Truyện (Chưa Xếp Loại)

J. D. Salinger - Kẻ xa lạ của ngôn từ

Salinger, J. D.

Việt Lang

Phần I: Jerome David Salinger – Kẻ xa lạ của ngôn từ

Bờ biển phía Tây Hoa Kỳ vào những năm 1950 là nơi xuất phát các chuyển động lớn về thơ ca, văn chương rồi từ đó lan rộng khắp nước Mỹ. Thêm một chút huyền bí phương Đông, thế hệ Beat (Beat Generation) trong thời hậu chiến đã bốc khói với Allen Ginberg (1926 – 1977), Jack Kerouac (1922 – 1969), John Cheever (1912 – 1982)… Có một khuynh hướng văn học được hình thành vào thời gian này: tiếng nói khẳng định của lứa tuổi vị thành niên. Người ta sẽ mãi nói đến Leslie Marmon Silko (1948 - ) với truyền thống và ngôn ngữ bình dân qua “Native American”, Amy Tan (1952 - ) cùng cuộc vật lộn giữa tuổi thơ Trung Hoa ngay trong gia đình ở California qua “The Joy Luck Club”, và không thể nào quên J. D. Salinger cùng “The Catcher in the Rye” – một nhà tiên phong của phong cách viết Dòng ý thức (Stream of consciousness) cho giới trẻ. Mặt khác trong lĩnh vực truyện ngắn, mỗi khi nhắc đến hai người khổng lồ Ernest Hemingway và Flannery O' Connor thì sẽ là một sai lầm chết người – nếu mọi người bỏ sót J. D. Salinger.


Jerome David Salinger sinh ngày 01/01/1919 tại thành phố New York. Con trai một người Do Thái, còn mẹ lại theo Thiên chúa giáo. Tuổi thơ của Salinger trải qua trong một khu tiện nghi gần Manhattan. Sau nhiều lần chuyển trường vì theo công việc của cha mẹ là những thương gia giàu có về nhập cảng phô mai, cuối cùng Salinger ổn định việc học tại một trường quân đội ở thung lũng Forge năm 1934 và tốt nghiệp trường này năm 1936.



Sau đó Salinger có lăn lộn qua các trường cao đẳng, đại học và NYU, chỉ rất tiếc là các lần ra trường của ông đều không phải nhằm vào các kỳ tốt nghiệp. Riêng trong lần học ở đại học Colombia, Salinger đã tỏ ra nổi trội trong một lớp sáng tác. J. D. Salinger bắt đầu cống hiến thời gian của mình cho công việc viết lách từ năm 1940 với các truyện ngắn.
Như mọi công việc bình thường khác, nghiệp viết lách của Salinger bị ngừng lại vì Chiến tranh Thế giới II. Salinger đã gia nhập quân đội, ông từng sang tham chiến ở Âu châu. Từ giã quân đội vào năm 1946, các tác phẩm của Salinger lại bắt đầu xuất hiện trên tạp chí New Yorker. Chúng là "A Perfect Day for Bananafish" (1948) với vụ tự tử của một cựu chiến binh vì thất vọng; "For Esmé with Love and Squalor" (1950) mô tả cuộc gặp gỡ của một lính Mỹ với hai trẻ em Anh. Kể từ thời gian này, tác phẩm của Salinger lần lượt xuất hiện trên các tạp chí lớn.
Tổng cộng Salinger công bố 35 truyện ngắn trên các báo Saturday Evening Post, Story, và Colliers giữa các năm 1940 – 1948, và tạp chí The New Yorker từ 1948 đến 1965. “The Catcher in the Rye” đã đưa Salinger lên tầm cỡ quốc gia.
Ngay trong lần phát hành đầu tiên, “The Catcher in the Rye” đã gây những chấn động lớn trên toàn nước Mỹ. Trong tháng 7 và 8 năm 1951, hàng loạt các tạp chí hàng đầu của Hoa Kỳ đều đề cập đến “The Catcher in the Rye” (TCTR). Trong danh sách này, người ta thấy có: Saturday Review of Literature (July 14), Newsweek (July 16), Time (July 16), The Christian Science Monitor (July 19), New York Herald Tribune Book Review (August 19), New York Herald Tribune Book Review (August 19).
Ngay khi xuất hiện, TCTR bị phê phán rất nhiều với lối xử dụng tiếng lóng trong văn chương, vấn đề giới tính vị thành niên bị đề cập trắng trợn, cách nhìn thông tục về các quan hệ xã hội… đã khiến nhiều người đọc cảm thấy bị xúc phạm. TCTR đã kích động một cuộc tranh luận lớn ở Hoa Kỳ vào những năm 1950 - 1960. Vấn đề kiểm duyệt và cấm phát hành đã được đặt ra với TCTR. Đồng thời, thái độ rộng lượng của người trưởng thành và sự tồn tại của một nền văn hóa nhân bản hơn cũng được đặt ra. Bọn trẻ luôn là nơi gởi gắm những ước mơ chưa thành hiện thực của người lớn, là những kỳ vọng luôn thao thức của các bậc sinh thành, đó cũng là một suy nghĩ và tình cảm dễ hiểu. Song coi chừng ! Bọn trẻ không đương nhiên phải là những người máy anh hùng. Tụi nó sẽ dễ ngã quỵ xuống một khi bị người lớn khoác cho chúng bộ giáp sắt trách nhiệm quá ư nặng nề, những khát vọng thiếu kiềm chế của người lớn sẽ là ngọn lửa đốt nát tuổi thơ của con cái họ.
TCTR là một tuổi-trẻ-cô-đơn trước sự nhẫn tâm của thế-giới-người-lớn xung quanh, là khúc ca bi tráng của một cá thể lập dị cách trung thực – nhưng không quá cá biệt. May mắn thay, cuối cùng những xúc động nhân bản phát sinh từ biểu tượng này đã chiến thắng, sự nổi tiếng của TCTR đã tồn tại cùng năm tháng.



Phần đặc sắc nhất mà người đọc cảm nhận từ văn Salinger là sự mô tả, các chi tiết được đặt ra với một thái độ kén chọn hẳn hoi. Lời thoại trong văn Selinger thường ngắn gọn, tác giả có vẻ rất chú ý đến các âm tiết, chúng được trình bày như những cuộc va đập trong cách nghĩ hơn là các đối thoại dẫn truyện. Đây không phải cuộc trao đổi giữa những kẻ hụt hơi, chúng nghiêng hẳn về các thông điệp cần chuyển tải của các nhân vật. Những sự kiện xảy ra không hề ngẫu nhiên, chúng được tổ chức sắp xếp theo một trình tự nhất định. Trong khi Holden Caulfield lẩn tránh thế giới xung quanh thì đến lượt ngôn ngữ hay có bộ mặt xa lạ với Caufield, nhân vật chính nhiều lần sử dụng sử dụng đại từ “you” không đúng văn phạm. Đám vịt trời làm sao sống trong mùa đông trong câu chuyện giữa trự Horwitz và Holden là một ví dụ tốt về TCTR (**). Salinger tỏ ra là một tay điều phối giỏi trong việc chọn lựa giữa thái độ nghiêm túc và hài hước khi trình bày câu chuyện tinh tế của mình. Ngoài ra TCTR thể trình phong cách truyện ngắn của Selinger, tất nhiên tác phẩm mang đậm dấu ấn chủ quan của tác giả – một phong cách viết thuộc về văn chương cổ điển mà ta có thể thấy ở Hemingway, Albert Camus, Alberto Moravia, Boris Pasternak và cả Saul Bellow sau này. Song có phải chính vì vậy mà người đọc cảm thấy câu chuyện của Selinger thực hơn, xúc động hơn chăng.
TCTR làm người đọc nhớ đến “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn” của Mark Twain. Tâm trạng đồng cảm của Salinger với những tâm hồn trẻ bướng bỉnh đã hình thành từ các truyện ngắn "This Sandwich Has No Mayonnaise" (1945) và "I'm Crazy" (1946) của ông. TCTR như một triển khai văn chương từ nền hai truyện ngắn này.



Câu chuyện không còn đơn giản là của một thằng nhóc diễn trong ba ngày của tháng 12/1948 ở Agerstown, Pennsylvania; những suy nghĩ và hành động của một thiếu niên bị đuổi học liên tục đã trở nên mất dạy đã đi xa hơn - đến mức khiến người đọc khó có thể bàng quan. Sự cố thần kinh không còn diễn ra ở một cá nhân mà nó bàng bạc như một chuỗi sóng ngầm điên loạn trong xã hội trưởng thành. Trốn sâu trong lãnh địa của mình, nhiều cá nhân trong cộng đồng đã tỏ ra sợ hãi đến mức mất trí khi có “ai đó” xâm phạm/làm khác đi so với các ước lệ thông thường. Một bộ mặt khác của nỗi sợ hãi đó là thái độ vờ vịt, người ta dễ cảm thấy an toàn hơn khi sống trong trạng thái chân không về tư duy.



Cùng với TCTR, Chín câu chuyện (Nine Stories - 1953), và Franny and Zooey (1961) đã làm cho người đọc mãi nhớ đến Salinger. Từ năm 1963 trở đi, các truyện ngắn khác như: “Raise the High Roof Beam”, “Carpenters” và “Seymour: An Introduction” của ông không gây chú ý bằng. Kể từ 1953, Salinger đến cư trú tại Cornish, New Hampshire. Đến năm 1961, người ta thấy J. D. Salinger tỏ ra “hăng hái say mê nghiên cứu Zen”, (cf. Time, Sept. 15, 1961). Có vẻ Thiền Đông phương đáp ứng được các đòi hỏi mãnh liệt của một trong những trái tim biết thổn thức nhất của trời Tây.
Tuy tuyên bố là vẫn viết lách nhưng cuộc sống của ông tồn tại như một ẩn sĩ, Salinger từ chối tất cả các cuộc phỏng vấn báo chí. Thái độ mập mờ khét tiếng này đã gợi nên những tò mò lớn cho công chúng, đến nỗi những lá thư của Salinger viết năm 1972 gởi cho một phụ nữ trẻ đã được bán đấu giá tại nhà Sotheby’s lên đến mức 156.000 USD. Người ta thấy truyện ngắn sau chót của J. D. Selinger đăng là “Hapworth 16, 24” trên New Yorker, vào tháng 6/1965. Hy vọng đó chưa phải truyện cuối cùng của ông.
Sang những năm 1970, TCTR càng trở nên nổi tiếng hơn khi Mark Chapman đã đọc cuốn sách này trong ngày xảy ra án mạng, mặc dù không ai chứng minh được một cách minh bạch giữa vụ sát nhân với TCTR, mặc dù ngay TCTR cũng mô tả về một sự cố thần kinh. Mọi sự kết nối – có thể – đã được đặt ra, các cơ quan truyền thống ầm ỹ vào cuộc. Hiện nay trên trang amazon, TCTR được bán với giá $ 5.99.

Cuối cùng thì, một khi chấp nhận trung thành với những cảm xúc, người ta khó có thể nhẫn tâm gạt phắt các phản kháng kiểu Holden Caulfield; bởi trong đó, hình như có bóng dáng thời son trẻ của ta hôm qua và bọn nhóc của chúng ta hôm nay.

(**)
- Chú Horwitz à, có khi nào chú đi ngang cái hồ ở Central Park không vậy?
- Cái gì?
- Cái vũng nước bự thiệt bự, coi giống như cái hồ nhỏ đó mà. Không biết mấy con vịt rồi tụi nó đi đâu há?
- Vịt gì cà?
- Thì bầy vịt hay hay bơi lòng vòng trong đó chớ vịt gì? Mùa Xuân không nói làm chi chớ còn mùa Đông kẹt dữ à nha? Lạnh ngắt như vậy sống gì nổi? Rồi tụi nó bỏ đi đâu ta?
- Mà cái gì bỏ đi đâu mới được chớ ?
- Trời đất, mấy con vịt chớ cái gì. Ý tui muốn nói là có thằng cha nào mang xe chở tụi nó đi chỗ khác không? Hay tụi nó bay ênh về phía Nam vậy thôi?
Ông Horwitz quay người lại nhìn tui chằm chằm. Chả nóng tính dễ sợ:
- Ai mà biết. Làm sao tao biết được mấy cái chuyện mẹ rượt đó?
Chắc tui đã nói cái gì đó mích lòng ổng:
- Thì tui cũng hỏi chơi vậy thôi chớ có gì đâu mà chú nổi nóng..
- Ai nổi nóng? Có ai nổi nóng gì đâu?

(Trích từ phần dịch trong bài viết “Bắt trẻ đồng xanh” của Tưởng Năng Tiến, đoạn này thuộc phần Mười một,
http://www.danchimviet.com/sotaythuongdan/BatTreDongXanh.shtml)


Tịnh xá Trung Tâm, ngày 27/04/2004 <8D>

(Phần 2 có lẽ tôi sẽ post ở Box Phê bình VHNT)


Số Lần Chấm:  
22

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 5,427
Nguồn:
Đăng bởi: Phượng Các ()
Người gửi: Việt Lang
Người sửa: Phượng Các;