Truyện (Chưa Xếp Loại)

Lá Thư Từ Kinh Xáng - Hai Trầu

Lương Thư Trung

11



Kinh xáng Bốn Tổng ngày... tháng 02 năm 2002

Chú Ba sắp nhỏ,

Lật bật rồi sắp hết tháng Chạp, Tết nhất tới bên đít rồi chú Ba à. Tôi giựt mình lấy giấy mực ra ngồi viết cho chú lá thơ này, trước thăm chú thím cùng sắp nhỏ, sau biên cho chú hay vài ba tin tức anh em bên nhà nhân những ngày cận Tết.

Tết là gì, thiệt tình dân quê như mình chỉ nghe người lớn nói vậy rồi nghe theo vậy, mà rồi truyền miệng với nhau , thành ra không ai thắc mắc tại sao có Tết và Tết là gì ? Cứ gần giáp năm là lo Tết. Nhà nhà lo ăn Tết, không phân biệt chủ đất hay tá điền, đứa làm mùa hay người có ruộng, có trâu bò... Người lớn lo Tết, trẻ nhỏ mừng Tết. Cứ thế mà hết đời này tới đời khác nơi thôn quê chòm xóm mình xúm nhau ăn Tết... Và rồi, Tết là một cái lễ lớn ở nhà quê, ở chợ búa thị thành, là văn hóa của dân Việt... Không ăn Tết là buồn, buồn đến đứt ruột chứ chẳng phải chơi !

Thật ra, cái gì cũng có căn cơ hết chú Ba à. Nhứt là các vị kỳ lão trong làng hồi xửa hồi xưa như đời ông Nội mình, đời Tía mình, đời bác bảy Hiển, các cụ đã nói cho con cháu biết thế nào là Tết rồi. "Tứ thời tiết lập" mà ! Mùa nào thời có "tiết" nấy, không sai chạy được ! Đầu năm Tết Nguyên đán. Rằm tháng giêng là Tết Thượng nguyên. Mồng ba tháng ba Tết Hàn thực cúng Giới Tử Thôi. Rồi cùng trong tháng ba lại có tục tảo mộ lo sửa sang, quét dọn, đấp bồi mồ mả gọi là Tết Thanh Minh. Mồng năm tháng năm có Tết Đoan Ngọ cúng ông Khuất Nguyên với tục hái lá cây do tích "Lưu Thần, Nguyễn Triệu". Rằm tháng bảy là Tết Trung nguyên; rồi rằm tháng Tám là Tết Trung thu. Mồng chín tháng chín có Tết Trùng cửu; mồng mười tháng mười Tết Trùng thập; rằm tháng mười là Tết Hạ nguyên. Tết quá là Tết phải hông chú Ba ???!!! Ngặt một nỗi, gần cận Tết dân ruộng mình hơi túng bấn lắm. Thành ra, ăn Tết mà phải chạy vay nợ nghĩ cũng phần nào mất vui. Nhớ hồi xưa trong sách sử củ, cụ Phan Kế Bính cũng đã phá việc dân mình ăn Tết quá nhiều gây ra hao tốn tiền bạc của cải mà nhiều lúc hơi phí uổng. Đời nay, nghĩ lại mình già rồi, chỉ lo cái Tết Nguyên đán là cũng đủ thấy mệt rồi chú Ba à.

Mỗi lần Tết là mỗi lần tóc bạc thêm nhiều, rồi nhớ lại vậy mà phát ớn lạnh... Cái gánh nợ đời đeo đẳng mấy chục năm giống như cái bào thai trong bụng mẹ lớn dần mình không thấy nặng; nhưng khi ngồi lần đốt lóng tay tính nhẩm cuộc đời, mình đâm ra mờ con mắt với những tháng năm dài qua rồi. Sáu anh chị em mình cha mẹ sanh ra hồi nào còn lóc nhóc, khi chạy giặc Tây dồn xuống chiếc xuồng cui bơi tuốt lên miệt Cái Nai, tôi nhớ chú cứ rà tay dưới nước cho vui ... Vậy mà bây giờ ai cũng già , thời cuộc đổi dời quá mạng!!!

Chú Ba sắp nhỏ,

Tôi dự định Tết sắp đến là cưới vợ cho thằng Bé Sáu, là thằng lót ổ trong sáu đứa con, cho tròn bổn phận làm cha mẹ. Việc ruộng nương coi vậy mà khó, mà tánh thằng Bé Sáu này lại không chịu khó theo mùa màng nên năm nào rẫy ruộng cũng đều thất bát tư niên... Làm cha mẹ lo xong bề gia thất cho con cái trọn vẹn là mừng. Tôi cũng dự tính chia phần đất ruộng cho mỗi đứa đâu ra đấy để tránh bề lục đục trong anh em khi có dâu có rể chen vào. Cảnh dân quê mình là vậy. Hễ ruột thịt sống chung nhau dù nghèo dù giàu anh em trên thuận dưới hòa đầm ấm nhưng khi có người dưng xen vào là dễ có việc bất hòa... Lo cho con là lo vậy...

Nhắc tới đất ruộng, tôi mới nhớ vạt đất trên Vịnh Đồn của má hồi trước cho gần một trăm nốc gia từ bên Miên chạy giạt về ở đậu, vậy mà rồi người tốt không nhiều, kẻ tham lại đa phần lấn chiếm. Khi thời cuộc khó khăn họ thừa gió bẻ măng, khai địa bộ chủ quyền không một lời ơn nghĩa. Và bây giờ nghe lại đã có lịnh giải tỏa để mở đường, mở chợ nhưng họ vẫn khăng khăng không nhận là ở đậu đất mình để hy vọng hưởng phần bồi thường dời chỗ... Thiệt là đúng với câu "cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơn báo oán". Thôi mình cũng phú thác cho Trời cao phân xử. Việc nhân nghĩa không phải chỉ là việc canh điền mà là cái gì nó cao hơn chú Ba à . "Tiền của đất cát nó giải quyết nhiều thứ nhưng dù sao đi nữa nó chỉ là vật ngoài thân, nên khi mình chết đi, những thứ nuôi thân mạng mình, mình không mang theo được, mà chính là những phải quấy của cuộc đời, ăn sâu vào tiềm thức, nó sẽ theo mình cho đến kiếp lai sinh..." Câu nói này của vợ chú Út Trí ở Cái Bè, thím ấy nói với tôi hồi năm ngoái, nhân tôi về thăm bác Ba Bổn, vậy mà thâm thúy. Nhắc chuyện này, tôi la.i nhớ hồi trước chú thím Út nó thành chồng vợ cũng là do bác Ba Bổn đứng ra lo trầu cau cưới hỏi cho con. Nhưng thím ấy bạc phần, chồng tử trận ở ngoài Phù Cát lúc mới sanh đứa con đầu lòng được ba tháng. Và rồi ở vậy thờ chồng nuôi con khôn lớn tới bây giờ, kể ra quá là quí. Đáng nể phục một tấm gương tiết hạnh cao quí giữa cõi đời đầy bon chen tranh lấn này vậy!!!

Chú Ba sắp nhỏ,

Đến từng tuổi tôi, tôi đã chứng kiến nhiều cảnh ngang trái trong việc"người cày có ruộng" lắm rồi, nên tôi an định lắm chú Ba à. Người ta thường kêu rêu chủ ruộng nhưng ít ai thấy người cày ruộng cũng có nhiều cái dở. Chẳng hạn việc Tư Xây bán đất bà Nội mình trong Bàu Hút rồi kiếm mua miếng đất khác trong Ba Thê để chuyển đổi chủ quyền, nhưng rồi cũng không khá mà còn làm mất lòng bà con chòm xóm. Việc Tám Bôi chiếm hữu đất bãi cồn làm của riêng cho tới bây giờ Tám Bôi vẫn ra ma mà tiếng tham truyền miệng hoài hoài tới đời cháu nội vẩn chưa dứt. Nghìn năm bia miệng mà, có ai lấy thúng úp miệng voi cho được!!!

Ở đời này tìm cái hay thì khó, chứ ngó cái dở đâu đâu cũng sờ sờ trước mắt. Nói gì chuyện cao siêu, ngay cứ cái nghề làm ruộng nương tư niên bốn mùa của vùng kinh xáng Bốn Tổng mình có biết bao cái dở... Nhưng có điều ý nghĩa cuộc đời nó nằm ngay trong cái dở nghe chú Ba !!! Tôi nói gì mâu thuẫn quá phải hông chú ? Thiệt vậy mà ! "Nhân vô thập toàn". Ở đời này nếu ai cũng hay ráo trọi chẳng khác trăng rằm, nó tròn vo như cái nia, còn gì để nói nữa. Ngay như không có cái dở là lòng tham của những người chiếm hữu ruộng đất của ông bà mình thì làm sao biết được bài học về "cứu nhơn nhơn báo oán"!!! Thành ra, cách ngôn, ngạn ngữ là những bài học được người xưa trải qua rồi, và từ đó mà rút tỉa ra thành một loại cao hổ cốt cho đời sau hữu dụng.

Chú Ba sắp nhỏ,

Tết năm này là Tết Nhâm Ngọ. Tôi nhớ chú cũng tuổi Nhâm Ngọ, vậy là đáo tuế sáu mươi năm. Nhìn lại dòng sống một đời người có ai "đáo tuế" hai lần phải hông chú Ba!

Ngược lại dòng thời gian thì tôi nghe Tía kể năm Nhâm Ngọ đầu tiên theo lịch Tây là năm 22 chú Ba à . Rồi từ đó cứ cọng thên 60 chục năm tức một vòng đáo tuế là mình có những năm Nhâm Ngọ kế tiếp. Chẳng hạn như các năm 82, 142, 202,...1822,1882 cho dĩ chí đến năm 1942, 2002 là những năm mang tên Nhâm Ngọ nhe chú Ba. Sắp tới nữa phải mất sáu chục năm nữa mới thêm một lần Nhâm Ngọ vào năm 2062.

Phải mất 120 năm mới hai lần đáo tuế, thành ra có ai sống quá một trăm năm phải hông chú !? Chú còn nhớ khi xưa Sở Thạch đại sư có làm hai câu thi, khi Ngài ở tuổi bảy mươi :

"Nhơn sanh bá tuế thất tuần hy

Vãng sự hồi quan tận giác phi !"

Đại ý như vầy chú Ba à :"Kiếp người tuy nói trăm năm, nhưng sống được bảy mươi đã là ít có. Và vào tuổi bảy mươi như Ngài khi quay nhìn lại việc cũ, thấy mình đều lỗi lầm." Một bậc cao tăng mà còn tự nhận lỗi lầm dường ấy, huống hồ gì tôi với chú là người phàm tục. Thành ra, "đáo tuế" cũng là dịp nhìn lại mà mừng tuổi thọ và cũng để nhìn lại chuyện hay dở hầu rút tỉa, học hỏi thêm.

Nhơn nói đến năm Nhâm Ngọ, hôm trước tôi có coi một tờ báo Tết nói về năm Ngựa trong văn chương, nhưng tôi không nghe ai nói năm Ngựa trong đời người chú Ba !!!

Thiệt tình ra, đem con ngựa mà ví với đời người là ví cái cực nhọc dặm trường. Người nào mang mạng "ngựa" là mang cái cực hoài hoài, mệt nghỉ... Chú nhẩm tính lại thì rõ ... Bù lại, người mang mạng "Ngựa" lại được cái phúc là "Ngựa" coi vậy mà biết nghe kinh Phật nghe chú Ba ! Số là trong bộ Pháp Hoa Trì Nghiệm, có kể lại câu chuyện "Con ngựa của Thầy Tây Lâm": "Triều Minh, niên hiệu Gia Tỉnh, Thầy trụ trì chùa Bảo Ấn tên là Vĩnh Ninh biệt hiệu Tây Lâm có nuôi con ngựa. Mỗi khi Thầy đi phó trai nơi dinh quan Lễ Bộ đều cỡi con ngựa ấy. Từ chùa, bắt đầu lên lưng ngựa, Thầy thầm tụng kinh Pháp Hoa cho đến khi tới dinh xuống ngựa thì vừa rồi một quyển, lần nào đi cũng thường tụng như thế. Ít lúc sau có một người đàn bà chửa ở ngang cửa chùa ban đêm nằm mộng thấy con ngựa ấy vào nhà bèn sanh được một đứa con trai. Sáng ấy, đến chùa hỏi thăm, thời té ra con ngựa chết cũng đúng vào giờ đó.

Đến sau, nhà ấy cho con theo làm đệ tử Thầy Tây Lâm, tính nó rất đần độn. Thầy dạy nó học, một chữ cũng không thuộc, duy truyền miệng cho nó một quyển kinh Pháp Hoa nó bèn thuộc lòng. Do đó Thầy tin rằng: Ngựa nghe kinh được thoát thân thú vậy."(*)

Nhắc lại chuyện này, tôi mới ngẫm nghĩ nhiều lúc mình lại dở ẹt. Quanh năm suốt tháng nhiều lúc bận rộn quá mà quên luôn kinh kệ tu hành chú Ba à ! Tôi biết việc này là không phải, là dở vậy mà rồi cứ hẹn mai, hẹn mốt riết rồi nay mình già mà không thuộc lấy chữ "Nam Mô", nói gì cả một bộ kinh Pháp Hoa như con ngựa của Thầy Tây Lâm thời xưa dưới triều Minh, đời Gia Tĩnh. Việc đời khó mà biết được ai dở ai hay. Mà cho dù có biết được đi chăng nữa cũng phải đợi tới lúc mình già như ngài Sở Thạch đại sư thì may ra mới giựt mình giựt mẩy mà than rằng:"Thôi rồi một đời người toàn là chuyện dở !!!"

Thời giờ như thể tên bay! Người bình dân ví vậy mà đúng quá là đúng. Tiết trời qua mau nên mùa lúa Đông Xuân năm này đã sắp đỏ đuôi bông cái rồi. Mã lúa coi cũng đỡ đỡ, nếu đừng có sâu bịnh gì chắc cũng tròm trèm trên ba mươi giạ một công tầm điền. Nhưng ngặt nỗi giá lúa mấy năm nay còn quá thấp nên làm ruộng ngày nay là làm nợ làm nần chú Ba à . Hôm trước tôi có gặp cô Tư trên Mặc Cần Dưng, cô than mấy năm rồi thất bát quá, lúa lại không có giá nên tiền vay ngân hàng mua thuốc mua phân trả không nổi anh Hai ! Nợ quá mạng kể từ khi dượng Tư Cầm qua đời . Nghĩ mà thương cho người làm ruộng chú Ba à. Không phải mình làm ruộng rồi mình nói thương mình, như vậy là nói chuyện đủ vốn. Mà chú nghĩ kỹ lại coi, có ai thương mình bằng mình đâu chú !

Chú Ba sắp nhỏ,

Dù gì thì gì, Tết này thằng con Út của tôi nó còn được hơn chục giạ lúa củ và vài giạ nếp, vậy là đủ ba ngày Tết rồi chú. Vả lại, Tết nhứt là để nhớ lại các mỹ tục thuần phong của tổ tiên lưu lại chứ đâu phải lúc tiêu pha phung phí cho đến đổi mang công mắc nợ lưu lai, thành ra, tôi cũng rầy chừng chừng sắp nhỏ hoài đừng có đua đòi mua sắm. Thời buổi đồng tiền bên Mỹ hay bên nhà cùng đều kiếm quá khó khăn như nhau nên tiết kiệm lúc nào là đỡ lúc ấy. Tôi đại kỵ là sắp nhỏ ỷ có chú, có bác bên Mỹ rồi ở nhà cứ xài xã láng, là một điều thất nhân lắm nghe chú !!! Tôi hồi năm 1965 có qua bên đó tu nghiệp một năm rồi, nên tôi biết cái cực lúc xa nhà. Hồi đó tôi lãnh mỗi ngày 6 đô la, một tháng vị chi là 180 đô la, rồi đâu có dám xài; nhờ vậy mà tiết kiệm cũng bộn. Bây giờ nghe nói tiền bạc mất giá, làm lương thì có khá đó nhưng giá hàng hóa lại quá mắc mỏ nên chắc là chật vật lắm, thành ra tôi biết chú cực mà rầy sắp nhỏ đừng ỷ lại vào chú thím bây bên đó . Chú yên tâm, ở bên này tôi kềm chế tụi nhỏ dữ lắm, thành ra, nhà mình vẫn là nhà vách lá tre phên như ngày nào mà thấy lòng lâng lâng vui thú tuổi già... Mọi se sua chỉ là hào nhoáng, giả tạm, mà cõi đời này đâu phải ai cũng thích se sua.

Chú Ba sắp nhỏ,

Lá thơ đã dài, nói hoài còn hoài, nhưng có điều mỗi lần Tết là tôi nhớ chú dữ lắm. Thành ra viết hoài không hết là vậy! Nhớ năm ấy cận Tết mà lúa trong bồ không còn. May mắn sao, năm đó chú có công lúa gò sạ sớm, nên lúa chín sớm. Đến chừng lúa chín thiệt là chín, rồi không ai hẹn ai, cứ hừng đông là cả xóm xúm lại người cắt người gom, kẻ đạp người giũ rơm vậy mà chia nhau anh em chòm xóm người vài gịa lúa mới đem về xay gạo ăn Tết. Nhớ lại cái tình chòm xóm chia cơm sẻ áo lúc ngặt nghèo sao mà vui quá là vui... Thành ra, ở đây ai ai cùng nhắc chú lúc sắp Tết là vậy. Nhắc chú là nhắc lúc nghèo chú không bỏ ai và cái nghĩa ở đời nó nằm chỗ đó... Nhờ vậy tôi cũng được tiếng thơm lây ...

Thăm chú thím và sắp nhỏ mạnh giỏi. Năm mới tôi cầu chú thím cùng bà con bên ấy một năm nhiều may mắn, an vui, hạnh phúc và nhất là có công ăn việc làm, không bị khủng bố khủng biếc như hồi năm cũ ...

Cuối thơ,

Hai Trầu

(*) Trích Kinh PHÁP HOA do Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch


(Nguồn: Văn Học Nghệ Thuật E-Magazine)


Số Lần Chấm:  
2

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,100
Nguồn:
Đăng bởi: Phượng Các ()
Người gửi: Nguyên Xưa
 
1 / 2 / 3 / 4 / 5 / 6 / 7 / 8 / 9 / 10 / 11 / 12 /