Bài Viết  

Trăng trong Nước: Truyền thống và Huyền thoai

Genn Boardman Petersen




Chuyển Dịch: Lan Huệ

Chuyện ngắn Suigetsu, dich sang tiếng Anh là "The Moon on the Water" là một chuyện ngắn tiêu biểu cho các tác phẩm của Kawabata. Nếu ta hình dung được từ tựa đề, hình ảnh bóng trăng soi trên mặt nước, ta có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa của câu chuyện, phức tạp hơn, dài hơn. Tựa đề cũng mơ hồ, có khi cả một cuốn sách chú giải chưa chắc đã giải thích rõ..Phải thừa nhận, không phải tất cả đôc giả Nhật Bản đều có thể hiểu được cái ý nhị của tựa đề, sui-getsu, dịch nghĩa đen là trăng-nước, dịch chính xác hơn là " The Moon in the Water", bóng trăng trong nước vì như thế mới làm rõ được cái ẩn dụ.
Độc giả Nhật Bản sẽ ít nhất thấy được hình ảnh quen thuộc của vầng trăng và có thể sẽ nghĩ đến một buổi tiêc ngắm trăng, dù chỉ là một buổi ngắm trăng thu thời nay, như trong chuyện ngắn Makioka Sisters của Tanizaki. Tháng Chín là tháng cao điểm trong chuyện ngắn Suigetsu khi mùa thu là " mùa buồn bã" , thích hợp cho câu chuyện, câu chuyện kể về các mối suy tư đến phẩm chất của cái chết và vẽ đẹp của cuộcsống phù du. Văn chương Nhật chứa nhiều hình ành thi vị của vầng trăng. Ba thứ Hoa, Tuyết và Nguyệt đồng nghĩa cho cái đẹp, được thường xuyên mô tả trong các bức thư pháp treo ở các tokonoma, nhất là trong các phòng thưởng- trà . Kawabata thường trích dẫn các câu thơ ấy trong những bài tiểu luận và tác phẩm của ông..Trong truyện "Japan, the Beautiful, and Myself," ông đã đưa vào hai bài thơ cổ thế kỷ 13 về vầng trăng. Khi có người xin thư pháp , ông thường nhắc đến chúng*

* Một trong những bài thơ đó có bài thơ của Dogen :
"vào mùa xuân, hoa đào nở, vào mùa hè chim hót
vào mùa thu trăng, và vào mùa xuân tuyết, lạnh trong"
Trong thơ Dogen ta tìm thấy một trong những cách diễn tả đẹp nhất hình ảnh trăng-trong-nước. Kawabata cũng nhắc đến tác phẩm của Myoe, " thi sĩ của vầng trăng", cho rằng một trong những bài thơ 31 âm tiết của Myoe là tác phẩm của" lòng tứ bi "và " tinh anh" của nước Nhật. Cần phải nói là tai Nhật ngay trong thời đại transitor-hóa, nhà chọc trời hiện nay, các thương gia, nôị trợ và học sinh vẫn thỉnh thoảng tổ chức các buổi tịệc thưởng trăng, viết thơ haiku trong khi lắng nghe tiếng dế gáy riu rít. Các khu thương mại ở Ginza vẫn bán đắt các loài côn trùng biết gáy. Tuy nhiên, người dân Tokyo muốn viết thơ haiku phải mang chúng về nhà trong các hộp plastic, chúng khó mà chịu nỗi khói bụi Tokyo
..

Có nhiều nhóm chữ để mô tả vầng trăng, từ kan-getsu, trăng mùa đông băng giá, cho đến mei-getsu, trăng mùa thu tròn vằng vặc. Nhưng quan trọng hơn nữa, có nhiều ẩn dụ nói đến hình ảnh đặc biệt của vầng trăng soi đáy nước. Có thể kể đến các bài thơ của Choshu, Buson, Saigyo, Basho, và nhiều bậc thầy khác; các đoạn trong The Tale of Genji, các câu kết của vở kịch Kabuki Sesshu Gappo ga Tsuji ( 1773) mô tả nàng Tamate, kiểu mẫu của nữ giới, rằng " trí tuệ của nàng trong sáng tựa trăng soi trên lạch nước...nàng thật tinh khiết"; các vỡ tuồng No như Izutsu, trong đó đôi tình nhân soi bóng trên mặt giếng. Vở kịch múa rối Nebiki no Kadomatsu của Chikamatsu có nhiều câu thoại hay được trích dẫn, thí dụ như " cái chậu không còn giữ lại ánh trăng" ( đó là một ẫn dụ thâm thúy nhăc tới tiền chuộc một nàng hầu) . Trong phân cảnh Dân làm muối của kịch múa nổi tiếng, The Makioka Sisters, bàị giáo già dạy múa thôi thúc đám học trò tập trung tư tưởng vào bóng trăng huyền ảo trong những thùng nước muối.". Tất cả giáo sư văn chương Nhật đều thuộc lòng lời thoại trong kịch No của Kannami, vở Matsukaze: " Vầng trăng một, bóng trăng hai" và " đắm chìm vào bóng trăng trong nước--thật là thi vị làm sao." Kannon, Quán Âm, Bồ Tát của Đại bi, thường được mô tả với hình ảnh nhìn vào bóng trăng soi trên mặt nước.Tuy nhiên tất cả những thí dụ nói trên vẫn chưa thể lột tả hết cái phong phú đầy thi vị mà tựa đề Suigetsu chứa đựng..
Vì lẽ " bóng trăng trong nước" còn là một mệnh đề quen thuộc trong văn chương Phật giáo.:" một thứ gì đó không có thực thể". Trong Zenrin Ku-shu ( Anthology of Zen poems), ý tưởng đó được diễn tả bằng câu thơ sau đây :
" một cặp khỉ đang vói tới
bóng trăng trong nước"
Đây là một bài thơ để cảnh báo các đệ tử nào tìm kiếm sự thật trong một thừ gì không có thực thể, tuy nhiên theo nghich lý điển hình của lý luận Zen, ý nghĩa cốt lủy của bài thơ này tương phản với ý nghĩa biểu kiến.. Các đệ tử không nên phân biệt các cặp đối nghịch và mâu thuẫn biểu kiến---Đức Phật và chúng sinh, hay giác ngộ và ảo tưởng ( vầng trăng trong mặt nước). Cái thật là cái không thật và cái không thật là cái có thật. Vì thế, diễn dịch theo kiểu Zen, bóng trăng trong nước chính là vầng trăng thực.
Hay ta có thể nhắc tới cuộc đối thoại của Dogen, ghi lại do đệ tử Ejo trong Shobo Genzo Shakui sau đây:
Đạt tới giác ngộ giống như hình ảnh của mặt trăng trong nước. Mặt trăng không bị ướt, nước cũng không bị chẻ đôi. Mặc dù ánh trăng mênh mang vằng vặc, nó nằm gọn ttrong một vũng nước nhỏ, dài chừng vài tấc, và rộng chừng vài phân.. Cả vầng trăng và cả bầu trời chứa gọn trong một giọt sương, một giọt nước. Và cũng như mặt trăng không cắt xẽ nước, sự giác ngộ cũng không xé nát con ngưoi. Cũng như một giọt sương hay một giọt nước không chống đối lại mặt trăng trên trời, con người cũng không gây nên chướng ngại nào cho sự thâm nhập của giác ngộ.**

**Người ta có thể thấy sự tương phản rõ nét giữa tác phẩm The Buddaha Tree, viết bởi Niwa Fumio, cựu tu sĩ Phật giáo, với sự nhân thức sâu sắc về Phật giáo trong các tác phẩm của Kawabata. Niwa kể về các nghi thức cá biệt, về các tranh chấp trong cuộc đời của người tu sĩ ( thí dụ, giữa đời tư và bổn phận công vụ ), và mối liên hệ của ông với vợ và mẹ vợ.. Nhân vật chánh ngủ với mẹ vợ hơn là với vợ. (Chú của LH: Tu sĩ Phật giáo Nhật và Đại Hàn có thể lập gia đình) Trong khi Niwa nói về mất mát ý nghĩa của nghi thức Phật giáo, Kawabata chỉ ra cho ta thấy sự mất mát ý nghĩa đó, như đoạn văn về nghi thức trà đạo trong truyện Thousand Cranes. Trong Thousand cranes ( Ngàn cánh hạc), Kawabata một lần nữa sử dụng hình ảnh the -moon- in- the- water, trăng-trong-nước của chuyện Suigetsu, nhưng trong trường hợp này, hình ảnh của một cánh sao khuya phản chiếu trong mặt nước của chiếc chậu đá ngoài vườn. Trong Sound of the Mountain, nhân vật Kikuko được liên kết với hình ảnh vấng trăng non phản chiếu trong giếng nước. Và trong Beauty and Sadness, các nàng tình nhân đồng phái tham dự một buổi lễ, uống sake từ một tô rượu, có ánh trăng rằm phản chiếu.
Hình ảnh Nước-Trăng như mảnh gương chính là ẩn dụ văn chương-văn hóa đã bắt nguồn từ tư tưởng Phật giáo lẫn tư tưởng Thần đạo Shinto. Truyền thuyết nguồn gốc nước Nhật có câu chuyện về ba thứ Bảo vật Thiêng liêng.: Chiếc Gương, Thanh Kiếm và Bảo Ngọc, ngày nay đang dược gìn giữ trong đại điện Grand Shrine of Ise and Atsuta Shrine ở Nagoya.. Chiếc gương giữ mối liên hệ với các thần mặt trời và mặt trăng Thêm vào đó, theo sự tin tưởng của Thần đạo Shinto, chiếc gương là thánh thể của the kami ( "spirit" hay " god(s)"). Theo các thế hệ học giả và tu sĩ , chiếc gương đó tượng trưng cho trí tuệ tinh khiết và là " nguồn gốc của đức tính thành thực" , không giấu diếm.. Cũng như thế, mệnh đề " trăng trong nước" và mệnh đề tương đương, " hoa trong gương" là thành phần của triết học Zen của kiếm đạo--nhưng đó là thanh kiếm trong biểu tượng của nhà văn Mishima, không phải của Kawabata.


Đoạn văn này không định ám chỉ rằng Kawabata là một văn sĩ viết về thiền học Zen. Thiền học Zen chỉ là một mặt của gia tài văn hóa mà ông đã tế nhị sử dụng trong các ẩn dụ mà thôi..
Chắc chắn không phải tất cả độc giả Nhât đều biết đến các ẩn dụ Phật giáo: họ cũng sẽ không thể từ tựa đề của truyện ngắn này liên tưởng đến tên của nhân vật Kyoko, người vợ trẻ, hay đến tấm gương của người chồng liệt giường . Vậy mà sự trùng lập vang vọng ở đây cho ai muốn tìm hiểu.. Văn chương thiền Zen có lẽ đã dùng chữ kyoka ( bông hoa phản chiếu trong gương) thay vì dùng chữ suigetsu làm tựa đề truyện. Theo kiểu viết kanji, chữ kagami viết riêng sẽ trở thành chữ kyo khi viết ghép, cho nên , lúc phát âm, tên của nàng Kyoko sẽ làm cho ta liên tưởng đến chữ kyodai ( có cách viết hoàn toàn khác), kyodai là chân đế của tấm gương trong truyện, cũng như liên tưởng đến chữ kyomen, là mặt phản chiếu của tấm gương
Sự liên kết giữa trăng và gương, hơn nữa, đã có từ thời xưa như trong bài thơ từ thế kỷ thứ bẩy, the Man'yoshu, chuyện một nàng công chúa được sùng bái bởi các vần thơ sau;
"bước đi tay trong tay, đôi mắt nàng
trìu mến đăm đăm nhìn chàng như nhìn vào chịếc gương
ngưỡng mộ chàng như thể vầng trăng lộng lẫy"


Số Lần Chấm:  
10

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 5,987
Nguồn:
Đăng bởi: Ngô Đồng (7/3/2008)
Người gửi: LAN HUỆ
Người sửa: Phù Dung;