trắng, lang thang đó đây. Dỉ nhiên, giờ thầy đã quá già để đi hoằng pháp, nhưng thầy sẽ kiếm một nơi yên tĩnh ở vùng quê để sống. Khi sư phụ của thầy truyền giao cho thầy ngôi chùa nầy, hy vọng của thầy là được ở đây hành đạo cho đến ngày cuối đời. Nhưng đến lúc từ giã cõi đời, thầy muốn ra đi nhẹ nhàng.

"Thầy đã nghĩ đến Ryokai, và thầy cũng không có ý buộc nó vào ngôi chùa nầy đâu. Tuy nhiên nếu một nhà sư mà có được chùa riêng của mình, người đó sẽ cảm thấy yên tâm hơn, được thuận tiện rất nhiều bề. Còn nếu việc gìn giữ ngôi chùa nầy làm cản trở đến việc hành đạo của nó, nó có thể buông bỏ ra đi. Thầy đã có ý định nói với nó như thế. Nếu nó chỉ chuyên tâm tu hành, thì có chùa sẽ làm cản trở nó. Tùy nó thôi".

Tôi cúi đầu xuống.

"Nhưng", Ni sư trụ trì đổi giọng, "ở đâu cũng vậy. Không có gì hơn là những tính toán nhỏ nhen của con người. Làm sao thoát ra được những suy nghĩ đó là tốt hơn cả. Tất cả hãy tùy theo ý của Đức Phật".

Tôi tự hỏi không biết Ni sư có bỏ hết để trở thành một nhà sư lang bạt dễ dàng đến như thế không. Lưng và chân của Ni sư đã yếu vì tuổi tác. Và nếu Ni sư ngã bịnh, cần phải có người chăm sóc bà. Không biết thật sự Ni sư có trở về làm một người tu rày đây mai đó không hay Ni sư chỉ nói thế?

Tuy nhiên tôi giữ những nghi ngờ nầy cho chỉ riêng tôi. "Đây có phải là một khía cạnh khác của Không?", tôi hỏi.

"Đúng, nhưng không chỉ là Không. Đó là cái Không của Đại sư Triệu Châu khi một nhà sư hỏi Ngài con chó có Phật tánh không. Cả vũ trụ nầy không có gì nằm ngoài cái Không đó. Người nhìn, người được nhìn, cái nhìn, tất cả đều là Không".


Rời chánh điện, đi ra cổng chánh, tôi gặp Ryokai, đang thu gom những đống lá được quét buổi sáng. Trên đầu quấn một cái khăn để che nắng hè. Bộ đồ mặc làm việc đã quá chật ngắn để lộ đôi chân thon nhỏ, trắng trong đôi giày sandals đã củ mòn. Hình như nó đang chìm đắm trong suy tư khi đưa chổi quét. Như lệ thường, gương mặt của nó không thay đổi khi có người đi ngang qua. Đó là cách thiền sinh phải làm, nên tôi cũng không ngạc nhiên, nhưng khoảng khắc đó làm tôi xúc động, và tôi ngừng lại bên nó.

Trong bao giấy tôi đang cầm có mấy cái băng cassette mới. Sáng nay, sau nhiều đắn đo, tôi quyết định mang cho nó. Rie đã lấy lại mấy cái băng củ, và có lẽ là nó không có tiền để mua cái mới. Tôi cũng không biết là có được gặp nó không, nhưng tôi nghĩ nếu không gặp, thì tôi chỉ lại mang chúng về. Mãi lo nói chuyện với ni sư, tôi đã quên khuấy mất, nhưng giờ cơ may của tôi đã đến.

Tôi quay lại nhìn phía sau. Qua những cành thông, thấp thoáng hai cánh cửa chánh điện đóng kín. Dưới ánh mặt trời chiều, chánh điện đứng cô đơn trong bóng tối và sự tĩnh lặng, như thể bên trong đang chất chứa bao điều bí mật kinh hoàng.

"Ryokai", tôi thận trọng gọi.

"Dạ?" Nó nhìn tôi nghi ngờ, rồi đảo mắt nhanh lên chánh điện.

"Đây nầy", tôi lấy bịch băng cassette ra khỏi bao giấy. "Con không còn cái nào, phải không?"

Ryokai cầm chổi tre đứng yên, mắt nhìn mẫu mã tân kỳ trên bịch băng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Hình như nó hơi bị choáng trước vẻ sáng chói đó, nhưng rồi nó nhìn tôi và nói: "Con không cần".

Tôi đã có cảm giác là nó sẽ nói như thế, nên tôi không ngạc nhiên. Nhưng giờ tôi không thể thoái lui, nên tôi đứng đó với bịch cassette trong tay.

Rồi nó hỏi tôi: "Thầy không nói gì sao?"

"Về chuyện gì?"

"Bữa đó, sau buổi lễ cúng cô hồn, thầy bảo con ngồi lại ở chánh điện. Thầy cũng thế. Không ăn uống gì; thầy và con đã ngồi đến sáng".

"Thầy cũng thế sao?"

"Dạ. Thầy và con chỉ ngồi. Thầy không nói gì, nhưng con cảm thấy hiểu thầy rất nhiều. Ngồi đó, con như nghe được những lời thầy nói bên trong lòng con".

"Thật sao?"

Tôi bỏ bịch băng cassette trở vào túi giấy, Ryokai tiếp tục, "Con nhận ra rằng: Con thực sự không đủ nghiêm chỉnh. Con đã quên rằng chính con là người quyết định đi xuất gia. Vậy mà con hành động như thể ai bó buộc con làm chuyện đó".

Tôi gật đầu.

"Con không nghe nhạc ở đây. Nếu con muốn nghe nhạc, con sẽ tụng kinh lớn lên. Sáng nay, thầy nói con đánh chuông khi tụng kinh đã tiến bộ hơn. Con không ngờ như thế, và điều đó làm con thật hạnh phúc".

"Tốt quá. Thiệt là tốt". Đúng là ni sư có để ý; chắc là bà đã chờ đợi đúng lúc để khen nó.

"Đừng lo cho con," nó quay nhìn tôi với đôi mắt thiết tha. "Nhắn lại với mẹ đừng lo cho con".

"Được".

Câu chuyện của Đại sư Tozan hiện ra trong đầu tôi. Chắc Ryokai đã nghe kể. Chắc câu chuyện đó nằm trong bụng nó khi nó tọa thiền. Tôi bổng nhận ra giờ thì tôi đã sẵn sàng đóng cánh cửa ở trước mặt tôi. Tôi cảm thấy vui, dầu có phần lạc lõng. Nhìn chiếc đầu cạo của nó, khi nó quay trở về với việc quét lá, giờ tôi có thể thấy rõ ràng nó là Gyokusen Ryokai.

Khi tôi trở về nhà, vợ tôi đang đứng ngoài hiên nhìn xa xăm. Tôi tiến gần đến bên, định nói bao nhiêu điều, nhưng bỗng tôi khựng lại: dầu tôi đã tiến đến gần, cô ấy không quay mặt về phía tôi. Tôi không nghe được gì bài hát cô đang hát nho nhỏ.

"Anh đã yêu cầu Ni sư dạy dỗ nó cẩn thận", tôi nói cố giữ giọng bình thường. "Ni sư đã hứa sẽ để nó tiếp tục tu tập, dầu bất cứ chuyện gì xảy ra. Anh tin là Ni sư sẽ giữ lời hứa dầu có chết", tôi nói, khi hình ảnh của Ni sư ngồi suốt đêm với Ryokai hiện ra trong đầu. Gần bảy mươi, cơ thể bịnh hoạn, đó quả là một việc khó nhọc cho Ni sư.

Im lặng, vợ tôi đặt hai cánh tay lên thành lan can, cong lưng lại, và ïchống cằm lên tay. Lúc trẻ, mặt cô trông rất dễ thương khi đội nón kiểu màu đỏ, đôi mắt dịu dàng nhìn xa xăm. Giờ cô có vẻ vàng úa. Tôi tự hỏi không biết cái nón đó giờ ở đâu. Lúc đó lâu lắm rồi, trước khi Ryokai được sinh ra, trước khi tôi tập Thiền. À, mà tại sao tôi bắt đầu tập Thiền nhỉ?

Tôi cũng nhìn ra xa xăm, rồi choàng tỉnh, đặt tay lên thành lan can cạnh nàng, tôi nói: "Giờ chúng ta chỉ có thể đặt niềm tin vào Ni sư".

"Đâu có ai biểu anh phải làm thế," cô bổng nói, mắt vẫn nhìn xa xăm. "Em không quan tâm về việc tu học của con. Anh cứ nói mãi điều đó, nhưng đó không phải là vấn đề em quan tâm. Em đâu có bao giờ nghi ngờ Ni sư. Nếu Ni sư đã nói sẽ dạy dổ để nó trở thành một nhà sư đức hạnh, thì em tin là bà sẽ làm được. Em không có vấn đề gì. Em đã ủy thác nó cho Ni sư, em không còn vấn đề gì. Còn chuyện chúng ta có thể tin tưởng ở Ni sư không? --đó là vấn đề của anh".

Tôi lại thất bại nữa rồi. Tôi đứng đó như thể tay tôi đã bị dính vào lan can. Gió buổi chiều mùa hè từ trên đồi thổi xuống, ve vuốt mặt tôi. Một cảm giác cô đơn choáng ngợp lòng tôi. Con trai tôi, rồi vợ tôi đã vuột khỏi tầm tay, làm tôi có cảm tưởng một lần nữa mình là một kẻ lang thang, lạc lỏng ở xứ sớ xa lạ. Hay là từ trước đến giờ, tôi vẫn là người lữ hành cô độc.

Trong tiếng gió, tôi như nghe thấy lời của Ni sư: "Chỉ là Không. Người nhìn, kẻ được nhìn, cái nhìn, tất cả đều là Không".

"Không hề chi", vợ tôi nói, như thể phần nào an ủi tôi, phần nào tự nhủ mình. Cô nói thêm: "Luẩn quẩn mãi cũng không ích gì. Em phải nghĩ đến cuộc đời em. Em quyết sẽ nhìn về tương lai như anh đã khuyên. Giờ thì ai nói gì, em cũng tin nghe theo".

Ưỡn người, dựa vào lan can, cô vẫy vẫy tay. Tôi tự hỏi không biết có phải nàng đang vẫy chào tương lai. Rồi nhìn xuống đồi, tôi thấy một bóng người ẩn hiện giữa những hàng cây. Đó là Rie, mặc áo thun xanh, váy xếp trắng, vớ cũng trắng. Hình ảnh linh hoạt đó chắc chắn là điệu vũ của tương lai. Có lẽ cô bé vừa đi học về, lưng mang bị đầy sách. Vợ tôi đứng đây ngoài hàng hiên không phải để hoài niệm về con trai tôi, nàng đang đợi con gái đi học về. Gần đây nàng đổ hết tâm trí vào việc chăm sóc cho Rie.

Con gái chúng tôi vừa đi tới vừa ngước lên nhìn chúng tôi. Cô bé có nhiều nét giống vợ tôi ngày còn trẻ. Với đôi mắt, lông mày đậm đen, từ đàng xa, khuôn mặt đã hiện rõ những nét nầy. Biết đang được để ý, cô bé ngượng ngập vẫy tay lại, tôi có thể thấy là nó đã lớn. Lớn gần bằng cậu con trai khi thằng bé bắt đầu đi chùa.

Đứng bên cạnh vợ, vẫy tay chào Rie, tôi bắt gặp mình đang suy nghĩ không biết có phải là lúc nên cho con gái chúng tôi bắt đầu chuyện tu học.


(HẾT)


Số Lần Chấm:  
4

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 2,431
Nguồn:
Đăng bởi: Chiêu Hoàng (5/11/2005)
Người gửi: caytoi
Người sửa: Chiêu Hoàng;