Truyện (Chưa Xếp Loại)

Lá Thư Từ Kinh Xáng - Hai Trầu

Lương Thư Trung


Kinh xáng Bốn Tổng ngày ... tháng 03 năm 2004

Vài hàng gởi thăm chú Tám Thanh sắp nhỏ,
Dường như lâu lắm, tính có hơn bốn năm tháng nay, tui mới rảnh ngồi viết mấy hàng này gởi qua thăm chú thím Tám sắp nhỏ cùng bà con bên ấy được khỏe mạnh. Có sự trễ nải như vậy cũng vì mấy cái vụ cúm gà cúm vịt, rồi mùa màng, Tết nhứt, trăm thứ bề bộn mà cái làm cho tui ngại nhất khi ngồi vào bàn viết thơ cho chú là tâm thần nó ê ẩm quá mạng! Ê ẩm vì tuổi mình tới cái độ gọi là già nua rồiø mà nhớ đến chú nay cũng không còn trẻ trung gì nữa ! Anh em mình dù bà con cô cậu mấy đời nhưng nhớ đến năm lần chú để bác sĩ cả Mỹ lẫn Việt Nam mổ banh cái bao tử vọc chơi khơi khơi, tui thấy thương cho cái bao tử của chú quá chừng!
Cái mà chú hơn tui là chú có thừa bản lĩnh, một mình, để vượt qua những cơn đau thập tử nhứt sinh không thua gì các bà mẹ hồi sinh nở đã tâm sự “người ta đi biển có đôi , đàn bà đi biển mồ côi một mình”; còn tui thì, ôi thôi, cái gì cũng bà nó ơi , má con Thảo ơi, tui sao nay rề rề chỗ này, nhức mỏi chỗ kia, sổ mũi, cảm ho, bá bịnh, nếu không có chị hai của chú lo miếng cháo miếng cơm là tui xí lắt léo liền hà !
Ở đời hơn nhau là ở chỗ đó nghe chú Tám ! Người ta thường ví một đời người không ai qua khỏi bốn thời kỳ “sanh, lão, bịnh, tử”trong thế gian này; nhưng tui lại thấy duy chỉ có chú là người chưa bao giờ biết than mình già; lúc nào chú cũng yêu đời, vui với anh em, chia ngọt xẻ bùi với vợ con gia đình và say mê văn nghệ văn gừng, đặc biệt là cái thú sách vở chữ nghĩa làm chú quên cái bao tử năm lần đau mà mê man theo dõi mọi diễn đàn. Người ta sống lâu là nhờ không biết sợ già chú Tám à. Giống như hồi thời tui còn đi học trường tỉnh, có nhiều đứa học nhảy lớp, như học đệ ngũ mà thi bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, học đệ Tam mà thi bằng Tú Tài 1, mà đậu ngon ơ, thế mới lạ chớ . Có cái kết quả đó là nhờ người ta không sợ rớt ; trong khi mình thức suốt đêm lo gạo bài gần nám phổi mà tới kỳ
thi , năm nào cũng xách cần xé hái ớt dìa muối làm tương ớt cả khạp. Kể ra, hồi đó học tài thi phận là vậy chú Tám à !
Thành ra, tui thấy cái phận nó lấn cái tài và nó cầm tinh cái vận mạng của mình. Bởi vậy mà hồi đời xưa trong Kiều, cụ Tiên Điền, có nghiệm về “tài mệnh tương đố” đó chú Tám...cũng chỉ để an ủi thôi, an ủi những kẻ vô phần, xấu phận vậy mà !
Chú Tám sắp nhỏ,
Nhân nhắc đến Kiều, chú có để ý Nguyễn Du dùng bao nhiêu chữ “cũng” hông chú ? Cả thảy 128 lần khác nhau. Còn tui tò mò đi tìm xem trong Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu có dùng chữ “cũng” nhiều như vậy hông. Ở đây, so với Kiều, Lục Vân Tiên chỉ có 37 lần trong số 2076 câu thơ quen biết này. Thành ra, đâu phải bây giờ mình mới nghe chữ “cũng” phải hông chú Tám ? Chỉ có điều khác là cũng chữ “cũng” đó, nhưng người này dùng có ý khen gượng gạo gần như để chê nhè nhẹ; người khác dùng có ý khiêm cung, nhúng nhường; người khác dùng có ý lượng giá và so sánh thiệt tình chứ không có ý mỉa mai khen chê gì trong bụng mình như nhiều người có tịt thường hay rụt rịt...vậy mà !
Tui viết cho chú mới có mấy hàng mà tui lập đi lập lại bốn năm lần chữ “cũng”, kể ra “cũng” quá rườm rà, lượm thượm phải hông chú Tám ? Thôi thì, lâu ngày không cầm tới cây viết, rồi mắt lại làn, nên ba trật ba vuột viết đi viết lại hoài chữ “cũng”, cũng là phải thôi.
Vì phàm ở đời, khi mình tới cái tuổi ngoài lục thập rồi, là bắt đầu theo mệnh trời; mà hễ theo mệnh trời tức là mình không còn là mình nữa rồi; và chính vì mình không kiểm soát được cái gì mình làm tức là có lẫm cẩm; mà đã lẩm cẩm là bắt đầu lú lẫn như câu tục ngữ ở làng quê tui người ta hay nói “trẻ khôn qua, già lú lẩn”.
À, mà sao ngộ nghe chú Tám, việc gì hễ khi mình không để ý thì thôi, bằng để ý thì cứ lập lại hoài cái thói quen mà mình không biết, giống như “ba đời bảy họ nhà tre, hễ cất lấy gánh nó đè lên vai”. Cho nên, tiện đây, nhớ hôm trước chú có hỏi tui về chữ “cũng”, tui cũng muốn bàn với chú về cái chữ “cũng” ở nơi kinh xáng này hay xài như cơm bữa là cái ý nó có khác trong giới thầy cô chữ nghĩa hay xài chú Tám à. Nó khác một trời một vực chứ không phải là hơi hơi như nhiều người tưởng “xêm xêm” một thứ. Cái lẽ đó nó cũng là cái khác giữa “trí giả” và dân dã”, giữa “thiệt” và “thật”, giữa “có” và “không”, giữa “đãi bôi” và “chân thành”....
Khi bậc trí giả dùng chữ “cũng” với cái nghĩa như nhau, giống nhau, một thể với nhau trong nhiều trường hợp phải đãi đằng, giao thiệp thì có chút gì hơi gượng gạo, không nói thế lại sợ mích lòng nhau, nên hay dùng chữ “cũng” cho nó qua chuyện, cho nó êm ái tình bằng hữu, cho nó suôn sẻ mối giao tình như “cũng hay, cũng được, cũng tốt, cũng phải, cũng xong, cũng đẹp, cũng đoan trang, cũng thùy mị, cũng mặn mà....”.
Còn trong dân dã, thôn quê, khi người làm ruộng dùng chữ “cũng” là tỏ ra lời khiêm cung rất mực, tự ép mình xuống để cho người khác hơn mình, không dám qua mặt chòm xóm, láng giềng, không dám se sua của ghe của bồ mà lên chưn lên mặt, như khi dân ruộng nói “lúa mùa này cũng đỡ” tức là lúa cuả họ trúng lắm; hoặc “đậu xanh mùa này cũng khá” tức là đậu trúng mùa, chứ không phải khá một cách gượng gạo; hoặc giả nói “con nhỏ này coi mòi đức hạnh cũng khá”, tức là đức hạnh không thua ai trong làng xóm này, chứ không phải khen gượng gạo như dân sách vở hay khen nhau mà thật sự khen gượng cho vui thôi !
Thành ra, bàn với chú về chữ “cũng” ở nhà quê khác với ở chợ là bàn về “cái thiệt và cái thật”. Cái thiệt là cái có thiệt, khen thiệt, chứ không phải khen gượng. Cái thật là cái có trong sách vở và cái khen ở trong sách vở là cái khen “thật” nhưng chưa được “thiệt” cho lắm.
Ngoài ra, chữ “cũng” này đâu chỉ có ngoài đời mình ưa dùng, mà ngay trong các chùa chiền từ đời xưa bên Tàu tới hằng mấy ngàn năm, các bậc cao tăng đã lấy chữ “cũng” mà kiến giải cái tu cái học rồi. Chú còn nhớ mẩu chuyện giữa Thiền sư Thần Hội và Lục Tổ Huệ Năng hông ? Hồi nhỏ tui theo tía tui ra chùa Tân Phước ngay tại vàm Rạch Dược vào các ngày rằm lớn cúng Phật, lần nào tui cũng nghe ông Yết Ma trụ trì chùa, hồi đó ổng già lắm rồi, mà lần nào cũng như lần nào, ông hay nhắc lại đoạn đối đáp giữa ngài Thần Hội lúc 14 tuổi với ngài Lục Tổ Huệ Năng cho tía tui và bà con đến cúng chùa ngồi nghe. Sau này ông Yết Ma tịch rồi, pháp thể của ngài được chôn trong bảo tháp hình lục giác cao gần bảy thước cạnh chùa, mà câu chuyện kể về ngài Thần Hội tui còn nghe tía tui nhắc lại hoài. Thế mới biết, cái việc học đạo không phải học một ngày một bữa mà phải tụng niệm hoài mới thắm chú tám à.
Thôi, nói lòng vòng hoài, sợ chú nóng ruột, để tui lược lại câu chuyện xưa mà ông Yết Ma hay kể lại để chú tường:
“Năm 14 tuổi, Thần Hội là sa-di ở chùa Ngọc Tuyền, Sư tìm đến yết kiến Lục Tổ Huệ Năng. Tổ hỏi :
- Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến có đem theo được gốc chăng ? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem ?
Sư thưa :
- Lấy không trụ làm gốc, thấy tức là chủ .
Tổ bảo :
- Sa-di ! Ông đâu nên dùng lời đó !
Sư thưa :
- Hoà-thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy ?
Tổ cầm gậy đánh Sư ba gậy, hỏi :
- Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau ?
Ngài nói :
- Con “cũng” đau, “cũng” chẳng đau .
Lục Tổ bảo :
- Ta “cũng” thấy, “cũng” chẳng thấy .
Ngài hỏi tiếp :
- Thế nào “cũng” thấy, “cũng” chẳng thấy ?
Tổ bảo :” Ta thấy là thường thấy lỗi lầm nơi tâm mình, không thấy việc phải quấy của người khác. Ấy là “cũng” thấy, “cũng” chẳng thấy.
Lục Tổ hỏi :
- Ngươi nói “cũng” đau, “cũng” chẳng đau là sao ? Nếu ngươi chẳng đau thì đồng với cây cỏ, nếu ngươi nói đau thì đồng với phàm phu ắt khởi tâm giận hờn... Ngươi không thấy tự tánh mà dám cợt với người.
Sau khi nghe ngài Lục Tổ Huệ Năng nói vậy, ngài Thần Hội lễ bái hơn trăm lạy, cầu xin sám hối . Từ đây Sư ở lại hầu hạ Tổ không lúc nào rời.”(*)
Chú Tám sắp nhỏ,
Bàn với chú về chữ “cũng” là bàn về cái ý nghĩa của người dùng nó cho vui, chứ thiệt tình ra tự căn gốc nó, chữ “cũng” không có tội tình gì hết chú tám à . Nó cũng như mình thôi, nghĩa là lúc nào mình cũng là dân ruộng làm ra gạo lúa cho đời nhưng bù lại mình bị nhiều người cứ chê mình quê dốt vậy mà. Thôi đành chịu vậy chứ trách ai bây giờ . Phải vậy hông chú tám?
Việc đời khó. Mà ở nhà quê này, việc đời càng khó hơn . Số là nếu chú mở rộng cửa chùa, chắc gì qủy ma không ùa vô theo người đi chùa cúng Phật. Mà chú khoá cổng chùa, chẳng khác nào chú lên núi chú tu . Thế cho nên, nhiều bận tui muốn lên núi Ba Thê ở một mình cho cái lòng bớt phiền não chú Tám à ! Chứ nay tui già rồi, mà tâm còn nhiều ô trược quá, e đời sau nặng gánh nợ nần... Đêm đêm tui thường ngồi một mình nghe tiếng vạc ăn đêm dìa bay ngang vườn tre mà nghĩ lại nhiều cái mình còn dở quá nghe chú . Dở không phải mình không biết; mà chính vì mình biết rồi nên mới biết mình còn dở ẹt là cái đau ! Thành ra, hôm trước đây, nhằm ngày sinh nhựt của tui, tui mới nhận được một cái thơ của một người mình tưởng là mình biết rành người đó, nhưng dù tuổi già có chút ít nghe và biết, nhưng chỉ nghe và biết vậy thôi, chứ chẳng thắm thía gì với cái bao la của lòng người, của càn khôn, của vũ trụ qua lá thơ đó . Lúc đó, tui mới tâm đắc lại lời đối đáp của thiền sư Thần Hội và Lục Tổ Huệ Năng về “cũng thấy, cũng chẳng thấy”, “cũng đau, cũng chẳng đau”. Và cũng từ bữa đó tới nay, nói thiệt với chú tui muốn dìa Ba Thê mà nghe đá nói chuyện đời cho bớt sợ, bớt chán đời!!!
Lá thư kỳ này viết cho chú khá dài là cũng vì cái hỏi của chú quá thâm thúy mà nói ngắn cũng không ngắn hơn được, đành phải lòng vòng có trước có sau. Nhưng cũng không quên nói qua một chút về mùa màng cho chú biết tình cảnh của tui và bà con kinh xáng. Ruộng năm này nắng hạn, trời nóng, bơm nước lên đồng cũng cực và tốn kém không ít, nhưng tui và sắp nhỏ ở đây còn nước còn tát nổi, chú đừng bận tâm cho tui nơi kinh xáng này, mà hãy dồn hết cái lo cho sức khoẻ của chú bên bển, xứ người xa diệu vợi biết kêu hú ai khi tối lửa tắt đèn. Còn bịnh cúm gà cũng có lai rai và sắp nhỏ cũng bị lỗ lã bộn bộn. Tui có nuôi năm ba con gà để phòng khi có khách và nghe tiếng gà gáy ban trưa cho vui, nên còn cũng tốt, mà rủi có chết hết cũng không sao vì trên trời còn có tiếng vạc, trong vườn còn có tiếng chim, tiếng cu, ngoài đồng còn có tiếng cúm núm, le le, nên cũng còn cái chất nhà quê nên mọi việc đâu yên phận nấy, không lo gì cái cõi thiên nhiên biến hoá .
À mà này, hôm trước chú Út sắp nhỏ có nhắc chú là có hứa gởi dìa cho chú hai con nai “thật”, mà không biết có “thiệt” hông? hay chỉ hứa chơi cho vui “cũng được” lúc tửu nhập ngà ngà ... Mấy đứa bên này hay nhắc ba cái vụ lặt vặt, chú đừng bận lòng lo nghĩ chi cho mệt. Ai đời, xa xăm vạn dặm mà gởi “nai” qua “nai” lại làm gì cho khổ công, làm sao chịu cho thấu tiền cộ tiền tàu.
Đêm khuya rồi, tui có mấy hàng gởi qua thăm chú thím cùng con cháu mạnh giỏi. Tui bên này cũng đang nhớ chú dữ lắm. Mong ngày mình gặp lại lai rai vài con khô cá lóc ốp với ruợu nếp than mà anh em mình kể chuyện đời nghe chơi cho đỡ khổ tuổi già.
Nay thư,
Hai Trầu

Ghi chú:
(*) Theo “Thiền Sư Thần Hội” của Thiền sư Thích Thanh Từ, do Hội Thiền Học Việt Nam xuất bản, năm 2002.


Số Lần Chấm:  
6

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 5,610
Nguồn:
Đăng bởi: Phượng Các ()
Người gửi: Nguyên Xưa
Người sửa: Phượng Các;
1 / 2 / 3 / 4 / 5 / 6 / 7 / 8 / 9 / 10 / 11 / 12 /