Truyện Truyện Dịch

1984

George Orwell

PHẦN II - i

Lúc đó là giữa buổi sáng, Winston bước ra khỏi ngăn để đi vệ sinh.

Từ đầu kia cái hành lang dài vắng ngắt có một người đang đi theo hướng ngược lại. Đấy là cô gái tóc đen. Anh chạm trán cô ta ở gần cửa hàng đồng nát cách đây vừa đúng bốn hôm. Khi cô đến gần thì anh nhận thấy tay phải cô được treo bằng một sợi dây quấn quanh cổ, sợi dây cùng màu với bộ đồng phục, từ xa không thể nhận ra được. Chắc là cô bị thương trong khi quay cái máy phác thảo nội dung các cuốn tiểu thuyết, thường gọi là kính vạn hoa. Đây là tai nạn thường thấy trong Ban Sáng Tác.

Khi họ còn cách nhau chừng bốn mét thì cô gái bất ngờ xảy chân và ngã úp mặt xuống đất. Cô thét lên vì đau. Chắc cô ngã đè lên chính cánh tay bị thương. Winston sững lại. Cô đã gượng chống hai đầu gối để đứng lên. Da mặt cô biến thành màu vàng sữa, đôi môi vì vậy trông càng đỏ thêm. Cô nhìn thẳng vào Winston, cầu khẩn, ánh mắt lộ vẻ sợ hãi hơn là đau đớn.

Trong lòng Winston bỗng dậy lên những tình cảm trái ngược nhau. Trước mặt anh là kẻ thù mà anh muốn thanh toán, nhưng đồng thời đây cũng là một con người đang bị đau, có thể đã bị gãy xương nữa. Anh chạy lại gần để giúp cô theo bản năng. Lúc anh nhìn thấy cô ngã đè lên cánh tay bị thương anh như thấy chính mình đang bị đau vậy.

"Có đau lắm không?", Winston hỏi.

"Không sao đâu. Tay. Sẽ hết ngay thôi", cô nói giọng run run như đang rất bối rối. Mặt cô bỗng trắng bệch ra.

"Có bị gãy chỗ nào không?"

"Không. Không sao. Đau một tí, giờ thì hết rồi"

Cô đưa cánh tay lành ra và anh đỡ dậy. Mặt cô hồng trở lại, có vẻ như đã hết đau rồi.

"Không sao đâu", cô nhắc lại, "Chỉ có cổ tay bị đau. Cám ơn, đồng chí!"

Rồi cô bước tiếp, mạnh mẽ như chưa có gì xảy ra. Việc đó kéo dài chừng nửa phút. Thói quen không biểu lộ tình cảm đã trở thành bản năng, vả lại lúc đó hai người đứng ngay trước màn vô tuyến. Nhưng thật khó mà che dấu được sự ngạc nhiên: chỉ trong vòng hai hoặc ba giây khi anh giúp cô đứng dậy, cô đã kịp dúi một vật gì đó vào tay anh. Không thể có chuyện vô tình. Đấy là một vật nhỏ và phẳng. Vừa bước vào nhà vệ sinh anh vừa đưa vật đó vào túi và lấy ngón tay mân mê. Đấy là một mảnh giấy gấp thành hình vuông.

Vừa đứng tiểu tiện anh vừa cho tay vào túi mân mê để mở mảnh giấy ra. Đây chắc chắn là một thông điệp. Có lúc anh đã định đi vào buồng vệ sinh để đọc ngay tại trận. Nhưng anh biết đấy là một hành động điên rồ. Đây chính là chỗ màn vô tuyến theo dõi kĩ nhất, liên tục nhất.

Anh quay về ngăn, ngồi xuống, rồi như vô tình vất mảnh giấy vào giữa đống giấy tờ trên bàn, sau đó anh đeo kính và kéo chiếc máy ghi lại gần. "Năm phút nữa", anh tự nhủ, "ít nhất phải năm phút nữa!". Tim đập như trống trận. Rất may là anh đang phải làm một công việc bình thường, chỉ phải chính xác hoá một loạt số liệu, không đòi hỏi phải tập trung tư tưởng.

Dù tờ giấy có viết gì thì cũng chỉ là chuyện chính trị. Theo anh hiểu thì có hai khả năng. Thứ nhất, khả năng này có lí hơn, cô ta là chỉ điểm của Cảnh Sát Tư Tưởng, đúng như anh vẫn lo từ trước tới nay. Anh chỉ không hiểu tại sao Cảnh Sát Tư Tưởng lại chọn cách đưa tin như thế này, nhưng chắc là phải có lí do nào đó nên họ mới làm thế. Thông điệp có thể là một lời đe dọa, một giấy triệu tập, hay mệnh lệnh tự sát, mà cũng có thể là một cái bẫy. Khả năng khác, khó chấp nhận hơn, anh đã cố gắng gạt đi nhưng chỉ được một lúc rồi nó lại hiện lên trong trí não. Có khả năng bức thông điệp không phải là của Cảnh Sát Tư Tưởng mà là của một tổ chức bí mật nào đó. Có thể tổ chức Huynh Đệ vẫn tồn tại chăng! Cô ta là thành viên của nó! Điều này hoàn toàn vô lí, nhưng ý nghĩ đó xuất hiện ngay khi anh biết là mình đang cầm tờ giấy trong tay. Phải vài phút sau thì cái khả năng thứ nhất, có lí hơn nói trên mới xuất hiện trong đầu. Ngay cả bây giờ, mặc dù trí óc mách bảo rằng tờ giấy ấy có thể báo hiệu cái chết đã cận kề, nhưng anh không tin và tuy không có cơ sở, nhưng anh vẫn hi vọng, tim đập thình thịch, anh phải cố gắng hết sức giữ cho giọng không run và tiếp tục đọc các số liệu vào máy ghi.

Anh cuộn những tờ giấy đã làm xong và đưa vào ống khí nén. Đã được tám phút rồi. Anh sửa lại kính, hít một hơi dài rồi kéo tập tài liệu có mảnh giấy do cô gái kia đưa về phía mình. Anh giở mảnh giấy ra. Trên mặt mảnh giấy có một hàng chữ to, viết bằng tay, nghiêng ngả:

Em yêu anh.

Choáng váng mất mấy giây, anh không đủ sức vất được ngay vật chứng vào lỗ nhớ. Mặc dù biết rằng chú ý quá đến tờ giấy có thể nguy, nhưng anh vẫn liều đọc một lần nữa để tin chắc rằng đúng là những chữ đó.

Anh gần như không làm được gì cho đến tận bữa ăn trưa. Anh không thể tập trung chú ý vào các công việc chán ngấy đã đành, mà che dấu tâm trạng bồn chồn để màn vô tuyền không phát hiện được còn khó khăn hơn. Anh cảm thấy như có lửa đốt trong lòng. Ăn trong cái căng tin nóng bức, chật chội, ồn ào thật không khác gì bị tra tấn. Anh hi vọng có thể được ngồi một mình, nhưng thật không may là thằng ngốc Parsons lại hạ bệ ngay xuống cái ghế bên cạnh, mùi mồ hôi của hắn át hẳn mùi thịt hầm và hắn bắt đầu thao thao bất tuyệt về việc chuẩn bị cho Tuần Lễ Hận Thù. Hắn đặc biệt phấn khích khi nói về bức chân dung Anh Cả rộng những hai mét, vẽ trên giấy bồi do đội Tình Báo của cô con gái làm nhân sự kiện này. Bực nhất là do quá ồn nên Wiston không thể nghe rõ và cứ phải hỏi đi hỏi lại suốt, thành ra nhiều câu ngớ ngẩn phải nghe đến hai lần. Anh đã thoáng thấy cô gái tóc đen, cô ngồi cùng một bàn với hai người khác ở tận đầu bên kia căn phòng. Có vẻ như cô không trông thấy anh, còn anh cũng không nhìn sang phía ấy lần nào nữa.

Buổi chiều có đỡ hơn. Ngay sau bữa trưa anh được giao một việc khó, tế nhị, phải dẹp hết các thứ khác sang một bên và làm liên tục trong mấy giờ mới xong. Nhiệm vụ được giao là xuyên tạc một loạt báo cáo kết quả sản xuất cách đây hai năm nhằm hạ uy tín của một cán bộ cao cấp của Đảng Nội Bộ nay đã thất sủng. Winston rất thạo các công việc kiểu này và anh đã hoàn toàn quên được cô gái kia trên hai tiếng đồng hồ. Nhưng sau đó nét mặt cô lại hiện về ngay trước mắt, và lúc đó anh chỉ muốn được ở một mình. Chỉ ngồi một mình anh mới có thể suy nghĩ thấu đáo được. Tối nay anh phải có mặt tại Trung Tâm. Anh nuốt vội bữa ăn tối chán ngấy trong căng tin rồi chạy vào Trung Tâm để tham gia vào cuộc thảo luận tổ diễn ra long trọng như một trò hề, sau đó chơi hai séc bóng bàn, uống mấy li Gin và nghe thuyết trình đề tài “Quan hệ giữa Chuanh và cờ tướng” trong vòng ba mươi phút. Chán phải nói là đến tận cổ, nhưng khác với mọi khi, hôm nay anh không thích chuồn sớm. Mấy từ em yêu anh như làm bừng dậy trong lòng ước muốn được sống lâu thêm, có là người ngu mới làm những việc mạo hiểm vào lúc này. Gần đến hai mươi ba giờ anh mới về đến nhà và chui vào giường, trong bóng tối, nếu không lên tiếng thì màn vô tuyến không thể làm gì được, đấy là lúc anh có thể suy nghĩ mà không sợ bị phân tâm.

Có một vấn đề kĩ thuật cần phải giải quyết: tiếp xúc như thế nào và hẹn hò ở đâu. Giả thuyết cô là một cái bẫy đã bị bác. Không có chuyện đó rồi, bởi vì anh thấy rõ cô đã run như thế nào khi trao mảnh giấy cho anh. Cô đã thần hồn nát thần tính và chuyện đó cũng dễ hiểu thôi. Anh không hề nghĩ đến chuyện né tránh. Mới năm ngày trước đây anh đã định đập vỡ sọ cô bằng một cục đá, nhưng nay chuyện đó không còn quan trọng nữa. Anh mường tượng ra thân thể trẻ trung, trần truồng của cô như anh đã từng nhìn thấy trong mơ. Thế mà trước đây anh đã cho rằng cô cũng là một người ngu, đầu óc toàn những điều dối trá và hận thù, lòng thì lạnh như băng, giống như những người khác mà thôi. Anh bỗng cảm thấy phát sốt khi nghĩ rằng có thể sẽ mất cô, có thể sẽ chẳng được ôm ấp cái thân thể trẻ trung, trắng trẻo ngọc ngà của cô! Điều anh sợ nhất là cô sẽ nghĩ lại nếu anh không mau chóng tiếp xúc được với cô. Nhưng tiếp xúc được với cô là chuyện cực kì khó. Không khác gì chơi cờ khi đã bị chiếu tướng. Quay hướng nào cũng thấy màn vô tuyến. Anh đã nghĩ đến tất cả phương pháp tiếp cận ngay trong vòng năm phút đầu tiên sau khi đọc mẩu giấy và bây giờ, khi có điều kiện suy nghĩ, anh đang cân nhắc từng phương án, giống như đang sắp xếp các dụng cụ đặt ngay trên bàn trước mặt vậy.

Rõ ràng là không thể tái ngộ như hồi sáng được nữa rồi. Nếu cô làm ở Phòng Tài Liệu thì còn tương đối dễ, Phòng Sáng Tác nằm ở đâu thì anh lại biết rất mù mờ, vả lại cũng chẳng có lí do gì để đến đó cả. Nếu anh biết chỗ cô ở và thời gian cô rời công sở thì có thể anh sẽ cố gắng tìm cách gặp cô trên đường về; nhưng đi theo cô cũng chả an toàn đâu vì dù muốn dù không cũng phải lảng vảng quanh Bộ mà như thế thì bị chú ý ngay. Chẳng nên nghĩ đến chuyện gửi thư. Ai cũng biết là tất cả thư từ đều bị kiểm duyệt trước khi đến tay người nhận. Thực ra là rất ít người viết thư. Đôi khi nếu cần nhắn cho ai thì chỉ việc mua những cái bưu thiếp, trên đó đã có sẵn các câu mẫu, chỉ cần xoá những câu không cần thiết là xong. Anh không biết cả tên cô chứ chưa nói địa chỉ. Cuối cùng anh cho rằng chỗ an toàn nhất chính là căng tin. Nếu cô ngồi một mình một bàn ở khoảng giữa phòng, đừng có gần màn vô tuyến quá và nếu trong phòng ồn ào... giả sử được như thế, thí dụ, khoảng ba mươi giây thì hai người có thể đủ thời gian trao đổi vài câu.

Tuần lễ tiếp theo trôi qua như một giấc mơ. Hôm sau, khi tiếng còi báo hiệu giờ làm việc nổi lên rồi cô mới tới căng tin, lúc đó thì anh đã đứng dậy chuẩn bị đi. Chắc là cô đã chuyển sang làm ca hai. Họ đi lướt qua nhau, không ai nhìn ai. Hôm sau nữa cô có mặt ở căng tin như thường lệ, nhưng có ba cô đi kèm, họ ngồi ngay dưới màn vô tuyến. Sau đó là ba ngày kinh hoàng đối với anh: không thấy cô đâu cả. Cả tâm hồn cũng như thể xác anh bỗng trở nên nhậy cảm đến mức không thể chịu đựng nổi; mọi hành vi, mọi tiếng động, mọi va chạm, mọi lời nghe được hay nói ra đều làm cho anh đau đớn, như bị tra tấn. Hình ảnh cô theo anh vào tận giấc ngủ mỗi ngày. Suốt mấy hôm đó anh không động đến cuốn nhật kí lần nào. Chính lúc làm việc anh lại được thư giãn đôi chút, anh có thể quên những giằng xé nội tâm khoảng mươi phút mỗi lần. Hiện cô ra sao, anh hoàn toàn mù tịt. Biết hỏi ai bây giờ. Có thể cô đã bốc hơi rồi, có thể cô đã tự sát rồi, có thể cô đã bị chuyển đến một vùng xa xôi hẻo lánh của Oceania rồi: nhưng điều tệ hại nhất và cũng dễ xảy ra nhất là cô đã nghĩ lại và quyết định không gặp anh nữa.

Ngày thứ tư cô lại xuất hiện. Cánh tay không còn treo trên cổ nữa, chỉ có cổ tay bị bó bột mà thôi. Như trút được gánh nặng, anh nhìn chằm chằm về phía cô đến mấy giây liền. Hôm sau chỉ chút xíu nữa thì anh đã nói chuyện được với cô. Khi anh bước vào căng tin thì thấy cô ngồi một mình bên cạnh cái bàn đặt cách xa tường. Lúc ấy còn sớm, chưa đông lắm. Winston đã đứng ngay cạnh quầy thì phải dừng lại chừng hai phút vì có người kêu là không được phát viên đường hoá học. Dù bị chậm một chút nhưng cô gái vẫn ngồi một mình khi Winston bưng mâm, anh quyết định đi về phía bàn của cô. Vừa bước anh vừa làm như vô tình ngước mắt tìm kiếm một cái bàn ngay sát chỗ cô ngồi. Cô chỉ còn cách anh chừng ba mét. Chỉ hai giây nữa là xong. Bỗng có người gọi từ đằng sau: “Smith!”. Anh giả vờ như không nghe thấy. “Smith!”, người kia lại gọi, lần này to hơn. Không thể tránh được nữa. Anh quay lại. Hóa ra là Wilsher, gã còn trẻ, tóc vàng, vẻ mặt ngây ngô, anh không biết rõ tay này, hắn ta mời anh ngồi xuống cái ghế còn để trống cùng bàn với hắn. Từ chối sẽ bị nghi ngay. Đã bị nhận diện rồi thì không thể đến ngồi cùng bàn với người phụ nữ đang ăn một mình. Sẽ bị chú ý ngay. Anh ngồi xuống, miệng nở một nụ cười thân thiện. Bộ mặt ngây ngô của Wilsher tươi tỉnh hẳn lên. Anh mường tượng cảnh mình đang cầm một cái búa chim cuốc thẳng vào giữa bộ mặt cầu tài đó. Bàn cô gái cũng có người ngồi ngay sau đó.

Chắc chắn là cô đã trông thấy anh định đi lại phía cô, có thể cô đã hiểu được thâm ý của anh. Hôm sau anh cố gắng đến căng tin sớm hơn mọi khi. Quả đúng như dự đoán, cô đã ngồi ngay gần chỗ hôm qua, vẫn chỉ có một mình. Đứng trước anh là một người đàn ông bé loắt choắt, cử động liên tục, người trông như bọ hung, hai mắt nhỏ tí, láo liên. Khi vừa bưng mâm bước ra khỏi quầy, Winston đã trông thấy người đàn ông nhỏ bé kia đang bước thẳng lại phía bàn cô gái. Hi vọng tưởng sắp tắt ngúm. Xa hơn một chút có một cái bàn trống, nhưng dáng vẻ của người đàn ông cho thấy rằng gã chỉ quan tâm đến sự tiện lợi của chính mình và gã sẽ chọn cái bàn ở chỗ trống trải nhất. Winston bước theo gã mà lòng nặng trĩu. Nếu anh không gặp riêng được cô thì câu chuyện chẳng thể nào tiến triển được. Bỗng nghe có tiếng xoảng một cái. Con người nhỏ bé đang lồm cồm bò, cái mâm bắn ra xa, cà phê và xúp tạo thành hai vệt nước chạy dài trên nền nhà. Gã đứng dậy và cáu kỉnh nhìn quanh, có thể gã ngờ rằng đã bị Winston gạt chân. Thế là xong. Chỉ năm giây sau, Winston đã ngồi cùng một bàn với cô gái, tim đập như trống trận.

Anh không nhìn cô. Anh xếp các thứ ra bàn và lập tức ngồi ăn. Cần phải nói ngay, trước khi có người đến phá quấy, nhưng đột nhiên Winston phát hoảng. Từ lần gặp đầu tiên đến nay đã một tuần rồi. Cô ta đã nghĩ lại, chắc chắn cô ta đã nghĩ lại rồi! Chuyện này chẳng thể nào kết thúc có hậu được; làm gì có chuyện như thế trong cuộc đời này. Có thể anh đã không dám mở miệng nếu đúng lúc đó không trông thấy Ampleforth, một thi sĩ tai đầy lông lá đang thất thểu bước quanh phòng để tìm một chỗ trống. Anh chàng Ampleforth đãng trí tuy vậy rất quí Winston, nếu nhìn thấy thì anh ta sẽ lại ngồi bên cạnh ngay. Thời gian hành động có hạn, chỉ một phút là cùng. Hai người vẫn tiếp tục ăn. Họ ăn món thịt hầm đậu tương, toàn nước là nước. Winston bắt đầu nói, gần như thì thầm. Không ai ngẩng lên, họ tiếp tục xúc từng thìa nước đưa vào miệng, vừa ăn vừa khẽ trao đổi với nhau những câu thật ngắn.

"Mấy giờ em về?"

"Sáu giờ rưỡi"

"Ta có thể gặp nhau ở đâu?"

"Quảng trường Chiến Thắng, gần bức tượng"

"Ở đấy nhiều màn vô tuyến lắm"

"Không sao đâu, đông người lắm"

"Tín hiệu?"

"Không cần. Chỉ được đến gần khi thấy em đứng ở chỗ đông người thôi đấy. Cũng đừng có nhìn. Nhưng đừng đi xa"

"Mấy giờ?"

"Mười chín giờ"

"Thôi nhé"

Ampleforth không nhìn thấy Winston, anh ta đến ngồi ở một bàn khác. Họ không nói gì thêm và tuy ngồi đối diện với nhau trên cùng một bàn ăn, họ cũng cố không nhìn nhau lần nào nữa. Cô gái ăn thật nhanh cho xong bữa và đứng dậy đi ngay, Winston còn ngồi lại hút thuốc.

Winston có mặt tại quảng trường Chiến Thắng trước giờ hẹn. Anh đi đi lại lại xung quanh chân cái cột cực lớn có những đường hoa văn trang trí, trên đỉnh cột là bức tượng Anh Cả. Bức tượng hướng cặp mắt về phương Nam, nơi Anh đã đập tan không lực của Eurasia (trước đây vài năm thì là không lực của Eastasia) trong trận đánh bảo vệ Đường Bay I. Trên đường phố đối diện có tượng một người cưỡi ngựa được cho là của Oliver Cromwell [1] . Đã mười chín giờ năm mà cô gái vẫn chưa đến. Winston rất lo. Cô ấy không đến, cô ấy đã nghĩ lại rồi! Anh đi về hướng bắc quảng trường và cảm thấy vui lên chút ít khi nhận ra nhà thờ St. Martin, nhà thờ với cái chuông, đấy là nói khi còn chuông, từng ngân nga “Nợ ta ba xèng”. Sau đó anh trông thấy cô gái đứng ở dưới chân bức tượng đang đọc hay đang giả vờ đọc một khẩu hiệu quấn quanh cột như cái lò xo. Chưa thật an toàn vì ở đấy còn vắng. Xung quanh mái che phía trên có nhiều màn vô tuyến lắm. Nhưng từ phía bên trái bỗng dậy lên tiếng hò hét và tiếng gầm rú của xe tải nặng. Tất cả mọi người trên quảng trường cùng hò nhau lao ra hướng đó. Cô gái chạy thật nhanh tránh mấy con sư tử dưới chân cột và nhập vào đám đông. Winston vội vã bám theo. Anh nghe thấy người ta bảo đang giải bọn tù binh Eurasia.

Một đám rất đông đã tụ tập ở phía nam quảng trường. Winston thuộc loại những người thường đứng phía ngoài mọi cuộc tụ bạ, nhưng lần này lại cố xô đẩy, chen lấn hòng len vào giữa đám đông. Chẳng mấy chốc anh đã chỉ còn cách cô chừng một sải tay, nhưng một gã cu li to như voi và một người đàn bà, chắc là vợ gã kia, cũng to không kém bỗng làm thành một bức tường thịt không cách gì vượt qua được. Wiston quay nghiêng và lấy hết sức lách vai vào giữa hai người. Có lúc anh tưởng chừng như hai khối thịt kia sẽ ép nát hết ruột gan phèo phổi, nhưng cuối cùng đã luồn qua được, tuy có bị toát một ít mồ hôi. Anh đã đến bên cô gái. Hai người đứng sát nhau, vai kề vai, mắt cùng chăm chú nhìn về phía trước.

Một đoàn xe tải từ từ đi qua, mỗi góc thùng xe có một người lính mặt vô hồn, đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng, tay lăm lăm súng máy. Trong thùng xe ngồi lúc nhúc một bọn người nhỏ bé da vàng, quân phục màu xanh đã sờn. Đấy là những người Mông Cổ, mặt buồn rười rượi, nhìn ngang, vô cảm. Mỗi lần xe bị xóc lại có tiếng kim loại va vào nhau loảng xoảng: tất cả tù binh đều bị xích chân. Từng chiếc xe với những khuôn mặt buồn bã nối tiếp đi qua. Winston biết rằng tù binh thường bị giải qua đây, nhưng thỉnh thoảng anh mới gặp như thế này. Vai và tay cô gái ép sát vào vai và tay anh. Má cô gần đến nỗi anh cảm thấy cả hơi ấm của cô. Cô lập tức lợi dụng cơ hội, giống như đã làm trong căng tin. Cô bắt đầu nói, môi chỉ khẽ mấp máy, giọng thì thầm chìm nghỉm trong tiếng ồn ào của đám đông và tiếng gầm rú của động cơ.

"Anh nghe rõ chứ?"

"Có"

"Chiều chủ nhật có rỗi không?"

"Có"

"Thế thì nghe đây. Anh phải nhớ đấy. Anh sẽ ra ga Paddington...."

Anh lấy làm ngạc nhiên khi nghe cô mô tả đường đi chính xác theo lối nhà binh. Đi tàu hỏa nửa tiếng; xuống ga; rẽ trái; đi bộ hai cây số; cái cổng không có xà ngang; đường mòn xuyên qua cánh đồng; đường hai bên đầy cỏ dại; đường mòn giữa các lùm cây; một cái cây đã chết đầy rêu. Dường như cô thuộc lòng cả tấm bản đồ. “Anh có thể nhớ hết không?”, cô nói thêm.

"Có"

"Rẽ trái, rẽ phải rồi rẽ trái nữa. Thấy một cái cổng không xà ngang"

"Được rồi. Mấy giờ?"

"Khoảng mười lăm giờ. Anh có thể phải đợi đấy. Em sẽ đi đường khác. Anh có chắc là nhớ không?"

"Có"

"Thế thì đi khỏi đây mau"

Chẳng cần nói anh cũng biết. Nhưng đông người quá, không thể nào đi được. Đoàn xe tiếp tục lăn bánh, người xem vẫn không chán. Ban đầu có tiếng la ó, tiếng huýt gió chế giễu từ nhóm các đảng viên, nhưng không được hưởng ứng. Người ta đi xem chủ yếu là vì tò mò. Người ngoại quốc, dù là Eurasia hay Eastasia, đều bị coi là những sinh vật lạ. Chỉ có thể nhìn thấy người ngoại quốc khi họ đã là tù binh, mà cũng chỉ thoáng qua thôi. Trừ một vài người bị treo cổ công khai như những tội phạm chiến tranh, không ai biết số phận những người còn lại ra sao, đơn giản là họ đã biến mất, có lẽ bị đưa vào trại lao động khổ sai. Sau những đoàn tù binh Mông Cổ mặt tròn tròn là đến những đoàn Âu Châu, râu ria xồm xoàm, mệt mỏi, bẩn thỉu. Ánh mắt trên những khuôn mặt gầy gò, râu ria ấy chiếu thẳng vào Winston, cũng có người nhìn một cách chăm chú khác thường. Đoàn diễu hành sắp sửa chấm dứt. Trên cái xe cuối cùng có một người đàn ông đã có tuổi, râu trắng phủ đầy mặt, đứng bắt chéo hai tay trước bụng như thể đã quen bị trói vậy. Cần phải tách khỏi cô gái ngay. Nhưng đúng vào những phút cuối cùng, khi đám đông chưa kịp tản ra, thì cô gái kia tìm được tay anh và bóp mạnh.

Chuyện đó kéo dài chỉ chừng mười giây, thế mà anh tưởng hai người đã nắm tay nhau lâu lắm rồi. Anh đã kịp khảo sát toàn bộ bàn tay cô. Anh sờ từng ngón tay búp măng, từng móng nhọn, anh sờ lòng bàn tay cứng và chai vì vất vả, anh nắn chỗ thịt mềm ngay sát cổ tay cô. Chỉ cần sờ thế anh đã có thể mường tượng được bàn tay cô. Ngay lúc đó anh chợt nhận ra rằng mình không biết màu mắt cô. Có thể màu nâu, nhưng đôi khi người tóc đen lại có mắt xanh. Nhưng quay đầu lại để nhìn vào mắt cô là một hành động thiếu thận trọng không chấp nhận được. Họ đứng giữa đám đông, tay trong tay, mắt nhìn thẳng và không phải mắt cô gái mà là cặp mắt người tù binh già, râu rậm, buồn nản đang chằm chằm nhìn Winston.


Số Lần Chấm:  
0

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,674
Nguồn: Phạm Minh Ngọc dịch
Đăng bởi: Tí Lười (12/9/2004)
Người gửi: TL
 
1 / 2 / 3 / Lời người dịch / Phần I - 1 / II / III / IV / V / VI / VII / VIII / PHẦN II - i / ii / iii / iv / v / vi / vii / viii / ix / ix. / x / Phần III - l / ll / lll / lV / V.  / Vl / Phụ lục  /