Bài Viết Xã hội

Anh Túc

Mme Ngô

 
 
Anh Túc
 
*
 
 

A.Thảo mộc

Anh Túc là danh xưng chung một tộc hoa ‘hữu sắc vô hương’, có tên khoa học là Papaver, tiếng pháp là pavot và tiếng anh là poppy. Người mình gọi nôm na Anh Túc là hoa á phiện. Văn nhơn thi sĩ việt còn bày đặt thi vị hóa, gọi á phiện là Phù Dung. Và có lẽ để tránh nhìn lầm nó với một loại phù dung khác (bông bụp hay hoa dâm bụt - bụt mà còn dâm trời ạ) họ gọi Phù Dung á phiện là nàng, là tiên tử. Phù dung tiên tử bị xếp vào hàng ‘hồng nhan họa thủy’ femme fatale, dính dzô là y phép sanh họa vì khả năng gây nghiện ngập. Phân biệt phái tánh kiểu nớ, hoặc do thời một ngàn mấy trăm lâu lắm ấy, đờn bà còn là động vật chưa tiến hóa, hoặc do ‘lậm giới’ hầu như toàn đực rựa nên Phù dung phải là nàng tiên, vì rằng chuyện đồng tánh thời đó do bị kỳ thị nên người ta dấu diếm dữ lắm lận.
 
Gia tộc Anh Túc Papaver có rất nhiều loại, từ loại dùng làm kiểng cho tới loại dùng làm thuốc.
Coquelicot là một loại anh túc có tên Papaver rhoeas, tiếng anh là red corn poppy hay red field poppy, mình tỉnh bơ kêu nó là hoa mồng gà (mào gà). Trong các bài văn, bao giờ coquelicot cũng được dịch là hoa mồng gà. Thiệt ra mồng gà trong văn chương việt, Celosia argentea, là một loại hoa hoàn toàn khác, nó là thứ cây kiểng dân dã, bán ở các chợ bông vào dịp tết nguyên đán.
 
Hoa anh túc được chọn làm biểu tượng cho Ngày Tưởng Niệm tức lễ Chiến Sĩ Trận Vong, Remembrance Day. Tại Hoa Kỳ Ngày Tưởng Niệm nhằm tuần lễ cuối cùng của tháng 5, trong khi ấy tại Gia nã đại là ngày 11 tháng 11, sau lể các thánh và lễ các linh hồn.
 
Việc chọn hoa anh túc làm biểu tượng có nguồn gốc từ bài thơ được ghi vội vào giấy của John McCrae, thiếu tá quân y Gia nã đại trong đệ nhứt thế chiến. Tháng 5/1915, chuyến chuyển quân ngang đồng có xứ Flanders (Flandres, nay thuộc Belgium) bạt ngàn anh túc đỏ khiến ông liên tưởng đến các chiền sĩ gục ngã trong trận giao tranh ác liệt xảy ra tại vùng đất khô cằn này. Truyền thuyết của cư dân tại đó kể rằng, các bông anh túc Papaver rhoas đỏ thắm tươi tốt là vì chúng đã thấm máu các chiến sĩ vô danh hy sinh trên chiến địa (thiệt ra anh túc thích hạp với phong thổ nóng và khô). 

  IN FLANDERS FIELD
 

In Flanders Fields the poppies blow
Between the crosses, row on row
That mark our place; and in the sky
The larks, still bravely sing, fly
Scarce heard amid the guns below.
 
We are the Dead. Short days ago
We lived, felt dawn, saw sunset glow
Loved, and were loved, and now we lie
In Flanders Fields.
 
Take up our quarrel with the foe :
To you from failing hands we throw
The torch; be yours to hold it high .
 If you break faith with us who die
We shall not sleep, though poppies grow
In Flanders Fields.  

 
Tên tuổi John McCrae đi thẳng vào huyền thoại. Huyền thọai là vì đã có những nghi ngờ, rằng bài thơ này chưa chắc đã là của ông - do ông viết ra - mà có thể là của một ai khác - bạn bè, thuộc hạ, thương binh chẳng hạn - Người ta còn vào thư khố quốc phòng lục lung tung, truy tìm dấu vết vị sĩ quan quân y này, mà tìm hoài hổng ra tên tuổi ông nữa lận !
 
Bất kể là của ai, bài thơ cảm động ấy đã làm thổn thức lòng người. Một nữ lưu hoa kỳ  nẩy sanh ý định phải nên có một ngày lễ tưởng niệm các anh hùng vị quốc vong thân, và hoa anh túc đã được chọn làm biểu tượng. Tục lệ gắn một bông anh túc đỏ lên ve áo dần dà lan rộng và trở thành một ý niệm thiêng liêng tại các quốc gia thuộc khối thịnh vượng chung (Commonwealth). Ngay tại mỹ, nơi khởi xướng, thì thông lệ này lại ít phổ biến, không rõ vì sao ?
 
Đặc biệt tại Gia nã đại, Remembrance Day là một ngày lễ trọng, được sửa soạn từ vài tuần trước đó. Đầu tháng 10, hội Cựu Chiến Binh Gia Nã đại bắt đầu "tặng" những bông anh túc nhỏ bằng vải đỏ với nhụy đen - có năm nhụy màu lục - trong siêu thị, trên hè phố, bịnh viện, rạp hát... nhằm nhắc nhở thị dân và đồng thời để gây quĩ hội. Các yếu nhơn chánh phủ và truyền thông luôn luôn có một bông anh túc trên ve áo trái - gần quả tim - không phải để "làm dáng" mà để tỏ lòng biết ơn các hy sinh cao cả của những chiền sĩ đã bỏ mình vì tổ quốc.
 
Từ góc nhìn xã hội nghệ thuật thì... tháng mười tháng mười một, thời tiết đã vào thu nên trời lù mù, lạnh lẽo, ẩm ướt, trang phục lúc này bằng len dạ sậm màu, tối ám lắm lận. Nên rồi ngó bông anh túc đỏ dĩ nhiên là đẹp và ấm lòng, bông anh túc ấy làm người đeo nó bỗng thấy mình sang trọng quí phái hẳn lên.
Nhưng... chuyện hổng dừng tại đó. Xứ cờ lá còn đưa một phần bài thơ thẳng luôn vào tờ giấy bạc 10 đồng cho thi vị - Gia nã đại là xứ duy nhứt tiền có in thơ - bài thơ dưng không trở thành niềm tự hào văn hóa xứ sở.
 
Các xứ trong Commonwealth chọn Remembrance Day cùng ngày thì phải. Vì mỗi xứ có một thiết kế riêng, khác biệt về thiết kế (design), texture, màu sắc cho cánh và nhụy của bông hoa, nên rồi... trong những hội nghị quốc tế tại âu châu, nếu nhằm dịp Remembrance Day, người ta có thể dễ dàng nhận diện đồng hương bằng bông anh túc trên ve áo. Hy hữu hén.

 
B. Thuốc phiện.
 
Thời pháp thuộc y hình người ta hút thuốc phiện có hơi nhiều, em đoán vậy thôi. Nghe nói ông nội là dân nằm bàn đèn thứ thiệt, mà em trai bà nội cũng đi mây dzìa gió luôn. Cả hai cụ đều là cậu ấm, của chìm của nổi rủng rỉnh, hổng cần làm lụng cũng có miếng ăn.
Ông nội là con độc nhứt. Em hổng biết mặt vì nội em chết khá trẻ (52 tuổi). Trong album gia đình, thấy một thư sanh diện mạo sạch nước cản, bận âu phục ba mảnh, chân mang giày ‘ét ca panh’, đầu đội nón phớt, miệng ngậm ống vố, một tay chống ba toong, tay kia khoác hờ hững cái áo ‘ba đờ suy’ (dám tất cả ba cái phụ tùng ni là của chủ tiệm ảnh hổng chừng nha) rất ư là hạp thời trang đệ nhứt thế chiến.
 
Hồi lấy bà nội thì ông ngoan hiền rất mực,  nhưng rủi thay bà mất sớm, hồi môn cộng hưởng cái gia tài riêng có sẵn biến ông thành giàu có gấp đôi. Rồi vì thiếu người kềm kẹp, thế là ông sanh đổ đốn, tỉnh queo tậu vợ mới bằng cách thêm từ từ, tổng cộng 3 bà cả thảy - hổng kể những bà "già nhơn ngãi non vợ chồng", và những cô đào nhí qua đường vụn vặt - Cung phụng vật chất cho họ đầy đủ, ai đẻ con nấy nuôi, ông hổng thiết tha nhìn ngó tới chúng chi cho tốn thì giờ mệt sức, và dĩ nhiên đám con nớ, ông hổng biết hết tên hết tuổi chúng nữa lận - trừ những đứa ngành chánh, con bà cả. Ở không rảnh rỗi, nội em bèn học thói phong lưu, mần màn bài bạc rượu chè hút xách. Em thiệt sự hổng để ý chuyện hút sách của ông, mãi cho tới khi đọc truyện ngắn "Tình cao thượng" (hay Mối tình cao thượng chi đó) của Nguyễn Mạnh Côn.
 
Người kể chuyện là một phụ nữ xưng em (ngôi thứ nhứt). Đại khái ... cô em và người yêu là một cặp đôi sáng giá, trai tài gái sắc, đã hứa hôn. Sau một cuộc đi chơi xa ở Đà lạt Bảo lộc, hai người bị cướp, chàng được thả dzìa còn nàng bị dẫn độ đi mất. Sau đó thì bọn cướp (2 cha con) sa lưới pháp luật và nàng được giải thoát. Hồi toà xử, không hiểu vì sao, nàng chạy tội cho chúng bằng cách xác nhận trước quan lớn ba toà, rằng nàng tình nguyện theo chúng và hổng hề bị hãm hiếp.
 
Sau đó thì... cho dù công tử muốn tiến hành lễ cưới như dự tính nhưng tiểu thư nhứt định từ hôn trước sự ngỡ ngàng của cả hai họ. Rồi tiểu thư mới kể lể lể sự tình đầu đuôi ra cho người nghe chút.
Theo như lời tâm sự thì em và kép đã nhậu nhẹt chè chén say sưa ngoắc cần câu với nhau dzồi, em nói bề chi em cũng sẽ về làm vợ kép, trước sau chi gạo cũng sẽ thành cơm - Vậy mà vụ ni cô Kiều mình cứ hà tiện, nhứt định giữ của hổng chịu tiêu pha, chừng mất éng cái mới than trời như bọng (biết thân đến bước lạc loài, nhị đào thà bẻ cho người tình chung...) ! Nội vụ tối ám từ từ vì thành quả lao động của kép ngày càng tồi tệ. Rồi kẹt quá kép phải dùng thuốc phiện đặng gia tăng công suất đập Đa-Nhim. Vậy mà vẫn hổng đủ, chưa đủ, cán cân cung cầu vẫn cứ lệch, than ôi !
 
Kế tiếp là việc bị cướp dẫn độ vào rừng. Suốt thời gian đó, em gái bị ép liễu nài hoa theo cái thời khóa biểu thoả thuận giữa hai cha con bọn cướp. Cướp con (tòng phạm) lúc nào cũng hấp ta hấp tấp, cướp cha (chánh phạm) điệu nghệ bài bản đàng hoàng. Rồi thì... huhu... em gái nhận ra rằng, tự em, em ngóng chờ cướp cha còn hơn trẻ ngóng quà mẹ về chợ !
Kết thúc câu chuyện là lời em gái phân trần : Em bỏ hôn phu giàu có sang trọng vì không muốn hại cuộc đời chàng, không muốn vì em mà chàng hết xí oách. Thế nghĩa là... mối tình của em với chàng là mối tình cao thượng.
Chấm hết và chấm hết lãnh nhách !
 
Vì truyện "Tình Cao Thượng" này mà  nhà văn Nguyễn Mạnh Côn bị kết án. Tội gì hở ?  Tội "hút sách", tội "ám ảnh dục tình", tội... "quá xá tội còn bày đặt bàn đề sách lược cứu nước", v.v… Tác giả "Mối Tình Mầu Hoa Đào" - với mục đích luận thuyết chánh trị chi đó, em quên dzồi - sau sáng tác nặng tánh giải tỏa ẩn ức này, dĩ nhiên là bị mất điểm, xuống cấp.
 
Nhưng... đã có ý kiến trái ngược nhằm binh vực nhà văn họ Nguyễn. Ý kiến này kỳ lắm cà, và hổng phải là thiếu "cơ sở". Người ta cho rằng tác giả dùng ẩn dụ để trình bày tư tưởng của mình về lý thuyết cộng sản. Nó là mối tình đẹp đẽ lý tưởng, "trai tài gái sắc" rất xứng đôi vừa lứa với dân tộc việt... Khổ cái tình lý tưởng chỉ đẹp bên ngoài, bên trong lại khập khiễng hổng ăn khớp gì ráo trọi, sống chung là chết thảm cả hai. Vậy nên... người khôn ngoan phải sớm nhìn ra mà rã đám trước, có thế mới sống vui và sống thọ.
 
Ý kiến ni là của ai hở ? Của em chớ của ai ! Thì bữa đó em nghe chuyện ẩn dụ đặng chống cộng trong thơ Bùi Giáng (kinh kỳ đỏ lòm…), chuyện ẩn dụ bài xích bác đảng trong Bóng Đè của Đỗ Hoàng Diệu, và còn biết bao ẩn dụ khác nữa mà em thiệt lòng hổng tin tưởng… lắm, nên em nảy ý định mần màn binh người đã khuất (ông sống khôn thác thiêng nhớ phù hộ cho cháu trúng số kỳ này, cháu cám ơn ông trước) Thế mới biết đầu óc tưởng tượng của con người vốn không giới hạn, nên dzồi... tác phẩm như một tấm gương soi, phản chiếu tâm tư tình cảm của người viết (à... nó đang khí tồn tại não), đồng thời phản chiếu cả ước muốn của người đọc. Nghĩa là... nói sao nghe cũng được, cũng ổn; văn chương vốn nặng sắc màu cầu vồng hư ảo !
 
Hồi đọc truyện Tình cao thượng thì em (cái em tắt máy này, chớ hổng phải cái em bị cướp dẫn dzô rừng hén) đã lớn bộn, rồi em hồ nghi ông nội sa vào nghiệp hút sách dám vì khoản cung cầu điện nước bếp ga này hổng chừng. Trời thần ơi, ba bà vợ cộng thêm những tình ái lẻ tẻ thì chịu đời sao thấu. Người trần chớ có phải Herlule đâu !
 
Dà, xong chuyện ông nội thì tiếp sang chuyện ông cậu (tức em trai của bà nội)
Nếu ông nội dùng thuốc phiện để trợ dục (theo như suy luận tỉnh bơ của em) thì ông cậu hút để mà hút, hút để góp mặt với đám thượng lưu bê bối, rằng mình cũng phong lưu rủng rỉnh bạc tiền.
Nghe nói hai cụ đều giau có nên chuyện hút sách của cả hai sang cả thứ thiệt. Thuốc phiện tiêm một lần, hút xong rồi mang cho, hổng có cạo sái xài lợi - Giống y chang dầu ăn nấu bếp vậy ha, dùng dầu chiên rồi hổng tốt, độc nữa là khác - Sái tới sái lui như dân lao động, đã nghèo còn nghiện ngập tùm lum, thì dễ kiêt quệ cả phần hồn lẫn phần xác và hui nhị tì sớm.
 
Tuy ngôn ngữ đàng ngoài "tiêm" là chích bằng kim, nhưng đám thờ phụng phù dung tiên tử dùng term "tiêm thuốc phiện" để chỉ việc vo thuốc thành viên đặng bỏ vào tẩu thuốc. Ở những chốn ăn chơi, có kẻ hầu người hạ, đứa tiêm thuốc là thợ vịn, ngồi cạnh bàn đèn đặng sửa soạn tẩu sẵn sàng cho đứa hút. Còn bằng như ở nhà hút mình ên thì ta cứ nhẩn nha tự tiêm lấy, chớ cũng hổng nhờ vả ai ráo trọi.
 
Dà... vì bà nội mất sớm nên tía có bổn phận phải đi thăm viếng em bà, và hồi còn nhỏ xíu như cục kẹo thì em hay được đi theo. Nhà ông cậu khang trang rộng lớn, ở trong một con hẻm nhỏ trên đường Tô Hiến Thành thuộc quận 3. Hai trong số 6 đứa con của ông cậu hổng lập gia đình, chúng hầu hạ ông rất mực. Mỗi lần tới thăm ông, bấm chuông cổng rồi phải chờ cô hoặc chú (họ) ra dắt dzô. Đi qua hàng hiên xi măng dài với rất nhiều chậu hoa kiểng thì tới cửa sắt mở vào nhà, hai tía con phải leo lên nhiều bực thang lầu mới tới được phòng ông cậu.
 
Lâu quá xá, em cũng hổng nhớ rõ ông cậu đã được mấy cái xuân xanh, lúc nào ông cũng bà ba lụa lèo trắng, chễm chệ trên sập gụ, nếu hổng nằm tiêm thuốc hút thuốc thì cũng ngồi châm trà uống trà và đọc sách... thánh hiền ! Y hình không gian của ông giới hạn trên sập gụ và bốn bức tường của căn phòng nhỏ - ông không hề ra ngoài cho tới lần được đưa thẳng vào... nghĩa địa – Tía vái chào và được ông cậu mời ngồi trên ghế bành ki bên cạnh, em được tía cho ngồi gọn vào lòng. Hai tía con được mời kẹo đậu phọng bánh đậu xanh uống với trà, đã vừa sậm màu tới đen thùi lùi, lại còn vừa đắng chét. Và em thong thả ngó ông chuẩn bị... phi.
 
 

Tẩu gồm hai phần, que và bầu. Que tẩu bằng tre rỗng hai đầu bít kín và có hai lỗ khoét, một để người hút kê miệng vào và lỗ kia là chỗ gắn bầu tẩu. Bầu tẩu tròn và dẹp - trong hình nó là một khối vuông hén - lỗ dưới ăn khớp với lỗ khoét của que - để bầu có thể tháo ra gắn vào dể dàng - lỗ trên nhỏ, là nơi bi thuốc tiêm xong được nhét vào. Người hút mới kê nghiêng cái lỗ này vào ngọn đèn, đốt cho bi thuốc cháy lên, đồng thời dùng hơi hít mạnh để khói thuốc từ bầu chạy qua que và đi thẳng vào họng -
Kim tiêm là một cọng thép tròn nhỏ như căm xe máy đập dập một đầu. Đầu này được hơ trên lửa cho nóng rồi nhúng vào lọ thuốc. Độ nóng của kim giữ thuốc quyện lại, rồi được nướng nhẹ trên lửa và vê vào thành của bầu tẩu cho tròn, xong lại nhúng vào lọ để lấy thêm thuốc. Cứ nhúng cứ vê miết vậy cho tới khi bi thuốc đủ bự theo ý muốn (thường to cỡ nửa hạt đậu).
 
Ông cậu nằm nghiêng, đầu kê thiệt cao trên một cái gối cứng (bằng tre hay gỗ) thong thả câu giờ, vừa tiêm thuốc (vê bi) vừa chuyện trò với tía. Hồi bi thuốc đã vê lớn theo ý muốn, ông mới đút nó vào lỗ bầu rồi kê bầu trên lửa và hít vào, xong thở ra đê mê. Á phiện cháy trên lửa toả mùi khét kỳ cục - tía nói nó thơm, nhưng em thì hổng biết thơm cách nào nữa lận - Cái đám thằn lằn bám trần nhà ông cậu, y hình chúng nghiền hay sao đó nha, thành tới cữ hút của ông, chúng bò ra hút ké, thỉnh thoảng có con y hình phê quá tới nỗi rớt cái bịch xuống nền gạch, dãy đành đạch rồi nằm ngay đơ, một hồi tỉnh lợi mới bò đi. Em dòm hết hồn thiếu điều té ghế !

 
C. Morpheus - Morphine và dược học khởi thủy.
 
 
 
1. Morpheus
Morpheus là một vị thần của thần thoại hy lạp cổ đại, có bố là thần Hypnos, cai quản giấc ngủ, và mẹ là nữ thần Nyx, cai quản bóng đêm.
 
(Chời chời... nói về đường tử tức, Hypnos của Hy Lạp còn siêu hơn Lạc Long Quân của mình nhiều bực nha. Hypnos sanh tới một ngàn đứa con lận, chớ hổng sơ sài như dòng giống Bách Việt nhà mình. Chiếu cái kiếng dòm dzô, vụ này bảo đảm là lỗi của bà Âu Cơ... Trong lúc giải lao cà phê cà pháo, bà vận nội công hổng đủ muời thành như thần nữ Nyx, thành ra rồi chỉ rớt được có mỗi trăm cái trừng mà thôi... huhu)
 
Morpheus luôn luôn tượng trưng bằng hình ảnh một loài hồ điệp (bướm đêm) tuy vỗ cánh rất nhanh nhưng tiếng đập rất êm ái. Để tiếp xúc với người trần, Morpheus hiện ra trong giấc ngủ nhơn gian qua những giấc mơ, trong đó Morpheus mang hình ảnh con người để nói chuyện với họ.  Hình ảnh Morpheus trong mỗi giấc mơ mỗi khác vì Morpheus vốn thiên hình vạn trạng. Trong tiếng hy lạp, Morpheus có chữ morphe, nghĩa là hình dạng, từ đó ra đời, trong anh và pháp ngữ, những chữ như morphology/ morphologie, polymorphism/polymorphisme…v.v…
 
Dược tánh của anh túc được biết đến từ hồi nào thì y hình sử liệu còn ấm ớ chưa rõ ràng. Có thể nó được dùng để ru hồn vào giấc ngủ trước cả khi được dùng để giảm đau chăng, vì somniferum nghĩa là ngủ ? Và từ đó chất kết lắng của Papaver somniferum mới có tên gọi morphine.
 
2, Cội nguồn dược học đương đại.
Có thể nói cùng với sự xuất hiện của morphine, các khám phá nghiên cứu xử dụng dược liệu cây cỏ đã được cẩn trọng cân nhắc nhằm mục đích tao an toàn và hữu hiệu trong trị liệu, từ đó đã làm thay đổ bộ mặt của dược học, hiện đại hóa  ngành này để dược học trở thành một khoa học ngày càng tân tiến hơn.
 
Tại bắc mỹ, morphine đã được xài thả ga để điều trị thương bệnh binh trong cuộc nội chiến giải phóng nô lệ 1861-1865. Hổng riêng chi mỹ châu, tại âu châu trong các cuộc chiến tranh cuối thể kỷ 19 (ở nga, áo,  chiến tranh đế quốc pháp-phổ năm 1870 v.v..)  morphine được xử dụng như một thần dược do tánh trấn thống rất hiệu quả. Rồi cũng từ chuyện xử dụng này, người ta đã nhìn ra mặt trái của tấm huân chương sáng rỡ : morphine rất dễ dàng gây nghiện ngập.
Ở thương bệnh binh đã nảy sanh một hội chứng bịnh mới lạ, được gọi tên là ‘bệnh chiến binh’, liên quan đến việc ‘quen thuốc và thiếu thuốc’.  Y học thoạt tiên gọi nó là morphinism/morphinisme, rồi sau đổi lại là morphinomania/ morphinomanie, vì  mania/manie chỉ tình trạng không còn kiểm soát được ý chí (vì nghiền)
 
Việc ai là người đầu tiên chế ra morphine từ nhựa anh túc vẫn còn tranh cãi cho tới nay chưa dứt. Thực tế thì morphine đã được biết tới từ năm 1803, khi nhà hóa học pháp Jean François Derosne cô lập được một loại ‘muối’ từ nhựa thuốc phiện. Muối Derosne lúc ấy là tên gọi của hỗn hợp gồm hai chất : thuốc lá (nicotine) và thuốc phiện (morphine) – tuy gọi là thuốc nhưng cái nào cũng là độc dược ráo trọi –
 
Desosne thoạt tiên chỉ là dược sĩ quèn, sau nhảy xổ vào lảnh vực công nghiệp. Cùng với một cộng sự viên, ông đã vẽ và hoàn hảo một loại máy tinh chế để dùng trong kỹ nghệ chế biến đường (ngọt như đường…)  Rồi máy làm đường do  hãng của ông sản xuất bán chạy như tôm tươi khắp nước pháp khiến ông giàu xụ. Sau đó là việc hợp tác với một hãng kỹ nghệ khác - hợp tác giữa hai hãng kỹ nghệ là chuyện rất thường thấy ngay từ thế kỷ 19 – Bằng sáng chế máy làm đường này đã dẫn tới các bằng sáng chế máy móc công nghệ khác, như là máy chạy hơi nước, máy ép tiền (kim loại) và nhứt là… teng teng teng tèng… đầu máy xe lửa. Thành ra rồi kỹ nghệ gia Derosne đã làm tiền dễ dàng hơn dược sĩ Derosne gấp bội !
 
Armand Séguin một kỹ sư hoá học, đồng hương với Derosne, vốn là bạn chí thiết của ngài Lavoisier (tên tuổi Lavoisier lẫy lừng với định luật hóa học Lavoìsier : Hoá chất hổng biến mất mà cũng hổng tạo thành, chúng chỉ thay hình đổi dạng)
Ba năm sau khi muối Derosne được chế ra, Armand Séguin đã thành công việc tinh chế morphine từ á phiện – morphine thực sự chớ hổng phải cái muối Derosne trên kia hén – Nhưng… ông kỹ sư này nín rít, hổng thiết tha chi chuyện thông tri báo cáo cho nhơn loại tỏ tường. Lý do là vì Séguin... hổng rảnh, đang bận rộn tíu tít đếm tiền mệt xỉu. 
Séguin tìm ra được phương cách thuộc da rất tốt, và hãng của ông là hãng duy nhứt cung cấp da thuộc cho quân đội của đại đế Napoléon.  Séguin giàu nứt đố đổ vách, rồi ông còn mở ngân hàng làm chủ nhà băng, kiêm luôn chức đại diện chánh thức giữ tiền bạc cho vị đại đế danh tiếng.
 
Gần 15 năm sau ngày chào đời của muối Derosne,  sử liệu mới lập khai sanh chánh thức cho morphine. Công lao được trao hết cho nhà hoá học đức, dược sĩ Dridrich Wilhelm Serturner. Sertnurner đã minh chứng ngọn ngành và bài bản, rằng morphine là muối của acide méconique chứa trong thuốc phiện. Serturner cũng là người đầu tiên định danh nó là alkalin  (trong hoá học hữu cơ, acide khi bị mất hydrogen sẽ biến thành alkalin tương ứng - hy vọng tui hổng nhớ sai) Và alkalin này được ông đặt tên là morphium, lấy từ chữ Morpheus như đã nói, sau tóm gọn lại là morphine.
 
Năm 1819 Karl Friedrich Wilhelm Meisner, một dược sĩ đức khác, đã gộp chung tất cả những alkalin trích từ thực vật (chứa phân tử đạm azote) vào một nhóm riêng, rồi đặt cho chúng một tên mới : alkaloid. Alkaloid mang dươc tánh sanh học, gây tác dụng trên cơ thể động vật, đặc biệt là trên hệ thống thần kinh. Các chất tương tự khác có thể kể ra như sau : caféine, nicotine, quinine, digitaline v.v...
 
3. Từ rượu Mariani... (sang tới coca cola)
Cấu trúc hoá học phân tử cùa morphine ngó chừng rối rắm. Cấu trúc phức hợp này (dà phức hợp, ông Tây ôi) mãi hơn 100 năm sau, mới được hoá học gia hồng mao Sir Robert Robinson mang ra ánh sáng.
Năm 1939, Robinson được trao giải Nobel hóa học do công lao khảo cứu những chất trich từ thực vật có khá năng sanh học quan trọng, đặc biệt là đám alkaloid kể trên (bao gồm morphine). Các chất này đã được nghiên cứu, cách ly, tìm kiếm cho ra đặc tánh sinh lý riêng biệt.
Tìm kiếm xong rồi thì mới có kết luận, rằng đám alkaloid hữu ích cho cơ thể động vật, trong đó có con người. Phong trào ăn uống đớp hít alkaloid bỗng trở thành cái mốt thời thượng, đám con buôn lợi dụng thời cơ, chế ra đủ thứ thức uống, kem bôi, dầu gội, xà bông, thuốc nhỏ... chứa alkaloid và chúng rung đùi đếm bạc mệt xỉu !
 
Nổi trội nhứt hạng trong đám ấy là rượu Mariani do hãng rượu ý tà lồ Angelo Mariani sản xuất ra. Anglo người đảo Corse (khi ấy còn thuộc đất ý) dùng rượu vang Bordeaux của pháp rồi trộn lộn vào đó một nắm lá coca - Dà, alkaloid của cola có tên gọi là cocaine hổng khác, một loại xì ke ma túy có hạng - Rượu Mariani uống dzô tăng cường sinh lực, vừa kẻo vừa dai, tới nỗi Angelo được đức giáo hoàng trao bằng tưởng lệ lúc ấy...
Rồi từ hỗn hợp rượu Mariani này đả đẻ ra một loại thức uống 'hảo hạng' khác có tên gọi là coca cola. Coca cola chào đời từ năm 1885. Cái thời xa xăm nớ, dĩ nhiên là coca cola chứa cocaine (trời ơi trời...) Mãi cho tới năm 1906, đạo luật cấm thuốc phiện (và các chất gây nghiện ngập khác, kể cả  rượu) đã làm những chai nước giải khát (soft drink) nhu mì hiền lành hẳn lại.
 
Trước năm 1906, trong đám alkaloid đông đảo ấy, morphine đứng đầu danh sách tiêu thụ. Nó được dùng tá lả để điều trị bá bịnh, từ đầu xuống tới chơn (nhức đầu đau bụng ói mửa tiêu chảy...) dùng để cai rượu và trị luôn các triệu chứng tâm thần... Morphine thông dụng tới nỗi các bà mẹ chế luôn vào sữa cho trẻ nít bú để chúng ngủ yên. Mãi cho tới khi đạo luật thuốc phiện ra đời (đã kể ở trên) mục đích kiểm soát nghiêm ngặt các alkaloid có thể sanh phản ứng phụ độc hại.
 
4. Thần dược chống đau.
Morphine, cho tới nay, vẫn là chất chống đau hữu hiệu nhứt, được dùng để trị liệu các hội chứng đau cấp tánh hay kinh niên, và nó cũng là thước đo để định phẩm các chất chống đau khác
 
Cùng với loại kim hypodermic do bác sĩ Charles Pravaz nước pháp sáng chế ra năm 1840, morphine đã trở thành loại thuốc chích có số lượng tiêu thụ nhiều nhứt. Kim hypodermique nhỏ và ngắn, dùng để chích trong da hay dưới da, chích kiểu này thuốc ngấm lẹ và tạo kết quả nhanh chóng.
 
Năm 1950, cocktail Brompton được dùng để làm dịu nỗi đau của các bịnh nhơn ở thời kỳ cuối cuộc đời. Cocktail này là hộn hợp trộn lộn của morphine, codeine, rượu và tùm lum những chất gây lơ mơ khác.
 
Một coctail chứa morphine khác có tên gọi là 'coctail lytique' do nhà phẩu thuật kiêm sinh lý thần kinh nổi danh Henry Laborit chế ra năm 1951. Coctail này được cho các thương binh pháp tại đông dương (việt miên lào) uống để có thể di chuyên họ từ chiến trường về hậu cứ.  
 
Năm 1952, morphine nhơn tạo đã được chế ra (như codein, insuline v.v), nhưng giá thành quá xá mắc, nên thị trường tiêu thụ vẫn chỉ xài morphine thiên nhiên.
 
5. Endorphine
Tới nay cơ chế tác dụng của morphine trên hệ thần kinh ra thế nào vẫn chưa biết được một cách chánh xác. 
Năm 1973 y học tìm ra được các receptors đặc thù, thích hạp với các 'dévivés' của thuốc phiện (thuốc phiện là precursor, khi vào cơ thể sẽ được biến đổi thành những derivés, dịch là chi chưa biết) Hình ảnh hoá cho dễ hiểu thì réceptor trong hệ thống thần kinh y chang những khung cửa hẹp (nói rồi mà hén, trong vụ HIV) với hình dạng khác biệt, chỉ để lọt qua những 'chất' thích hạp, dẫn truyền kích thích tác dụng trên hệ thần kinh.
 
Năm 1976, y học khám phá ra một loại morphine nội tiết gọi là endorphine do cơ thể tiết ra, endorphine này hoạt động với những receptors riêng biệt. Cùng với khám phá này, y học đã tìm ra lý do giải thích vì sao khả năng chịu đau tự nhiên ở mỗi người mỗi khác. Thí dụ : Lúc té đau ta hay xoa chỗ đau, xoa như vậy sẽ kích thích endorphine tiết ra và làm giảm đau.
 
Tác dụng endorphine tuy y chang morphine - giảm đau và gây phê - nhưng ở một mức độ thấp nên không sanh side-effect. Hoạt động thể chất thường là kích thích làm tăng lượng endorphine trong cơ thể.
Trong lab, người ta cho chuột bạch đánh vòng và đo lượng endorphine (ah... chuột bạch vốn thích đánh vòng) Vì đánh vòng là một hoạt động thể chất nên cơ thể chuột tiết endorphine, và endorphine này biến chuột thành hưng phấn (euphoric) tới nỗi có con hưng quá, cứ tiếp tục đánh miết không ngưng nghỉ, rồi lăn ra chết vì kiệt sức.
 
Khi hoạt động thể dục (bơi lội, marathon...) endorphine được tiết ra, nồng độ lên cao nhứt trong khoảng 30-45 phút, rồi kéo dài suốt thời gian training, và giảm dần trong vòng 4 tiếng đồng hồ sau đó. Đây là lý do người ta cảm thấy đã điếu, thấy khoẻ hẳn ra sau hoạt động thể thao là vậy. Và cũng là lý do vì sao training có thể gây ‘nghiền’, bữa nào hổng có thì giờ tập là y như phép cơ thể mỏi mệt đầu óc quờ quạng rồi sanh cau có.


Số Lần Chấm:  
22

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 7,763
Nguồn:
Đăng bởi: Ngô Đồng (3/4/2011)
Người gửi: Mme Ngô
Người sửa: Ngô Đồng,
 / II /