Bài Viết Âm nhạc

Tìm Hiểu Về Cổ Nhạc Việt Nam

Tuyết Mai

Theo tài liệu, lịch sử Cổ Nhạc Miền Nam và cải lương có từ khi các Chúa Nguyễn di dân từ miền Trung vào miền Nam. Có nhiều nhạc sĩ Triều Đình Huế và dân cư di chuyển vào miền Nam khai khẩn đất đai, thêm vào đó là ảnh hưởng của người miền Nam đưa tới sự hình thành của một loại nhạc, gọi là “ nhạc tài tử “ vào đầu thế kỷ 20.

Chử “tài tử” ở đây có nghĩa là người có tài, nhưng cũng có nghĩa là không chuyên nghiệp. Muốn nghe những tiếng đàn tài tử không phải có tiền là nghe được, vì tài tử chỉ gặp nhau trong những buổi trình diễn để thưởng thức tài nghệ chứ không đàn hát để kiếm tiền sinh sống.

Trước kia, rải rác ở Miền Nam có các ban tài tử đàn ca trong các buổi lễ tại tư gia như tân hôn, thăng quan hay ngày giỗ.. chứ không có đàn ca trên sân khấu trước công chúng. Ngày xưa ở VN không có lối trình diễn nào khác ngoài hát chèo và hát tuồng ở miền Bắc và hát bội ở miền Nam và miền Trung.

Cải lương ra đời từ năm 1910 , phát triển mạnh năm 1917. Điệu hát này tân tiến hơn hát bội nên người ta đặt tên “cải lương” cho điệu hát mới mẻ này. Về sau cải lương được nhiều người hăm mộ vì rất dễ hiểu , lời văn giãn dị , gần gũi với đời sống dân chúng hằng ngày, nội dung các tuồng cải lương đi sát với quần chúng, thích hợp với đời sống mộc mạc của người dân quê, người bình dân của xã hội VN .

Vọng cỗ ra đời năm 1919. Có người cho rằng vọng cổ xuất phát từ người Chàm , họ hát để tưởng nhớ thời xa xưa, mất nước. Sự thực thì trong một hoàn cảnh éo le , một nghệ sĩ ở nông thôn Miền Nam đã sáng tác ra bản vọng cổ đầu tiên, đó là bản “Dạ Cỗ Hoài Lang” . Bản này do ông Cao Văn Lầu, tức Sáu Lầu sáng tác.

Các nhạc khí cổ nhạc gồm có Vĩ cầm, Lục Huyền Cầm, Đàn Cò, Đàn Hạ Uy Di, Đàn Sến ..

Phân tích , so sánh với nhạc Tây phương thì các nốt đàn thì nhạc Tây Phương có 7 nốt: Do, Ré, Mi , Fa, Sol, La, Si và nốt thăng (sharp), giảm((flat). Cổ nhạc Miền Nam cũng có bảy nốt là Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, Liếu, Ú. Sự thực là chỉ có năm nốt gọi là “ngũ âm”. (Liếu và Ú là nấc trên của Hò và Xự). Nốt nhạc VN không có nốt thăng và giảm, nhưng có vô số tiếng “ngân” nhất là ở vào cuối nhịp hay cuối câu. Vì vậy không thể nào dùng một nhạc khí Tây phương không có ngân để diễn tả cổ nhạc Miền Nam, thí dụ như đàn dương cầm. Còn nếu muốn dùng nhạc khí có dây Tây Phương như Mandoline hay Guitar thì trên cán đàn phải “khoét lỏm” ở chổ bấm nốt để có thể ấn“ mạnh, nhẹ” xuống dây đàn hầu thay đổi sự căng thẳng của nó để ngân.

Trong nhạc Tây Phương một bản nhạc là một tác phẩm do nhạc sĩ sáng tác , viết ra để cho tự mình chơi, hay người khác chơi, mỗi khi chơi thì đánh không sai một ly những nốt đã viết trong bản nhạc. Còn cổ nhạc Miền Nam thì không có lối viết nhạc nên nhạc sĩ không có bản nhạc trước mắt. Có thể nói nhạc sĩ cổ nhạc Miền Nam ngay lúc đàn, sáng tác một bản nhạc theo điệu nào đó , trong một cái khung hay theo cái mẫu nào đó. Nếu được thu băng rồi đem ra phân tích từng nốt nhạc, lúc ngưng nghỉ thì sẽ thấy nhạc sĩ chơi tùy ý, tùy hứng, tùy lúc, bản nhạc nghe có khác, mặc dầu chung chung biết là nó theo điệu gì, mẫu gì.

Về điệu đàn thì nhạc Tây phương có nhiều điệu nhưng thông thường nhất là hai điệu “Trưởng” và “Thứ” . Còn cổ nhạc Miền Nam thì có ba điệu , mỗi điệu có một tách chất riêng biệt và một số bài căn bản :

Điệu Bắc thì vui tai, có vẽ liến xáo, đàn nhanh, nhịp lẹ, ngân ít,

như Bình Bán, Phú lục, Tây Thi, Cổ Bản, Lưu Thủy, Hành Vân, Kim Tiền, Khổng Minh Tạ Lầu, Xàng xê..

Điệu Nam thì thông thả hơn, ngân vừa , nhịp khi nhặt khi thưa

và phải gây ra một cảm tưởng trầm ngâm, bình thản, nghiêm trang như Đảo ngũ cung, Nam Xuân, Nam Ai. Điệu Oán thì thông thả hơn, ngân nhiều, buồn rầu, oán hận, thở than như Tứ đại oán, Văn thiên tường, Trường tương tư, Bình sa lạc nhạn..

Về lối kiến trúc các cơ cấu của bản nhạc, trong bản nhạc Tây phương mỗi nhịp được chia làm nhiều ” thì” như 2/4, 3/4 hay 4/4. Còn trong cổ nhạc Miền Nam có nhịp mà không có “thì” (temps) nên nhạc sĩ là người sáng tác tùy ý, tùy hứng mà đánh bao nhiêu nốt trong một nhịp, nghĩ bao nhiêu lần, bao nhiêu lâu cũng đựơc miễn là canh nhịp cho đúng để những chổ có nhịp chính thì đánh cho đúng cái nốt bắt buộc ở đó (gọi là xuống nhịp cho đúng).

Về cách trình diễn thì nhạc Tây phương bắt đầu ngay vào bản nhạc. Còn cổ nhạc thì bắt đầu bằng một hồi “rao”. Nghĩa là đàn theo một điệu nào đó (điệu Bắc, điệu Nam hay điệu Oán) mà không phải theo khung mẫu của bản nào hết, hoàn toàn tùy ý, tùy hứng. “Rao lên ” để tạo bầu không khí và người nghe biết nhạc sĩ sẽ đàn điệu gì (Bắc, Nam hay Oán).

Một tác dụng khác của “rao” là để so dây đàn. Và tác dụng thứ ba của “rao” là để người nhạc sĩ biểu diễn. Đàn mà không bị ràng buộc bởi cái khung mẫu nào hết thì nhạc sĩ tha hồ biểu diễn những ngón đàn đặc biệt của mình, để tỏ ra mình là người tài năng . Người sành nhạc, chỉ nghe “rao” thôi có thể đánh giá và sắp hạng nhạc sĩ .

Rao xong thì vào bài, nhạc sĩ “cằm canh” , hay “giữ nhịp” gõ vào một nhạc cụ nghe tiếng “cóc” tức là bắùt đầu. Trong suốt thời gian đàn, thỉnh thoảng nghe tiếng “cóc” để chấm câu hoặc để đánh dấu một vài nhịp chính trong câu. Nhịp “song lan” có tác dụng như xuống dòng trong một bản văn viết.

Cổ nhạc Miền Nam là một bông hoa duyên dáng, tươi thắm trong vườn hoa văn học nghệ thuật dân tộc. Những giai điệu u buồn cũng như rộn rã vui tươi đã tô điểm cho nhạc tài tử vùng sông nước Cữu Long thêm phần hồn nhiên, hương sắc, sinh động.


Số Lần Chấm:  
45

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 10,436
Nguồn: Tuyết Mai
Đăng bởi: Pham Anh Dũng (5/19/2008)
Người gửi: Tuyết Mai
Người sửa: Pham Anh Dũng;