Bài Viết Văn hóa

Ngựa Trong Âm Nhạc Và Văn Thơ

Nguyễn Hữu Phước

trích báo Người Việt tại Orange County, California, USA
Thứ Tư ngày 07 tháng 11, 2007

LTS. – Đoạn này được trích từ tác phẩm Tiếng Việt Đa Dạng của Giáo Sư Nguyễn Hữu Phước, với sự cho phép của tác giả.


Ngựa trong âm nhạc

Trong âm nhạc trước hết phải nhắc tới bài dân ca “lý ngựa ô”. Tôi chép lại lời của bản dân ca nầy để bạn nào chưa biết qua đọc cho vui: (theo Tình ca 7, nhà xuất bản Xuân Thảo.)
“Khớp con ngựa ngựa ô (2 lần) ngựa ô anh khớp; anh khớp cái kiệu vàng; Ứ ư ừ ứ ư; anh tra khớp bạc; lục lạc đồng đen; búp sen lá dậm; dây cương nhuộm thắm; cánh roi anh bịt đồng thòa; Là đưa ý a; đưa nàng, đưa nàng; anh đưa nàng về dinh (2 lần).”
“Khớp con ngựa ngựa ô (2 lần); ngựa ô anh khớp; đi khắp các nẻo xa; Ứ ư ừ ứ ư; đi qua núi mộng; trở lại đồi mơ; đi bên suối đợi; đi sang rừng nhớ; nhớ nhau trong buổi hẹn-hò; Là theo ý a theo chàng; theo chàng, thiếp theo chàng một phen (2 lần).”
“Khớp con ngựa ngựa ô (2 lần); ngựa ô anh khớp; duyên bén ta thành đôi; Ứ ư ừ ứ ư; trong sân pháo nổ; cả họ mừng vui; em mang áo đỏ; chân đi hài tía; thắt lưng dây lụa màu vàng; Cùng nhau ý a tơ hồng; tơ hồng, lễ tơ hồng cùng nhau (2 lần).”
Kế đó là bản “Vết thù trên lưng ngựa hoang”. Tôi rất thích nghe bản nầy qua giọng hát của Elvis Phương, mặc dầu thú thiệt là tôi không hiểu hết ý nghĩa của lời ca.
Bản nhạc thứ ba và là bản nhạc cuối cùng, có dính líu trực tiếp với ngựa mà tôi biết là bản nhạc “Ngựa phi đường xa”. Tôi đã nghe bản nầy không biết bao nhiêu lần, khoảng thập niên 60-70. Nghe ban Thăng Long hát bản nầy thì hay lắm, nhứt là nghe tiếng ngựa hí của ông Hoài Trung. Nhưng bây giờ nghĩ lại thấy tức cười.
Ngựa chạy nhanh, hay ngựa phi thì không khi nào hí; hoặc ngược lại. Vậy mà các ông ấy vừa cho ngựa phi vừa cho ngựa hí, vẫn nghe hay như thường và có ai thắc mắc gì đâu.
Trong bản Hòn Vọng Phu số 1, tuy đề tài không phải là ngựa, nhưng cũng có câu : “ngựa phi ngoài xa hí vang trời”. Như vậy lúc đó phải có nhiều ngựa, một số thì phi, một số không phi, hay bị gò cương lại thì cự-nự nên mới hí. Phải nhiều con đứng tại chỗ hoặc bị gò cương lại mới hí “vang trời” được. Gặp đâu viết đó cho vui thôi chứ không hề có ý chỉ-trích hay phê bình gì cả. Bản Hòn Vọng Phu số 3, cũng có nhắc đến ngựa phi, nhưng không có ngựa hí.
Ngoài các bản trên, tôi không còn biết đếùn bản nào khác nữa có nhắc đến ngựa.


Ngựa trong văn chương

Trong văn thơ Việt-Nam, truyện Kiều đứng đầu trong việc nhắc đến ngựa. Có tất cả mười một lần Nguyễn Du đã viết về ngựa. Nếu bạn nào muốn coi con số trên đúng hay sai thì cứ chịu khó đọc lại từng câu trong chuyện Kiều, câu nào có từ ngựa, hay từ gì liên quan tới ngựa thì gạch dưới và đếm cho vui. Có điều chắc chắn là tất cả những người đàn ông có liên hệ đến đời Kiều đều cỡi ngựa, hay dùng ngựa làm phương tiện chuyên chở. Trước hết trong đoạn thơ tả cảnh chị em Kiều đi lễ thanh minh:
Dập diều tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Cũng trong cảnh đi tảo mộ nầy, lúc Kim Trọng, chàng thanh niên đầu tiên mà Kiều để ý, xuất hiện và gặp mặt Kiều lần đầu, chàng cỡi ngựa:
Tuyết in sắc ngựa câu dòn,
Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa, tới nơi tư tình.
Trước đó một vài câu, tác giả truyện Kiều đã gián-tiếp cho biết là Kim Trọng dùng ngựa:
Dùng dằng nửa ở nửa về
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần
Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng.
Nhạc vàng đây chắc chắn là nhạc ngựa. Lỏng buông tay khấu là thả lỏng dây cương; vậy phải kể hai câu nầy nói về ngựa rồi.
Khi hai chị em Kiều sắp chia tay Kim Trọng, ngựa lại được nhắc đến:
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa người còn ghé theo.
Mã Giám Sinh, người đàn ông có hành động mà Nguyễn Du phải than thở là “tiếc thay một đóa trà mi, con ong đã tỏ đường đi lối về”, đã “giục giã vội vàng ra đi” bằng ngựa:
Đoạn trường thay lúc phân kỳ
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
Sở Khanh, người đàn ông thứ ba trong đời Kiều, khi bỏ Kiều ra đi, cũng dùng ngựa, để “quất ngựa truy phong”:
Nàng càng thổn thức gan vàng,
Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào!
Rồi khi Thúc Sinh, người đàn ông thứ tư, lúc chia tay cùng Kiều vào một mùa thu để về nhà “xin phép” hoặc “thu xếp” với vợ cho Kiều về ở chung, cũng đã ra đi bằng ngựa:
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san.
Khi Thúc Sinh đã ra đi rồi, có một nhóm ác nhân “đầu trâu mặt ngựa” đến đốt nhà nơi Kiều đang cư ngụ. Trong lúc bất tỉnh vì thuốc mê, Kiều đã bị bắt cóc đem đi bằng ngựa:
Thuốc mê đâu đã tưới vào,
Mơ màng như giấc chiêm-bao biết gì!
Vực ngay lên ngựa tức thì,
Phòng đào, viện sách, bốn bề lửa dong.
Từ Hải, người đàn ông thứ năm, người đã giúp Kiều trả oán, báo ân, và đưa Kiều lên chỗ cao sang nhất của cuộc đời Kiều, cũng dùng ngựa. Đó là lẽ dĩ nhiên vì Từ Hải là một võ tướng:
Trông trời, trời bể mênh mang,
Thanh gươm, yên ngựa, lên đàng thẳng dong.
Khi cho quân lính rước Kiều về phủ đường một cách rất long trọng, Từ Hải đã tự mình cỡi ngựa ra ngoài để nghênh đón Kiều:
Kéo cờ lũy, phát súng thành,
Từ công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài.
Và gần đến cuối của câu chuyện gian truân đời Kiều, người em trai của Kiều và người tình đầu tiên đã được làm quan. Sau đó chàng Kim được “cải nhậm” Nam Bình, còn chàng Vương, thành Phú Dương. Cả hai đã dùng xe ngựa đi “phó quan” :
Sắm sanh xe ngựa vội vàng,
Hai nhà cùng thuận một đường phó quan.
Ngoài ra thành ngữ “đầu trâu mặt ngựa” để chỉ những người không lương thiện bắt nguồn từ Kiều:
Người nách thước kẻ tay dao
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
Thành ngữ “làm thân trâu ngựa” để đáp đền ơn sâu cũng ở trong Kiều mà ra:
Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.
Tác phẩm thứ hai có nhắc đến ngựa là quyển Chinh Phụ Ngâm. Sau đây là một vài đoạn thơ liên quan đến ngựa. Nói về nam nhi trong thời chinh chiến:
Chí làm trai đặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giả nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu vị ào ào gió thu.
Rồi nàng phải tiễn chàng ra trận, cảnh chia ly thật là buồn :
Ngoài đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng vợi vợi buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Trong câu trên, ngựa chỉ dùng để so sánh mà thôi. Ở các câu sau, ngựa liên quan trực tiếp đến người chinh phu ở nơi xa xăm, chịu dãi dầu sương gió, cùng những hiểm nguy của chiến trận, bên mình ngựa:
Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn
Giòng nước sâu ngựa nản chân bon.
Ôm yên, gối trống đã chồn
Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh
Hoặc:
Xông pha gió bãi trăng ngàn
Tên reo đầu ngựa giáo lan mặt thành.
Hay là:
Chàng ruổi ngựa dậm trường mây phủ
Thiếp dạo hài lối cũ rêu xanh.
Tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu cũng có một câu nói về ngựa:
Vân Tiên đầu đội kim khôi
Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô.
Tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu cũng có nhắc xa mã:
Mùi phú quí nhữ làng xa mã
Bã vinh hoa lừa gã công khanh.
Trong truyện “Lục Súc Tranh Công” (9), một số các gia súc khác có vẻ “ghen tài” với ngựa, nên đã nói xấu ngựa nhiều điều, xin chép lại đây một vài câu :
Dám thưa người báu gì giống ngựa
Mà trau tria lầu trại nhọc nhằn
Ăn cho ăn những cháo đậu xanh
Ở thì ở những tàu lợp ngói...
Gẫm giống ấy:
Nết na dớn dát, Tính khí chàng ràng...
Nghề cày bừa nghe coi lếu láo...
Dại không ra dại, khôn chẳng ra khôn
Nuôi giống ấy làm chi cho rối.
Ngựa cũng chẳng vừa gì, vừa tự khen mình, vừa kể công đánh Nam dẹp Bắc, giúp không biết bao nhiêu tướng tài phò trợ xã tắc suốt trong lịch sử:
Ngựa nghe nói tím gan, tím phổi
Liền chạy ra hầm hí vang tai
Ớ này này tao bảo chúng bây
Đố mặt ai dài bằng mặt ngựa...
Tao đã từng đi quán về quê
Đã ghe trận, đánh Nam, dẹp Bắc...
Ngày ngày chầu chực sân rồng
Bữa bữa dựa kề loan giá.
Ông Cao Tổ năm năm thượng mã
Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia.
Ông Quan Công sáu ải vượt qua
Vì cậy có Thanh Long, Xích Thố...
Các chú được ăn no nằm ngủ
Bởi vì ta cầm cán giữ gìn ...
Các chú những nằm trong xó bếp
Tài các người ở chốn quê mùa
Đừng đừng buông lời nói khật khù
Bớt bớt thói chê bai giớn giác …
Thi sĩ Bạch Cư Dị cũng có nhắc đến ngựa trong Tì Bà Hành Khúc:
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti.
Thi sĩ Bùi Hữu Nghĩa có nhắc đến tài chạy đường xa của ngựa:
Đường dài ngựa phóng mây ngàn dặm
Nước cũ trăng tròn rọi núi sông
(Hai câu trên dịch từ hai câu bằng chữ Hán Việt (HV), mà rất tiếc tôi không tài nào nhớ nổi vì vốn liếng chữ HV quá ít. Chỉ nhớ là hình như đã đọc hai câu dịch ra tiếng Việt trong một bài về ngựa của ông Thái văn Kiểm, cách đây đã lâu lắm rồi.)
Nhưng trong văn thơ, theo tôi, con ngựa nổi danh không phải là con ngựa thật ngoài đời, mà là con ngựa trong bài “Đánh cờ người” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Bà tả chuyện cặp vợ chồng, đêm khuya trằn trọc không ngủ được nên:
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người
Hẹn rằng đấu trí mà chơi
Cấm ngoại thủy không ai được biết...
Thoạt mới đầu chàng liền nhảy ngựa
Thiếp vội vàng vén phứa tượng lên...
Dương Tử (2) có ghi lại bài thơ của Vũ Lang (một cựu giáo sư trung học Nguyễn Trải) gởi tặng ông trong dịp Tết Nhâm Ngọ:
Ngựa thần hý lộng đón xuân sang
Rắn tiễn năm tàn hạnh hổ mang
Vui tết đào hồng khoe sắc thắm
Đón xuân mai, cúc, trổ hoa vàng ...
Đến đây, trí nhớ và tài liệu đã cạn tấât cả những gì về ngựa trong thơ văn. Tôi ngưng đánh máy, tắt computer để nghỉ xả hơi, tình cờ thấy quyển “Thơ tình chọn lọc” của Nguyễn Hoài Thương, lật ra đọc lướt qua, lại thấy có một bài thơ, tác giả Phan văn Dật (1927), tựa đề Tiễn Đưa, nói về cảnh vợ tiễn chồng đi lính, có hình ảnh ngựa:
Chàng mặc áo nhung nầy,
Thiếp vì chàng mới may,
Thiếp dù xa chân ngựa,
Tơ lòng theo chàng bay.....
Và ở một đoạn sau:
Ngày mai chàng ruổi xa,
Mặc kẻ nước mắt sa,
Yên ngựa rong đường thẳng,
Thức dậy lúc canh gà.
Trong sấm Trạng Trình có nhắc đến ngựa qua từ mã:
Mã đề Dương cước anh hùng tận
Thân Dậu lai niên kiến thái bình.
Trong một đoạn dài vừa qua tôi đã chép lại những câu liên quan đến ngựa trong nhạc và thơ. Còn trong văn xuôi thì sao? Tôi đành thú nhạân là trí nhớ của tôi rất mơ hồ. Rồi tôi tự ngạc nhiên về tôi. Chẳng lẽ trong suốt những năm trung học không có một ông thầy Việt văn nào bắt mình đọc một đoạn văn xuôi nào dính líu đến con ngựa sao? Hay trong những quyển tiểu thuyết hoặc chuyện ngắn, chuyện dài đã tự tìm đọc lại không có chuyện nào liên quan đến ngựa sao?
Cố moi óc mãi mới nhớ có một đoạn chữ “người kỵ mã trong sương chiều”, nhưng không biết nó dính tới nhạc, thơ, hay văn xuôi; và một cuốn sách có tựa là “Ngựa chứng trong sân trường” của Duyên Anh. Rắt tiếc tôi chưa đọc qua. Theo lời một người bạn, cuốn sách nầy chỉ dùng từ ngựa chứng với tính cách tượng trưng mà thôi vì sách chỉ viết về chuyện học trò. Thôi đành bỏ qua cái vụ ngựa trong văn xuôi.

TIẾNG VIỆT ĐA DẠNG
Tác Giả: Nguyễn Hữu Nguyên
Phát Hành: SEACAEF (Southeast Asian Culture And Education Foundation), Giáp Thân 2004


Số Lần Chấm:  
4

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 7,784
Nguồn: Nhật Báo Người Việt
Đăng bởi: Pham Anh Dũng (6/7/2008)
Người gửi:
Người sửa: Pham Anh Dũng;