Truyện Truyện Dịch

1984

George Orwell

iv

Winston đảo mắt nhìn căn phòng tồi tàn phía bên trên cửa hàng của ông Charrington. Bên cạnh cửa sổ là chiếc giường quá khổ, phủ chăn rách với cái gối ôm không vỏ. Chiếc đồng hồ cũ trên mặt lò sưởi vẫn đều đều điểm nhịp. Trong góc, trên cái bàn cánh lật, cái chặn giấy bằng thuỷ tinh mà anh mang lại lần trước lấp lánh sáng.

Trong lò sưởi ông Charrington để sẵn một cái bếp dầu cũ méo mó, một cái xoong đầy nước và hai cái li. Anh đã mua một gói cà phê Chiến Thắng và mấy viên đường hoá học. Kim đồng hồ chỉ bảy giờ hai mươi, nghĩa là mười chín giờ hai mươi. Cô sẽ tới vào lúc mười chín giờ rưỡi.

Liều mạng, liều mạng quá – anh thầm nhắc đi nhắc lại như vậy - chẳng khác gì tự sát. Trong tất cả tội lỗi một đảng viên có thể phạm thì đây là tội lỗi khó che giấu nhất. Thực ra ban đầu ý tưởng này chỉ như một cái bóng, giống như bóng của cái chặn giấy trên mặt bàn kia thôi. Đúng như anh dự đoán, ông Charrington đồng ý cho thuê căn phòng ngay lập tức. Ông ta tỏ ra mừng rỡ vì có thêm mấy dollar. Ông ta cũng không tỏ ra ngạc nhiên hay tức tối khi nghe Winston nói sẽ dùng căn phòng cho việc hẹn hò trai gái. Mắt nhìn xa xăm, ông toàn nói những chuyện đâu đâu một cách tế nhị, tạo cho ta ấn tượng rằng ông không hề hiện diện ở đó. Riêng tư, ông nói, giá trị lắm. Thỉnh thoảng ai cũng thích có một chỗ riêng tư. Khi một người tìm được một chỗ riêng tư như thế thì bất kì ai biết được chuyện đó đều phải giữ kín, đấy là phép lịch sự tối thiểu. Ông nói thêm rằng ngôi nhà có hai cổng, cổng thứ hai mở ra sân sau, từ sân sau có đường ra hẻm, khi đó dường như ông đã hoàn toàn không còn hiện diện nữa.

Bên dưới cửa sổ có người đang hát. Winston nấp sau tấm màn sáo bằng vải muslin để quan sát cái sân sau. Nắng tháng sáu còn gắt lắm, trên khoảng sân đầy nắng ở bên dưới, một người đàn bà to lớn, rắn rỏi, hai cánh tay lực lưỡng đỏ au đang đi đi lại lại giữa bể giặt và giây phơi để phơi những tấm vải trắng hình vuông mà Winston cho là tã trẻ em. Mỗi khi không ngậm kẹp là bà lại hát bằng một giọng nữ trầm:

“Chỉ là những giấc mơ thôi,
Vút qua như ngày xuân mới
Người xưa giờ ở nơi đâu
Lòng em thổn thức khôn nguôi
Bao giờ gặp lại người ơi”

Mấy tuần gần đây khắp London, đi đâu cũng nghe thấy bài này. Đấy là một trong rất nhiều bài hát dành cho cu li do Ban Âm Nhạc sáng tác. Lời những bài hát loại này được một cái máy có tên là “Thi sĩ” viết, không cần bàn tay con người can thiệp. Nhưng giọng người đàn bà du dương đến nỗi dù bài hát nhảm nhí nghe vẫn êm tai. Anh nghe thấy tiếng hát, nghe thấy tiếng giày loẹt xoẹt trên mặt đá, tiếng trẻ con hò hét trên đường phố, tiếng động cơ ô tô từ xa vẳng lại, nhưng căn phòng thì vẫn yên tĩnh lạ lùng, ấy là do không có màn vô tuyến.

Liều mạng, liều mạng quá! anh lại nghĩ. Không thể có chuyện đến đây mấy tuần liền mà không bị bắt. Nhưng một chỗ riêng tư, kín đáo, lại gần, quả là điều hấp dẫn. Sau buổi nói chuyện trên gác chuông nhà thờ đổ họ không có dịp gặp nhau lần nào nữa. Gần đến Tuần Lễ Hận Thù phải làm thêm giờ. Còn hơn một tháng nữa cơ, nhưng công việc chuẩn bị phức tạp và nhiều nên ai cũng phải làm thêm mới kịp. Cuối cùng cả hai cũng tìm cách xin nghỉ buổi chiều vào cùng một ngày. Trước đó họ đã hẹn sẽ gặp nhau trong rừng. Ngay tối hôm trước họ có gặp nhau một lúc ngoài phố. Bình thường trong khi rẽ đám đông để đến với nhau Winston ít khi nhìn Julia, nhưng hôm ấy chỉ nhìn qua là anh đã thấy cô xanh hơn mọi ngày.

"Hỏng rồi", cô thì thầm khi đã cảm thấy an toàn. "Đấy là em nói ngày mai ấy"

"Vì sao?"

"Chiều mai. Em không tới được"

"Tại sao không?"

"Cũng như mọi khi thôi. Nhưng mai bắt đầu sớm hơn"

Winston tức lắm. Trong một tháng qua, từ ngày quen cô, tình cảm của anh với cô đã thay đổi về chất. Lần đầu có thể nói là chưa có cảm giác gì. Cuộc hò hẹn đầu tiên chỉ là một hành động lí tính. Nhưng sau lần gặp thứ hai thì vấn đề đã khác. Mùi tóc cô, hương vị môi cô, làn da cô dường như đã xâm nhập vào anh, thấm đẫm không gian xung quanh anh. Cô đã trở thành một nhu cầu vật chất không thể thiếu, anh không chỉ muốn mà cảm thấy có quyền sở hữu cô. Khi nghe cô nói rằng không đến được thì anh thấy như bị cô lừa vậy. Nhưng đúng lúc đó hai người bỗng bị đám đông ép sát và tay họ vô tình chạm vào nhau. Cô bóp mạnh mấy đầu ngón tay anh như có ý cầu xin tình yêu chứ không phải là nhục cảm. Anh chợt nhận ra rằng khi sống với một người đàn bà thì những trục trặc kiểu này phải được coi là bình thường, sẽ còn lặp đi lặp lại nhiều lần nữa; trong lòng anh bỗng bừng dậy một tình cảm yêu thương tha thiết, chưa từng có đối với cô. Anh ước ao họ là vợ chồng và đã ở bên nhau cả chục năm rồi. Anh ước họ được đi bên nhau, trên phố, y như lúc này, nhưng là công khai, không sợ hãi, vừa đi vừa nói đủ thứ chuyện và mua những thứ lặt vặt dùng trong gia đình. Nhưng trên hết là ước muốn tìm được một chỗ riêng tư để có thể ngồi bên nhau mà không có cảm giác phải làm tình ngay mỗi khi gặp nhau. Nhưng lúc đó anh chưa nghĩ ra, phải đến ngày hôm sau anh mới nghĩ đến việc thuê căn phòng của ông Charrington. Khi anh nói chuyện đó với Julia thì không ngờ cô đồng ý ngay. Cả hai đều biết rằng đấy là một hành động điên rồ. Có vẻ như họ đang cố tình bước vào nghĩa địa. Vừa ngồi xuống thành giường đợi, anh vừa nghĩ tới những căn hầm trong tòa nhà Bộ Tình Yêu. Anh tò mò dõi theo nỗi kinh hoàng định mệnh thoắt ẩn thoắt hiện trong tâm trí. Nó đang chực chờ ở đâu đó trong tương lai, sau đó là chết, chắc chắn như sau số 99 là số 100 vậy. Không thể tránh được, trì hoãn, thì có thể được; nhưng thay vì thế người ta lại tự nguyện, người ta cố tình rút ngắn khoảng cách đó lại.

Có tiếng chân gấp gáp bước trên cầu thang. Julia lao vào phòng. Cô xách một cái túi vải bạt màu nâu, đây là túi dựng dụng cụ, anh vẫn thường thấy cô khoác trên vai khi đi trong hành lang Bộ. Anh chạy lại định ôm cô, nhưng cô vội vã tránh, có thể là vì cô đang xách cái túi nặng.

"Đợi chút", cô nói. "Để em cho anh xem em có cái gì. Anh có mang theo cà phê Chiến Thắng kinh tởm ấy không? Em nghĩ là anh có. Anh có thể ném đi được rồi đấy. Xem này"

Cô quì xuống, mở túi và lấy mấy cái cờ-lê, mỏ lết, tua vít nằm ở bên trên ra. Phía dưới là những bọc giấy nhỏ. Cô đưa cho anh bọc thứ nhất, không biết là cái gì, nhưng lấy tay sờ thì lại như quen. Nặng, giống như cát.

"Đường à?", anh hỏi.

"Đường thật. Không phải đường hoá học đâu. Còn đây là bánh mì, bánh mì trắng hẳn hoi nhá, không phải loại tởm lợm ta vẫn ăn đâu... đây là lọ mứt, còn đây là lon sữa bò, nhìn này! Thấy em giỏi không! Em phải lấy giấy gói xi măng bọc bên ngoài vì..."

Nhưng cô không cần nói tại sao phải gói kĩ. Mùi thơm nồng ấm, nhắc nhớ một thời thơ ấu, đã toả ra khắp phòng; bây giờ đôi khi anh cũng còn gặp trong một con hẻm nào đó, trước khi một cánh cửa đột ngột đóng hay thấy nó chợt lượn lờ một cách bí ẩn trên đầu đám đông ồn ào rồi đột ngột tan biến.

"Đây là cà phê", anh nói. "Cà phê nguyên chất"

"Đây là cà phê dành cho Đảng Nội Bộ. Hẳn một cân đấy"

"Em kiếm ở đâu ra đủ thứ thế này?"

"Toàn đồ dành cho Đảng Nội Bộ thôi đấy. Bọn khốn đó chẳng thiếu thứ gì đâu. Dĩ nhiên là bồi bàn và đấy tớ phải ăn cắp chứ... xem này, em kiếm được cả một gói trà nữa này"

Winston ngồi xổm cạnh cô. Anh xé một góc bọc trà.

"Trà chính hiệu. Không phải lá mâm xôi", anh nói.

"Gần đây có nhiều trà rồi. Đã chiếm được Ấn Độ hay thế nào không biết", cô nói phỏng chừng. "Nghe đây anh yêu. Em muốn anh quay lưng lại, ba phút thôi. Lại ngồi lên giường kia. Đừng đến gần cửa sổ quá. Đợi em kêu mới quay lại đấy"

Winston nhìn bâng quơ qua tấm màn cửa sổ. Người đàn bà vẫn đi qua đi lại. Bà ta rút hai cái kẹp khỏi miệng và say sưa hát:

“Người bảo rằng rồi sẽ qua đi
Người bảo rằng rồi sẽ quên thôi.
Nước mặt, nụ cười, ngày tháng cứ trôi
Mà lòng em chẳng thể nào nguôi”

Có vẻ như bà ta thuộc lòng bài hát rẻ tiền này. Giọng hát cứ thế bồng bềnh trôi giữa buổi chiều hè êm ả, du dương và man mác buồn. Có cảm tưởng rằng bà ta sẽ rất hài lòng nếu buổi chiều tháng sáu hôm nay cứ kéo dài mãi cho đến vô cùng, nếu cứ có quần áo mà phơi mãi, nếu cứ được móc tã và hát mọi thứ nhảm nhí như thế cả ngàn năm, cả vạn năm cũng được. Anh chợt lấy làm ngạc nhiên khi nghĩ rằng chưa bao giờ nghe thấy đảng viên nào tự hát một mình như vậy. Việc đó có thể bị coi là hơi bất thường, lập dị, giống như thói quen lẩm bẩm một mình. Có thể người ta chỉ có nhu cầu hát khi đứng trên bờ vực của đói nghèo, khốn khổ.

"Anh có thể quay lại được rồi", Julia bảo.

Anh quay lại và phải một lúc sau mới nhận ra cô. Anh tưởng sẽ nhìn thấy cô khoả thân. Nhưng không phải. Sự chuyển hoá còn đáng ngạc nhiên hơn rất nhiều. Cô vừa trang điểm xong.

Chắc là cô đã rẽ vào một cửa hàng trong khu vô sản và mua một bộ đồ trang điểm. Môi cô đỏ rực, má hồng, mũi bôi phấn, ngay mắt cũng được bôi một cái gì đó, trông sáng hơn. Không được khéo lắm, nhưng Winston cũng có hiểu gì mấy đâu. Anh chưa bao giờ nhìn thấy hay tưởng tượng được một nữ đảng viên môi soi má phấn. Julia trông xinh hẳn lên. Chỉ cần một ít son phấn đúng chỗ là trông cô không chỉ đẹp lên mà chủ yếu nhất là nữ tính hơn rất nhiều. Mái tóc ngắn và bộ đồng phục kiểu con trai càng tăng hiệu quả. Vừa đưa tay ôm cô, mùi hoa vi-ô-lét nhân tạo đã xộc ngay vào mũi. Anh bỗng nhớ tới căn bếp ngầm tăm tối và cái miệng không khác gì một cái hang của người đàn bà trước đây. Vẫn mùi nước hoa đó, nhưng không quan trọng.

"Nước hoa!", anh nói.

"Đúng là nước hoa đấy, anh yêu. Anh có biết em sẽ làm gì bây giờ không? Em sẽ kiếm một bộ áo dài và mặc thay cho cái quần chết tiệt này. Em cũng sẽ đi tất lụa và giày cao gót! Thế là trong phòng này em sẽ là vợ chứ không còn là đồng chí nữa"

Họ cởi vội quần áo và nhảy lên cái giường gỗ đỏ to đùng. Đây là lần đầu tiên anh đứng trần truồng trước mặt cô. Từ trước đến nay anh vẫn ngượng vì thấy mình vừa gầy, vừa xanh, mạch máu nổi khắp bắp chân và vết bầm ngay bên trên mắt cá. Không có vải trải giường, cái chăn bên dưới đã tướp hết, nhưng vẫn mềm, cả hai người đều ngạc nhiên khi thấy cái giường to và êm như thế.

"Lắm rận lắm đây, nhưng không sao", Julia nói.

Giường đôi chỉ còn trong các nhà cu li thôi. Winston từng được nằm trên một cái giống như thế này, còn Julia thì chưa thấy bao giờ.

Họ thiếp đi một lúc. Khi Winston tỉnh dậy thì kim đồng hồ chỉ gần hai mốt giờ. Anh không động đậy vì Julia đang gối đầu lên tay anh. Son phấn trên mặt cô đã chuyển hết sang anh và cái gối ôm, nhưng một ít phấn hồng còn sót lại vẫn làm khuôn mặt cô trông xinh đẹp hơn. Ánh mặt trời sắp tàn chiếu thẳng vào chân giường, nhờ đó có thể nhìn rõ những thứ để bên trong lò sưởi, nước trong xoong đã sôi từ lâu. Không thấy tiếng người phụ nữ hát nữa, chỉ có tiếng hò hét của trẻ con vọng lại từ xa. Anh lờ mờ tự hỏi chả lẽ trước đây, trong cái quá khứ đã bị xoá bỏ ấy, việc người ta, ấy là nói một người đàn ông và một người đàn bà, có thể nằm bên nhau, không một mảnh vải che thân, muốn làm tình lúc nào thì làm, muốn nói gì thì nói, không cảm thấy cần đi đâu, chỉ nằm và nghe tiếng vọng của đời thường từ ngoài phố đưa lại như thế này, là việc bình thường ư. Không, không thể nào có chuyện đó được. Julia đã tỉnh, cô dụi mắt và chống khuỷu tay để vươn người lên nhìn cái bếp dầu.

"Cạn một nửa nước rồi", cô bảo. "Em dậy pha cà phê đây. Còn một tiếng nữa cơ. Nhà anh mấy giờ thì cúp điện?"

"Hai ba giờ rưỡi"

"Khu tập thể của em thì hai ba giờ. Nhưng phải về nhà sớm hơn vì... A, cút ngay, đồ bẩn thỉu!"

Cô nhoài người ra và nhặt cái giày trên nền nhà rồi vung tay ném vào góc phòng, động tác giống hệt như ném cuốn từ điển vào mặt Goldstein ở buổi Hai Phút Hận Thù sáng hôm trước.

"Cái gì thế?", anh ngạc nhiên hỏi.

"Chuột cống. Em thấy cu cậu thò mõm ra khỏi ván ốp chân tường kia kìa. Chắc ở đó có hang. Nhưng dù sao cũng sợ lắm rồi"

"Chuột cống!", Winston thì thầm. "Phòng này có chuột!"

"Đâu chả có", Julia vừa nói vừa ngả người ra như cũ. "Ngay trong bếp nhà tập thể của em cũng có. Có những khu nhiều khủng khiếp nữa cơ. Chúng tấn công cả trẻ con đấy, anh không nghe nói à? Đúng thế đấy. Có những chỗ không dám để trẻ em nằm một mình nữa cơ. Những con lớn màu vàng là dữ nhất. Nhưng tởm nhất là giống này..."

"Thôi đi!", Winston nói, mắt nhắm lại.

"Anh yêu ơi! Mặt anh trắng bệch ra rồi này. Sao thế? Anh sợ chuột à?"

"Trên đời này anh sợ nhất là chuột đấy!"

Cô quấn chặt lấy người anh, như muốn dùng hơi ấm của cơ thể để trấn an anh. Anh chưa mở mắt ra ngay. Anh như cảm thấy đang ở giữa cơn ác mộng mà thỉnh thoảng anh vẫn gặp trong giấc ngủ. Anh đứng trước một bức tường tối đen, phía sau là một cái gì đó kinh khủng, không thể chịu nổi, anh không dám nhìn. Nhưng cái chính là cảm giác tự dối mình vì anh biết rõ đằng sau bức tường đen đó là cái gì. Nếu dùng hết sức, nếu có thể giật được một ít óc ra khỏi não thì anh cũng có thể đưa được điều đó ra ngoài ánh sáng. Anh luôn thức dậy mà không biết đấy là cái gì: nhưng nó có liên quan thế nào đấy với câu chuyện mà Julia nói trước khi bị anh cắt ngang.

"Anh xin lỗi - Anh nói - Không có gì đâu. Anh rất ghét chuột, thế thôi"

"Đừng lo, anh yêu. Bọn chúng không ra được nữa đâu. Trước khi về em sẽ nút cái lỗ bằng vải bạt. Lần sau em sẽ mang theo ít vữa và trám hẳn lại"

Tâm trạng hoảng hốt qua mau. Cảm thấy ngượng, Wiston ngồi dịch ra gần đầu giường. Julia đứng lên lấy quần áo mặc và đi pha cà phê. Mùi thơm ngào ngạt và hấp dẫn đến nỗi họ phải đóng cửa sổ: nhỡ có kẻ nào tò mò, thêm rách việc. Không chỉ mùi vị, điều đặc biệt ở đây chính là cái cảm giác êm dịu trên đầu lưỡi của đường tự nhiên, thứ Winston đã quên từ lâu. Một tay đút túi, tay kia cầm mẩu bánh mì phết mứt, mắt lơ đãng nhìn vào cái tủ sách, Julia vừa đi vừa giảng giải cách chữa cái bàn cánh lật rồi quăng người xuống cái ghế bành để kiểm tra xem có êm không và bắt đầu ngắm cái đồng hồ có mười hai chữ số với vẻ thích thú. Cô cầm cái chặn giấy lại đầu giường, gần cửa sổ, để nhìn cho rõ. Winston bảo đưa cho mình và cũng như mọi khi, anh đưa lên ngắm, không hết ngạc nhiên vì vẻ mềm mại, giống như một giọt nước mưa của nó.

"Cái này để làm gì, anh?", Julia hỏi.

"Anh nghĩ chẳng để làm gì… anh muốn nói nó chẳng có ích bổ gì. Anh thích chính vì thế đấy. Chỉ là một mảnh vỡ của lịch sử người ta quên cải biến mà thôi. Một thông điệp từ cách đây cả trăm năm, ước gì có thể đọc được"

"Thế còn bức tranh kia”, vừa nói cô vừa hất cằm về phía bức tường đối diện. “Cũng cả trăm năm rồi à?"

"Hơn. Có lẽ đến hai trăm. Khó nói lắm. Bây giờ không thể biết cái gì có từ bao giờ"

Julia đi lại gần bức tranh.

"Chuột chui ở đây ra này", vừa nói cô vừa lấy chân đá vào ván ốp chân tường ngay bên dưới bức tranh. "Chỗ nào thế này nhỉ? Em đã trông thấy ở đâu rồi?"

"Nhà thờ, trước đây đã là nhà thờ. Gọi là nhà thờ Saint Clement của người Đan Mạch", Anh chợt nhớ khúc đầu bài đồng giao ông Charrington mới dạy và nói thêm giọng buồn buồn: "Cam cam chanh chanh là chuông Clement"

Anh rất ngạc nhiên khi nghe cô đế theo:

“Nợ mấy đồng xèng là chuông Martin
Bao giờ trả đây? là chuông Barley
Em không nhớ đoạn sau. Nhưng em nhớ hai câu cuối: Nghe thì thắp nến cho đi vào gường, Không nghe rút búa thì mày tan xương”.

Nghe như một khẩu lệnh. Nhưng sau Barley phải còn một câu nữa. Nếu khéo gợi ý, ông Charrington có thể nhớ được cũng nên.

"Ai dạy em thế?", anh hỏi.

"Ông em. Ông thường hát bài này khi em còn bé tí. Khi em lên tám thì ông bốc hơi, dù sao thì ông cũng biến mất. Em cứ thắc mắc không biết chanh là gì", cô nói thêm một cách bâng quơ. "Cam thì em thấy rồi. Quả tròn, màu vàng, da dày"

"Chanh thì anh còn nhớ", Winston nói. "Hồi những năm năm mươi sẵn lắm. Chua, chỉ thấy mùi đã ứa nước dãi ra rồi"

"Em ngờ rằng rận nằm sau bức tranh này này - Hôm nào rỗi em sẽ tháo xuống để rửa. Có lẽ đến giờ rồi đấy. Em phải rửa sạch phấn đi đã. Buồn quá! Sau đó em sẽ lau son cho anh"

Winston còn nằm thêm mấy phút nữa. Trời tối dần. Anh quay sang phía cửa sổ và lại ngắm cái chặn giấy. Thú vị không phải là san hô mà chính là phần kính bên trong. Vừa sâu lại vừa trong suốt như là không khí vậy. Mặt cong bên ngoài giống như bầu trời trùm lên một thế giới nhỏ xíu, kể cả bầu khí quyển bao quanh. Winston bỗng cảm thấy như anh có thể chui vào bên trong, thực ra anh đã ở bên trong rồi, cả anh, cả cái giường, cái bàn, bức tranh và chính cái chặn giấy nữa. Cái chặn giấy là căn phòng này, còn mẩu san hô là cuộc đời anh và cuộc đời Julia, đã bị nhốt kín vĩnh viễn trong lòng nửa quả cầu pha lê.


Số Lần Chấm:  
2

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,691
Nguồn: Phạm Minh Ngọc dịch
Đăng bởi: Tí Lười (12/9/2004)
Người gửi: TL
 
1 / 2 / 3 / Lời người dịch / Phần I - 1 / II / III / IV / V / VI / VII / VIII / PHẦN II - i / ii / iii / iv / v / vi / vii / viii / ix / ix. / x / Phần III - l / ll / lll / lV / V.  / Vl / Phụ lục  /