Bài Viết  

1975 – 2015, hoài niệm rời

Hoàng Uyên Mi





Khái niệm thời gian có thể được đong đo bằng những con số chỉ năm tháng. Giữa hai vạch mốc thời gian 1975-2015 là đằng đẵng 40 năm dài. Ngần ấy năm, trên quê hương cô, chiến tranh đã ngừng, tiếng súng đã im, nhưng thâm trầm âm ỉ trong trái tim người dân Việt, ưu tư với vận số hắt hiu của dân tộc, vẫn chở nặng nỗi khắc khoải, hoài mong – hoài mong hoà bình (một nền hoà bình công chính) – với no ấm, tự do, và với những quyền cơ bản làm người, mà không phải qua những chiếc bánh vẽ hay những khẩu hiệu tô hồng.



Lên bảy, trí óc cô còn quá đỗi non nớt, quá đỗi mộc mạc để nhận thức được rõ ràng sự tàn khốc của chiến tranh. Cuộc nội chiến ý thức hệ vẫn đã và đang diễn ra hàng ngày quanh tuổi thơ cô. Từ hình ảnh người lính sau cuộc hành quân về thăm phố phường. Đến lệnh giới nghiêm. Tiếng còi hú vang lanh lảnh trong đêm. Hay hầm trú ẩn trong ngôi nhà mà bất cứ khi nào có báo động, những đứa trẻ bị người lớn khẩn cấp đưa xuống. Trong gia đình, anh em cô được tập quen dần với chiếc hầm trú ẩn này. Nó là nơi trú thân an toàn nhất trong căn nhà. Mùi ẩm của đất. Cảm giác mát lạnh. Bóng tối. Sự yên lặng xen lẫn vài tiếng thì thầm, xì xào. Những bao cát màu xanh đầy đất chất quanh bốn bờ vách ngăn cản tiếng động. Ngần ấy thứ vẫn còn đậm nét trong ký ức cô không thể nào quên được.



Ngày tháng đó, trong cô đã mơ hồ hình thành khái niệm về chiến tranh đang xảy ra đâu đó xa xôi lắm. Giữa bên này và bên kia bờ chiến tuyến. Giữa “quân bên ta” và “quân việt cộng”. Hai chữ “việt cộng” chẳng khác chi hai chữ “ông kẹ” mà cô vẫn thường sờ sợ mỗi khi bị các anh lớn mang ra doạ. Ông kẹ là kẻ thù lăm le xâm chiếm lấy thế giới an bình của cô. Hình ảnh tiêu biểu của quân bên ta là bác Nguyễn, là cha cô, là bất cứ hình ảnh người lính nào hàng ngày cô gặp. Chỉ có thế, chừng ấy thôi, hiểu biết của cô về chiến tranh. Tương tự như, biết thêm về một chuyện kể về cuộc chiến của người hành tinh mà các cậu bé và cô bé thời nay đọc và xem qua phim ảnh. Rồi thì, đầu óc cô thu hút vào với những trò chơi bán hàng, nấu ăn, đám cưới, kết vòng hoa để choàng tóc cô dâu, bận bịu chăm nuôi con nhỏ là những búp bê xinh xắn. Hay choàng khăn của mẹ làm diễn viên sân khấu diễn tuồng tích. Với cổ tay áo xoè rộng như những cánh tay áo xoè của những công chúa, hoàng hậu xa xưa. Bấy nhiêu niềm vui hồn nhiên của trẻ thơ, xua đuổi nhanh chóng bóng đen chiến tranh hiện hữu. Cha mẹ cô cố gắng tạo cho con cái cuộc sống đầy đủ, sung sướng mà họ có thể, dù lửa đạn, chết chóc có tồn tại đâu đó, cũng mờ mịt xa xôi lắm. Sẽ không bao giờ chạm đến vùng trời thanh bình, an toàn của cô đâu.



Ngôi nhà của gia đình cô thuộc trong phạm vi khu trại gia binh, gần đồn lính, cạnh bên với ngôi nhà của bác Nguyễn, bạn quân ngũ thân thiết với cha cô. Cho đến hôm nay trên xứ người, tình bạn ấy vẫn còn. Mối bạn hữu đi cùng, tồn tại với thời gian, bền bỉ hơn nửa thế kỷ qua. Vì đồng cảnh, vì đồng hương, vì đồng tuổi trẻ với lý tưởng vì non sông. Lưu lạc đến xứ người, từ quê mẹ là miền Trung xứ Huế. Nơi ấy, cô chỉ biết rằng hàng năm lũ lụt, có ôn Ngoại, người thân ruột thịt trong họ tộc, thường vào thăm mang theo những câu chuyện thời sự xứ Huế. Tóc ôn bạc trắng phơ phơ, nơi cổ ôn có một cục bứu to, mẹ cô đưa ôn đi nhà thương để giải phẫu cắt đi. Ôn hiền lành, đi đứng đĩnh đạc, khoan thai. Năm nào Ôn vô thăm vào dịp cuối năm thì Tết năm đó, gia đình cùng với Ôn đi viếng thăm chùa chiền, hái lộc xuân.



Cha cô và bác Nguyễn theo đời lính rày đây mai đó. Thuyên chuyển cùng nhau, đến từng vùng địa danh như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Ban Mê Thuột, mang theo vợ con, tạm cư mỗi nơi ít năm. Anh em trong gia đình lần lượt ra đời ở những nơi chôn nhau cắt rốn khác nhau. Ban Mê là chỗ dừng chân khoảng một, hai năm trước khi cô sinh ra, cho đến ngày mất nước.



Sau cái ngày tang thương, lịch sử sang trang đó, hai gia đình, cùng bạn bè đồng nghiệp đồng hương khác, phiêu dạt đến miền tận cùng của mảnh đất quê hương chữ S. Để từ đó tìm đường sang xứ người, kiếm tìm hai chữ Tự Do. Suốt bao nhiêu thập niên qua, như cây cỏ bị bứng gốc, những người con xa quê này vẫn nương tựa vào nhau, đùm bọc lấy nhau. Thời gian đã kết chặt họ thành thân thiết như ruột thịt. Có những đôi trẻ trong những gia đình ấy, sau này lớn lên, trưởng thành, đã nên duyên nên nợ với nhau.



Chỉ mới lên năm lên bảy thôi, nhưng hình ảnh của người lính đã trở nên quá quen thuộc với cô. Cô quen với sắc màu quân phục, quen với dáng vóc cao lớn hiên ngang, những khi các quân binh bạn hữu của cha cô đến nhà. Hoặc khi các chú lính chiến còn trẻ măng, ghé vào ăn ở quán bún bò Huế của bác Nguyễn gái, sát cạnh nhà cô, là một quán bún Huế được yêu chuộng của trại lính. Vì nơi đây, họ luôn được tiếp đãi nồng ấm, bởi chủ nhân cũng là gia đình lính. Hay khi các chú đến chơi bi-da ở tiệm của gia đình cô. Mẹ cô và bác Nguyễn gái bàn nhau dựng phía trước hai ngôi nhà, hai căn quán. Một bên là quán bún bò Huế, một bên là quán bi-da, thêm nguồn thu nhập phụ. Bác và mẹ cô thân thiết, làm chi cũng cùng nhau làm. Cả hai người mẹ trẻ rất có tài và có tay làm ăn buôn bán, quán xuyến cho gia đình. Hai căn nhà lính trong khu trại gia binh, mỗi căn hai gian rộng lớn, tiện nghi, sung túc. Kinh tế gia đình vững vàng, cha cô và bác Nguyễn trai vì thế mà có thể toàn tâm với nghĩa vụ đất nước. Việc nhà, đã có hiền nội chèo chống.



Quan sát thế giới chung quanh qua lăng kính con trẻ, bộ nhớ trong trí não cô tự động dung nạp vào, những dự liệu hình ảnh một cách tự nhiên. Bao nhiên thập niên qua đi vẫn không có gì xoá nhoà được. Đã có biết bao nhiêu điều được lưu vào bộ nhớ rồi phai nhạt dần theo thời gian, hoặc biến mất đi vĩnh viễn. Nhưng, cũng có những điều đã khắc ghi mãi mãi. Phần lớn bạn bè gia đình cô đều là quân nhân. Quán ăn của bác Nguyễn và tiệm bi-da nhà cô vẫn thường là điểm hội ngộ của lính. Mọi người quân binh họ đều như nhau trong đôi mắt trẻ thơ cô. Cho đến về sau này, khi trưởng thành, cô vẫn giữ nguyên không thay đổi suy nghĩ này. Cấp bậc có là Sĩ quan, hay một vị Tá, một vị Tướng, cô gọi chung họ với một tên gọi thân thương và kính trọng – Người Lính Việt Nam Cộng Hoà.



Cô là cô bé con, cao chưa bằng mặt bàn bi-da, hay chạy chơi lăng xăng góc này thoắt đã sang góc bên kia để chơi trò trốn tìm với sự trông chừng của chị giúp việc cho gia đình. Rồi trốn ngồi lọt thỏm dưới gầm bàn bi-da. Đến khi chạy ra, bỗng cảm giác mình bay bổng lên cao, choáng ngợp chưa kịp hét to lên thì thấy mình đang đứng vững chãi trên nền nhà. Thì ra, là một chú lính tinh nghịch quen mặt quen tên, vừa nhấc bổng cô lên rồi đặt xuống. Cô ngước lên, chú nheo mắt. Cô nhoẻn miệng cười rồi chạy biến đi. Dù không có sự trông chừng của chị người làm, cô cũng không hề có chút nào lạ lẫm, sợ sệt mà trái lại còn rất dạn dĩ và xem họ như những người trong gia đình. Chị người làm đã được mẹ cô cho phép, để các chú ' ký sổ ' khi các chú cần, trong lúc chờ đợt lĩnh lương kỳ tới. Thường là những chú lính trẻ măng, sống xa gia đình.



Sau này đã lớn, hình ảnh người lính kiêu hùng năm xưa đã thay bằng hình ảnh đau thương của người thua cuộc. Tuy vậy, cô vẫn không bao giờ quên được một kỷ niệm gắn liền với hình ảnh lãng mạn nhất về người lính mà cô từng được chứng kiến khi tuổi còn bé dại. Đó là hình ảnh người bạn trai của chị Nga, con gái của bác Nguyễn. Một buổi trưa yên ắng. Sau giờ ngủ trưa của cô, chị Nga sang xin phép mẹ dắt cô sang nhà bạn chị chơi, nhưng chính xác là chị Nga không dám xin phép gia đình đi đến điểm hẹn với người yêu.



Nơi hẹn hò của chị và anh hôm đó là góc vườn hoa ở một ngôi chùa vắng lặng. Mà giờ cô nghĩ lại, đó có thể là chùa Khải Đoan. Cô mải miết đi nhặt lá, nhặt hoa, xếp lá, kết hoa, chơi một mình. Góc đằng kia, anh mặc quân phục, chiếc mũ cầm tay, dáng cao lớn, ngồi kề bên chị. Cô vẫn còn nhớ gương mặt anh rất sáng, rất tuấn tú. Chị với mái tóc xoã dài, nghiêng nghiêng một bên, nụ cưòi e ấp tuyệt đẹp. Họ thì thầm cùng nhau nhiều điều. Rồi thì, cô mải vui các trò chơi hoa lá, đã quên đi mất sự hiện hữu của họ. Chị Nga ngày đó nổi tiếng xinh đẹp. Đang tuổi nữ sinh trung học, được nhiều chàng trai ngấp nghé, trồng cây si. Da chị trắng, sóng mũi cao vút như người tây phương, mi dài cong, thường để kiểu tóc xoã phủ lưng nhưng mái tóc phía trước ngắn cong cong ôm vầng trán. Chị chụp nhiều hình ảnh chân dung trắng đen, hơi nhìn xuống chỉ thấy một nửa bên khuôn mặt, những bức hình nghê thuật và thời trang thời đó. Chị Nga thích trẻ con bởi là con gái duy nhất trong gia đình ba anh em, không có em nhỏ lứa tuổi cô, nên đi chơi đâu chị cũng thích mang cô theo. Đó là khi chị tuổi đôi tám, biết yêu, hoá thân thành một nàng tiên nga. Chứ nghe bác Nguyễn gái và mẹ cô kể lại, khi còn tuổi thiếu niên, chị nghịch và phá như một đứa con trai. Da đen nhẻm, leo trèo, đánh banh, bắn ná, đánh cù, u mọi, đủ các trò chơi với con trai. Bác Nguyễn hay lo lắng hỏi mẹ cô. Chị nghĩ con Nga nhà tôi lớn lên có bớt xấu, bớt đen đi không, chứ như thế này tôi sợ rằng không có con trai nào thích nó. Đến lúc dậy thì, chị trổ mã, lột xác hoàn toàn và còn hát rất hay nữa. Con của chị Nga bây giờ tuổi đã ngoài 30. Chị lập gia đình khá sớm, lúc cô vẫn hãy còn là con bé học những năm đầu tiểu học. Chị lập gia đình sau năm 1975, sau khi biệt tin về người yêu. Cuộc sống hoàn toàn đảo lộn, gia đình dọn đi nơi khác. Cô còn quá nhỏ để hiểu và cảm được nỗi buồn của chị. Một thời gian sau chị lập gia đình với một người anh con của một trong những gia đình gốc Huế, đồng hương bạn hữu. Anh đàn giỏi, vẽ đẹp, hát hay, hai người rất xứng đôi vừa lứa, sống ấm êm hạnh phúc cho đến ngày hôm nay. Gần 20 năm sau ngày chị kết hôn, em gái của cô lập gia đình với người em trai của chồng chị.



Năm lên bảy, cô biết như thế nào là chạy loạn. Tối chủ nhật, các chị giúp việc xôn xao chuẩn bị quần áo và vật dụng cho các anh, cô và các em sáng mai đến trường. Các em cô đi trường ấu trĩ viên, như vườn trẻ ngày nay, còn cô đến trường của các ma-sơ.



Khuya đó, anh em cô bị đánh thức và bị lùa xuống hầm trú ẩn. Pháo ì ầm vang vọng. Mấy ngày trước đó, cô thấy mẹ ngồi may khâu một bị ruột tượng dùng chứa tiền và vàng vòng nữ trang để đeo vòng quanh người. Áo quần từng bao, từng bao, các chị giúp việc đã xếp đâu vào đó. Nghe kể lại, tình hình chiến sự đã căng và một điều chắc chắn thành phố cô sẽ bị tấn công. Nghĩa rằng, gia đình cô đã có sự chuẩn bị để khi thời điểm đến sẽ bắt đầu di tản. Mẹ và hai chị giúp việc thay đồ cho anh em cô, mang đồ đoàn để sẵn để rời nhà bất cứ lúc nào. Gần sáng, tiếng súng, tiếng pháo bom càng dầy đặc hơn. Gương mặt mẹ cô đầy lo âu nhưng gắng tỏ ra bình tĩnh trước đàn con. Trời sáng, là lúc cha cô ùa vào nhà báo tin nhanh với mẹ về tình hình lúc ấy. Sau này nhớ lại, đó là tin dữ, thành phố cô đã thất thủ, trại lính đã tự động giải tán từ lúc nào. Cha cô nóng lòng cho gia đình, chạy về nhà đưa vợ con di tản. Không còn bộ đồ lính, cha cô bây giờ như một thường dân, dắt díu vợ và đàn con cùng những bao lương thực, áo quần, bắt đầu cuộc chạy loạn. Cùng với gia đình bác Nguyễn sống chết có nhau.



Những thước phim thời sự ngày nay về thời điểm dầu sôi lửa bỏng ấy, cô thỉnh thoảng xem lại, hoàn toàn giống với cuộc chạy loạn năm xưa mà cô chứng kiến. Cũng đoàn rừng người, kẻ chạy đi hướng tới, người chạy ngược hướng sau, đồ đạc vương vãi trên đường. người chết nằm la liệt, máu me.



Cha cô cõng em út. Anh hai cô cõng em gái. Chị người làm dắt tay cô. Anh ba vừa vác bao đồ vừa trông chừng anh tư đang chạy một mình với bao đồ trên lưng. Một chị người làm khác dẫn tay anh kế. Mẹ gồng gánh thức ăn, soong chảo. Hai gia đình dắt díu nhau lao ra đường hoà cùng giòng người, chạy về hướng Chi Lăng. Nếu cha cô và bác Nguyễn buổi sáng hôm ấy không trở về nhà, không thúc hối mẹ và anh em cô rời hầm trú ẩn để di tản, có lẽ biết đâu cả gia đình bị chôn vùi dưới đạn pháo. Vì chỉ cách vài căn, một quả pháo kích rớt trúng ngay nhà, thiêu cháy tất cả toàn bộ gia đình.



Cô không còn nhớ rõ cảm giác khi ấy, cô có thực sự sợ hãi hay không. Hình như cô còn quá bé nhỏ để nghĩ đến cái chết. Trong cô là sự bình thản và an toàn khi bên cạnh có đầy đủ những người thân. Cô không biết đến bất trắc, hay sự sống đang lơ lửng giữa mành tơ kẻ tóc, vì thế mà cô bình thản bước theo từng bước dẫn dắt, trên tay vẫn còn ôm một búp bê nhỏ.* Hai chị người làm rất lâu năm gắn bó với gia đình cô. Như con cái trong nhà và xem mẹ như mẹ ruột. Sau này, khi chính quyền mới lên, bắt buộc phải để hai chị đi tìm kế sinh nhai riêng. Hai chị khóc nức nở vì không muốn xa mẹ. Nhiều năm sau hai chị vẫn còn giữ liên lạc.



Những ngày trốn lánh ở Chi Lăng, sau khi quân việt cộng rút đi nơi khác, người lớn có những tuyệt vọng, đau buồn, âu lo, trăn trở riêng, còn trẻ con như cô thì đó là những ngày sống với núi rừng, sông suối, lạ lẫm và phiêu lưu ly kỳ.



Bốn mươi năm qua, cô sống hơn nửa cuộc đời trên xứ sở tạm dung thứ hai, vẫn không nguôi thương nhớ về quãng đời ngắn ngủi được sống trong thanh bình tự do trên quê hương lúc còn thơ ấu. Vẫn yêu thương, kính trọng và biết ơn người lính VNCH. Vài lần trong một năm, suốt nhiều năm nay, qua một hội tình thương chăm lo các thương phế binh VNCH còn ở lại quê nhà, cô đều đặn trân trọng gửi đến chút quà mọn từ lòng thành của mình, hòng phần nào xoa dịu, góp phần làm vơi bớt nỗi nhọc nhằn thể xác và tinh thần của những người chiến binh tật nguyền. Trong tập san thường niên của hội Tình thương gửi biếu tặng các mạnh thường quân mỗi cuối năm, lòng cô chùng xuống đọc bảng danh sách từ trần của các cựu chiến binh vĩnh viễn ra đi. Có chú, có bác tên vẫn còn trong danh sách chờ đợi chưa kịp nhận sự trợ giúp từ hội. Những trang tài liệu và hình ảnh thực tế về những người đã từng xông pha trận tiền, hoàn thành sứ mạng của mình với đất nước sao quá đỗi thương tâm. Có những bài thơ được viết lên bởi những tâm hồn vẫn còn trung thành với lý tưởng nước nhà này, khiến cô cúi đầu tri ân.



Trong thâm tâm, cô vẫn mong đến buổi sáng thứ Hai đầu tuần, được trở lại ngôi trường tiểu học với các sơ nhà dòng và nghe hồi chuông giáo đường vẫn còn đổ hồi quen thuộc, như văng vẳng bên tai. Cô đã từng có lúc ước mơ, đây chỉ là một câu chuyện cổ tích thôi. Thời gian ngưng đọng, vạn vật đứng yên, chờ đến khi một phép mầu xảy ra, rồi thời gian chuyển động trở lại, cô sẽ vẫn ở tuổi lên bảy, cắp sách đến trường trong ngày mới, được sống với tuổi thơ thần tiên cũ, được hít thở bầu không khí Tự Do, được sống và được chết - trên Quê Hương.







(download)


Số Lần Chấm:  
3

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 2,489
Nguồn: Phố Rùm Đặc Trưng
Đăng bởi: Ngô Đồng (4/21/2015)
Người gửi: Hoàng Uyên Mi