Bài Viết Xã hội

Ngày Giỗ Mẹ

Xuân Đỗ

Anh tôi khi còn sống, lo việc giỗ chạp ông bà, cha mẹ và những người đã mất trong gia đình ở Vệt Nam. Giỗ ông bà Cố, ông bà Nội, Cậu Mẹ tôi. Các anh chị em chúng tôi đang ở bên Mỹ này chỉ cúng vọng về các vị đã mất. Cúng hoa quả, cây trái. Tôi cúng giỗ Cậu Mẹ tôi hằng năm trong tinh thần tưởng nhớ đó.
Mẹ tôi mất năm 1977, vào tháng 5, sau nhiều tháng bạo bệnh và thiếu thuốc men trong những năm tháng Việt Nam rơi vào vòng thống trị của Cộng Sản, sau ngày đau buồn lịch sử 30 tháng tư năm 1975.
Trong một bức thư khác, khá dài, anh tôi kể, những ngày nằm trên giường bệnh Mẹ tôi hay hỏi các anh chị tôi về tôi, vợ và ba đứa con tôi có an ổn không và trôi dạt nơi nào, có bị kẹt lại và đang bị tù đày, đói khát không? Anh tôi kê miệng vào tai bà thầm thì, tôi may mắn làm việc ở Vũng Tàu, một thị xã ven biển, nên khi Cộng Sản tấn công, pháo kích vào thành phố, chúng tôi lên ghe chạy ra biển khơi và được một chiến hạm của Đài Loan trong chiến dịch cứu cấp nguời tỵ nạn Cộng Sản Đông Dương của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, vớt lên tàu. Ngày 30 tháng Tư, sau khi ông Dương Văn Minh đầu hàng, các chiến hạm chạy ra hãi phận quốc tế, vớt thêm người tỵ nạn và ngày sau, ngày 01 tháng 5, chạy qua Phi Luật Tân và chúng tôi, vợ và ba con còn bé nhỏ, bỏ nước ra đi. Mẹ tôi nghe kể, chỉ nằm im, thở dài và dòng nước mắt chảy tên má nhăn nheo.
Mẹ tôi mất trong tháng 5, nhưng mãi đến trên ba tháng sau tôi mới được tin. Thuở đó Việt Nam như một ốc đảo cô lập trong cộng đồng thế giới. Các thư từ gởi về Việt Nam, chúng tôi phải gởi qua Gia Nã Đại hoặc Pháp nhờ bạn bè gởi giúp về Việt Nam. Lá thư của anh tôi báo tin buồn, Mẹ tôi mất, lênh đênh trên mấy tháng trời, trên lộ trình ngược lại, đến được tay chúng tôi là quả một phép lạ, có thể do sự linh thiêng của Mẹ đưa đi.
Sáng sớm hôm tôi nhận tin dữ, tôi thức dậy lúc năm giờ sáng như thường lệ để chuẩn bị đi làm việc lúc bảy giơ. Khi bước ra phòng khách, nhìn lên trần nhà, tôi giật mình thấy một đường nứt khá dài trên trần nhà. Tôi lặng người, không biết một điềm xấu nào,báo một tin xấu sắp xãy ra chăng? Tôi lặng lẽ đi làm việc trong tâm trạng lo lắng, băn khoăn mà không dám thổ lộ cùng ai, ngay cả với vợ tôi, cũng cùng đi làm việc cùng lúc trên xe với nhau.
Buổi chiều về nhà, nhìn các thư từ, giấy tờ, báo chí quảng cáo vừa được ông đưa thư bỏ vào thùng thư, mấy đứa con đi học về sớm đem vào, tôi thoáng thấy một lá thư, có đường viền in các màu xanh đỏ, dán năm bảy con tem. Tôi biết rằng đó là thư từ Việt Nam gởi sang. Tôi lượm ngay, xé vội ra đọc. Đúng nét chữ cứng cáp, ngay ngắn của anh tôi. Tôi lướt đọc...”Chú Tr..., Mẹ mất rồi. Mất lúc mười một giờ sáng ngày 25 tháng Tư ta...”. Lá thư trên tay tôi rớt xuống sàn nhà, còn tôi mắt đăm đăm ngước nhìn lên trần nhà, thấy đường nứt như nhảy múa, động đậy. Bà xã tôi, từ buồng rửa mặt đi ra, hỏi tôi có chuyện gì, thấy tôi đứng lặng yên và lá thư nằm trên thảm nhà, vội cầm lên, đoc thật nhanh. Tôi nghe tiếng vợ tôi nói bên tai tôi, trời ơi! mẹ chết rồi. Ba đứa con đang chụm đầu xem phim hoạt họa, có lẽ cũng do linh tính, bỏ máy truyền hình chạy lại ôm ba mẹ, nghơ ngác.
Lần cuối tôi gặp Mẹ tôi vào ngày 26 tháng ba năm 75, những ngày sôi động của thành phố Đà Nẵng. Tôi và bà xã tôi đem một đứa con trai út, ba tuổi, về Đà Nẵng ngày 20 tháng ba, khi chúng tôi nhận được tin dữ, ba của bà xã tôi, ông ngoại của các con chúng tôi, mới mất. Về dự đám tang trong tình hình Cao Nguyên đã rơi vào tay Cộng Sản, miền Trung và thành phố Đà Nẵng thật sôi động, với người tỵ nạn các tỉnh lân cận, Huế, Hội An, Quảng Tín, đổ về, đông nghẹt thành phố. Đường phố đầy người và bắt đầu hổn loạn. Chúng tôi đến thăm Mẹ, ngồi ăn bữa cơm trưa với Mẹ trong nỗi lo lắng, hoang mang cùng cực đó. Buổi chiều ra về, ôm mẹ mà thật ngậm ngùi, nhưng đâu có ngờ rằng, đó là lần gặp và ôm Mẹ lần cuối cùng trong đời. Ngày hôm sau, 27 tháng ba, chúng tôi đi xe của hãng Hàng Không Việt Nam, để vào lại Sài Gòn. Phi trường dân sự Đà Nẵng gần như bị người tỵ nạn tràn ngập. Quân đội canh gát và chỉ cho các xe của hãng Hàng Không Việt Nam chở hành khách vào thôi. May mắn chúng tôi lên được máy bay vào Sài Gòn và đó cũng là chuyến bay áp chót từ Đà Nẵng. Ngày hôm sau, phi trường Đà Nẵng hầu như bị làn sóng người tỵ nạn tràn ngập và chỉ còn các chuyến bay quân sự thôi. Đà nẵng rơi vào hỗn loạn, cướp bóc. Về lại Vũng Tàu làm việc trong rã rời, khi nghe tin trên dài BBC loan báo Đà Nẵng đã mất vào tay Cộng quân, tôi đã khóc. Từ đó tôi mất Mẹ.
Mẹ là một kỳ quan đẹp nhất trên thế gian. Một kỳ quan tuyệt diệu trong tâm hồn mỗi người. Một kỳ quan không thể thay thế. Từ ngàn xưa và có lẽ đến ngàn sau, Mẹ là đề tài, là cảm hứng của biết bao tác phẩm nghệ thuật, thi ca, văn chương, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, triết học... Mẹ đồng nghĩa với Tình Yêu, Tình Thương Cao Quí Nhất, Tình Yêu Thương Không Điều Kiện. Tình Hy Sinh. Tình Mẹ như một bản năng, một tình cảm tự nhiên của con người.
Mỗi dân tộc, mỗi ngôn ngữ, đều tôn vinh Tình Mẹ. Những dấu hiệu khắc ghi trên vách đá trong các hang động cổ xưa nhất của con người, có dấu hiệu diễn tả sự yêu thương của Người Nữ với đứa con bà sinh ra. Những ký hiệu thời cổ sơ, tiền thân của các dạng chữ viết sau này, ghi lại những tình cảm tôn quí của con người đối với người đàn bà sinh ra mình. Các chữ viết nguyên gốc từ La Tinh, Mẹ đều viết từ vần M, Mẹ (Việt Nam), Mẫu (Trung Hoa), Mothet (Anh), Mère (Pháp), Mutter (Đức), Madre (Ý và Tây Ban Nha), Moeder (Hòa Lan), vv... trong âm thanh nhẹ nhàng, êm diu, du dương, trầm bổng... như tiếng ru, lời mơn trớn, tiếng rì rào của gió ngàn, tiếng mưa rơi nhè nhẹ trên mái nhà, trên vòm cây, ngọn cỏ. Trong Tình Ca, nhạc sĩ Phạm Duy đã hát “ Tôi yêu tiếng nước tôi, tiếng Mẹ ru từ lúc nằm nôi...”.Sao không là tiếng chị ru, tiếng bà vú ru, hay tiếng cha quát tháo, tiếng mấy người anh lớn cú đầu, bạt tai, xách tai, nạt nộ, roi vọt.... khi mình còn nhỏ, phá phách, hoang đàng, biếng học. Chỉ có tiếng ru của Mẹ mới đưa ta vào giấc ngủ thần tiên. Mẹ muôn đời vẫn là biểu tượng của sự dịu hiền, tha thứ... ngay đến khi mình đã trưởng thành, đỗ đạt, ra đời, có vợ, có con, cháu... Mẹ vẫn hãnh diện gọi “thằng này hồi nhỏ...”. Mẹ chỉ thằng cháu nội, đang ráng gân cổ khóc o oe, vang nhà, cười hiền, nói thật hãnh diện gần như vô lý “Cái thằng này lại giống cái thằng cha nó, khóc đòi sữa ồn ào quá...”. Đứa bé nào khi đói lại không khóc đòi bú sữa, đâu có cần phải giống cha nó. Thế mà mọi người cười hể hả, như một thành tích “vĩ đại” từ cái nhìn của Mẹ.
Tình Mẹ là một mối tình do bản năng tạo nên, không giải thích được, dù các ông Phân Tâm Học, ông Sigmund Freud, ông Carl Jung... tìm tòi trong bao thế kỷ, trong các kho tàng ký ức, kho tàng hữu thức, vô thức, có người nói đến cả những vùng mờ mịt không gian vô hạn, phi hữu thức, phi vô... thức, đưa ra biết bao giả thuyết, xúc cảm, như mặc cảm Oedipus- Oedipal complex- và một hệ quả tất yếu của mặc cảm này là tình trạng Mẹ Chồng Nàng Dâu...
Tôi còn nhớ, khi còn bé lắm, đâu khoảng 7 hay 8 tuổi vào năm 49 hay 50 gì đó, tôi bị con chó vện đang đẻ bốn con chó con thật đẹp, trong một góc nhà, suýt cắn tôi. Tôi thò tay vào bồng một con chó con, có hai màu đen trắng thật đẹp. Con chó mẹ táp ngay vào cánh tay áo tôi trong tiếng gầm gừ thật hung dữ. Mẹ tôi đứng gần bên la hét lên, con chó mẹ mới thả cánh tay áo tôi ra. May mắn cánh tay áo vải dày nên tôi không bị thương. Tôi khóc tấm tức, giận con chó vện này quá, vì nó là con chó hiền từ nhất trong ba con chó nuôi trong nhà. Tôi thương, quí nó lắm, chơi giỡn với nó suốt ngày. nay nó lại cắn tôi. Nó cũng là con chó thông minh, có nghĩa và có trí nhớ siêu phàm. Trước đó vào những năm cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, sau khi cả gia đình hồi cư về lại nhà cũ, từ trên miền núi. Cậu tôi bị Việt Minh bắt giam ở trại Tiên Hội, trong gần hai năm. Ở nhà mẹ tôi tưởng Cậu tôi chết mất rồi. Một hôm, một ngày mưa lạnh, đông giá, một ông lão, áo quần rách bươm, mang áo tơi lá, đầu đội nón cời, chống gậy bước vào cổng nhà. Cả nhà hoảng hốt, chỉ có con chó vện không sủa mà lại chạy đến vẫy đuôi mừng rỡ và Mẹ tôi nhìn ra Cậu tôi, ở tù được thả về.
Tôi tức nó lắm, muốn đánh nó để trả thù, nhưng Mẹ tôi nói, dù nó là con chó, nhưng nó cũng có tình Mẹ Con như con người vậy. Tôi cãi Mẹ, nó là con chó, ai dạy nó tình Mẹ Con. Mẹ tôi xoa đầu tôi, nói Ông Trời dạy nó đó.
Không phải chỉ thời bé thơ tôi mới “ngộ” được tình Mẹ Con trong con vật, mà mới đây thôi, cách đây khoảng sáu, bảy năm, năm 1999, ở bên thành phố Tulsa, tiểu bang Oklahoma, nơi tôi ở gần ba chục năm, từ năm 75, sau khi chạy trốn khỏi Việt Nam.
Từ bàn viết nhìn ra cửa sổ, sân trước nhà, có hai cây dogwood đang trổ hoa vàng, hoa trắng trong mùa hè. Tôi đang tìm đề tài và cảm hứng để viết một bài nho nhỏ cho tờ Bản Tin của Chùa Tam Bảo trong mùa Vu Lan Báo Hiếu, mà anh bạn tôi, Trưởng Ban Trị Sự của Chùa yêu cầu, vì tờ Bản Tin ngoài các tin tức Phật sự, báo cáo tài chánh Thu Chi của Chùa, Bản Tin còn dư một trang giấy trống. Anh bạn đề nghị tôi viết một câu chuyện gì cũng được, để làm quà cho mùa Vu Lan. Tôi đang bí đề tài, chưa viết được chữ nào.
Có tiếng của con chim nhỏ kêu chí chóe bên cây dogwood. Tôi ngạc nhiên nhìn ra, hai con chim cánh đen, lớn hơn chim sẻ một tí, đang bay vụt qua, vụt lại, đang đánh con mèo tam thể nhà láng giếng, đang trèo lên cây dogwood. Trên nhánh ba của cây dogwood hai con chim con, kêu chim chíp thật vô tư, bên chiếc tổ bé tí. Hai con chim con chỉ nhảy chập chững những bước ngắn, từ nhánh này qua khúc cây khác. Con mèo chỉ còn nửa thước nữa sẽ với tới hai con chim con kia. Hai con chim Mẹ và chim Cha, như hai chiếc máy bay phản lực, đánh xẹt qua, xẹt lại trên đầu con mèo. Nhất là con chim mái, chim Mẹ, liều lĩnh quá, đánh thật gần. Có những cú bay của nó sát ngay hai chân trước của con mèo đưa lên. Tôi thót tim, sợ con mèo vớ được con chim Mẹ. Hai con chim đánh dữ dội, con mèo bị những cú cắn, cú mổ vào mắt, vào đầu, kêu “meo, meo” và bắt đầu xuống thang, lui vài bước. Nhưng nó vẫn không chịu bỏ cuộc, vẫn nhìn đăm đăm vào hai con chim con, chiếc lưởi đỏ, liếm quanh trên mép. Con chim Mẹ vãn tấn công tiếp tục, không nghỉ ngơi, trong lúc con chim trống có vẻ thảnh thơi, đậu yên một chỗ, một lúc lâu. Quả nhiên, con mèo thình linh nhảy phóc lên, víu hai chân trước lên cành trên, đang đong đưa, lấy trớn. Con chim Mẹ tức tốc, đánh thật mạnh, thật sát, trúng ngay mặt con mèo. Con mèo lạng quạng muốn té, nhìn lên cành trên còn thèm thuồng, tức tối. Con chim Mẹ đánh bạo hơn, hai cánh như chạm vào cành lá, kêu lẹt rẹt, đánh một cú sinh tử vào mắt con mèo. Con mèo đành nhảy xuống đất, nhìn lên hậm hực... rồi cuối cùng đành bỏ đi qua bên kia đường.
Hai con chim con thoát nạn. Hai con chim Me, chim Cha, vãn còn cảnh giác, đậu bên cành cây gần, nhìn chừng, kêu từng tiếng rời rạt.
Tôi nhìn gần ra cửa kính, thấy rõ hơn, con chim Mẹ xát xơ quá, có lẽ mấy hôm nay nó lo trận chiến, bảo vệ hai con thơ, không có một hột thóc, con trùng nào, cho con, cho nó. Lông cánh, lông mình xù xì, rách nát, tả tơi.
Ôi tình Mẹ Con thiêng liêng quá nơi con chim bé nhỏ kia. Tôi viết được một bài viết nhỏ cho tờ Bản Tin nhân mùa Báo Hiếu, vinh danh Tình Mẹ.
Việt Nam của chúng ta luôn luôn chìm ngập trong chiến tranh. Người đàn ông phải xông ra trận mạc,chấp nhận cái chết bất cứ lúc nào, để bảo vệ quê hương. Người đàn bà ở lại hậu phương gánh tất các công việc nặng nhọc trong cuộc sống, trong việc lo lắng gia đình, con cái, trong sự bao bọc, che chở con cái khi loạn lạc đến gần.
Có một lần tôi xem một bức hình đen trắng, trong một cuộc triển lãm tranh nghệ thuật, không nhớ tác giả là ai, chụp cảnh một bà Mẹ đưa cánh tay gầy guộc, lên cản mủi súng của kẻ thù đang nhả đạn vào bà và đứa con bà đang bồng trên tay, bám cứng vào ngực Mẹ. Mủi súng đang phun khói, những viên đạn chắc đã bay vào thân thể bà, thân thể đứa con. Bức ảnh ám ảnh tôi tới tận ngày nay, không biết trong bao lâu rồi. Chỉ có Tình Mẹ mới quên sợ, quên cái chết, Mẹ đưa tay cản các viên đạn đang giết chết con của Mẹ. Còn mối tình nào trên đời này thiêng liêng hơn Tình Mẹ!
Trong hai cuộc chiến tranh vừa qua ở Việt Nam, 1945 – 1954 và 1960 – 1975, trong gia đình tôi, Mẹ tôi là người hứng chịu mọi khổ ải, lo buồn nhất. Năm 1951, Cậu tôi được thả ra từ nhà tù Tiên Hội, trên miệt núi rừng Quảng Nam về nhà, đã phải bỏ nhà ra Quận Đại Lộc trốn tránh, rồi xuống Hội An ở, để tránh Cộng Sản bắt lai, bỏ tù hay giết hại. Mẹ tôi ở nhà một mình, đôi khi có chị lớn của tôi và hai đứa cháu ngoại, tạt qua thăm viếng. Những dịp lễ, Tết, tôi từ Hội An về thăm Mẹ, ở nhà với Mẹ năm, bảy hôm rồi lại đi học, bỏ Mẹ thui thủi một mình. Trong những dịp về thăm Mẹ hiếm hoi đó, tôi ngồi bên Mẹ, nghe Mẹ kể những nỗi đơn độc, nguy hiểm, suýt chết biết bao nhiêu lần trong các cuộc hành quân, đánh nhau của lính tráng hai bên, hoặc những trận thiên tai, bão lụt như cơn lụt dữ dội năm Thìn, 1964. Trong những cơn nguy nan đó, Mẹ tôi chỉ biết chạy chui vào nằm dưới gầm bàn thờ, trèo lên gát nhà, khấn vái Trời, Phật, Ông Bà phù hộ, trong nước mắt buồn khổ, quạnh hiu.
Có lẽ chỉ khoảng thời gian từ năm 54, đình chiến theo hiệp định Genève, chia đôi đất nước, đến khoảng năm 64, mười năm ngắn ngủi trong đời, Mẹ tôi có được những năm tháng đoàn tụ với con cái, cháu nội ngoại, về quây quần. Nhưng niềm vui của Mẹ trong khoảng thời gian này, cũng điểm một đau buồn, đó là cái mất của Cậu tôi năm 1961, sau nhiều năm bạo bệnh, khi tôi đang học năm cuối bậc trung học tại Huế. Mẹ tôi lại rơi vào cô đơn, lẻ bóng.
Từ năm 1964 chiến cuộc Việt Nam bùng nổ dữ dội, tại những vùng thôn quê xa phố thị, nơi quê tôi, Mẹ tôi lại một mình thui thủi, cũng bên cạnh vài đứa cháu ngoại, con của chị tôi, còn ở gần. Những năm tháng này, chúng tôi đi học xa tận Sài Gòn. Lâu lâu có về thăm Mẹ, cũng ở tại Đà Nẵng, không dám về trong quê, đã mất an ninh. Mẹ tôi ra Đà Nẵng thăm chúng tôi trong ít lâu, có khi một vài tuần lễ, rồi trở về trong quê.
Hình ảnh Mẹ Việt Nam trong thời chiến, chẳng khác nào thân phận của đất nước Việt Nam, luôn luôn quằn quại trong đau khổ vì chết chóc, tàn phá. Mẹ Việt Nam đau lòng nhìn con cái cùng chủng tộc, tổ tiên, nay đứng trên hai chiến tuyến, dùng súng đạn ngoại bang bắn giết nhau tận tình. Mẹ Việt Nam chỉ biết ôm mặt khóc thương trong tuyệt vọng. Bà Mẹ Việt Nam miền Bắc, Cộng Sản, bà Mẹ Việt Nam miền Nam, Tự Do, chỉ có trái tim đầy tình thương, nhưng bất lực trong việc can gián con cái mình, cùng quốc gia dân tộc, ngừng tay chém giết nhau. Mẹ Việt Nam chỉ có quả tim thương yêu và nước mắt, nhưng trong chiến tranh quả tim thương yêu và nước mắt không phải là những vũ khí để giết người!
Sáng ngày 29 tháng tư năm 75, khi thành phố Vũng Tàu, nơi tôi làm việc trong sáu năm, bị pháo kích, tôi và vợ, ba con xuống ghe chạy ra khơi, dự trù chạy về Vùng Bốn, tìm nơi tỵ nạn. Chiếc ghe nhỏ bé của chúng tôi được cứu vớt trong chiến dịch Di Tản Người Tỵ Nạn Đông Dương của chính phủ Hoa Kỳ. Ngày ba mươi tháng tư khi Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay Cộng Sản, tàu ra hải phận quốc tế. Ngày Mồng Một tháng Năm, chúng tôi được đưa qua Phi Luật Tân và từ đó làm kẻ tha hương.
Người Việt tha hương, bung ra, đi về muôn phương trên thế giới, như một đàn cá, may mắn vọt ra khỏi mẻ lưới định mệnh vừa bủa xuống, mang theo trong tâm khảm rã rời, một quê hương tan nát, một ngày mai vô định, một bộ mặt vô hồn. Ngổn ngang trong mớ hành trang vội vã, hình ảnh Mẹ ẩn hiện, như một tiếng thì thầm bên tai, như một lời an ủi, khuyến khích, như một cử chỉ nhẹ nhàng, lau những giọt nước mắt cho con, nâng con đứng lên, dìu bước tới, làm lại cuộc đời cho mình, cho con cái, cho thế hệ mai sau.
Cuộc chiến nồi da xáo thịt chấm dứt. Bà Mẹ miền Bắc, vui mừng ôm các đứa con chiến thắng trở về. Nhưng đau lòng thay, bà Mẹ miền Nam sau khi ôm các đứa con buồn tủi, vừa cởi bỏ chiếc áo chiến trận, vỗ về an ủi con, những kẻ chiến bại, thì lại khóc than, lo sợ nhìn các đứa con xách khăn gói đi vào nhà tù, ở tận trong rừng sâu, núi thẳm, không một tin tức, không một hy vọng ngày trở về, để xây đắp lại quê hương bị tàn phá trong cuộc chiến tàn khốc vừa qua.
Mẹ tôi có lẽ rơi vào tâm trạng quá lo sợ của một bà Mẹ Việt Nam, lo cho số phận của các đứa con, nên đã ngã bệnh và trong cơn mê tỉnh, Mẹ tôi luôn luôn muốn hỏi các anh chị tôi về số phận của các con bà. Anh lớn của tôi và hai người con rễ lớn tuổi, đã giải ngũ từ lâu trước ngày đất nước rơi vào tay Cộng Sản, khỏi phải đi tù, sống vất vưởng, đói khát với đàn con. Chỉ còn hai người con rễ khác, tôi và chú em út trong nhà, Mẹ tôi lo lắng nhất. Khi Mẹ tôi nghe tôi đã may mằn chạy thoát, Mẹ thở ra, bớt lo được một thằng. Giọt nước mắt lăn dài trên má nhăn nheo của Me, chắc Mẹ dành cho tôi, mừng cho thằng con, ít ra cũng còn một thằng thoát nạn.
Khi tôi đọc lá thư của anh tôi, báo tin Mẹ tôi mất, Tôi rơi vào tâm trạng “Tôi thấy tôi mất Mẹ, mất cả một bầu trời” như nhà thơ Thiền Sư Nhất Hạnh diễn đạt. Một bầu trời thương yêu sập đổ. Một quê hương bước vào một giai đoạn lịch sử nhiểu nhương, nghèo khổ, áp bức và mong ước ngày mai tình người được tôn trọng.
Tâm lý thông thường của con người, là khi còn Mẹ bên cạnh, một kỳ quan tuyệt diệu, một kho tàng quí hiếm... thì lại hững hờ, không tận hưởng Tình Mẹ, đến khi kỳ quan đó sụp đổ, kho tàng hiếm quí đó tan biến, thì lại tiếc ngơ, tiếc ngẩn, tự trách mình. Lúc đó cũng khá trể, nhưng Mẹ có bao giờ trách cứ con của Mẹ. Tình Mẹ thăng hoa lên cao nhất trong tâm thức con người.
Hằng năm tôi cúng giổ Mẹ, tưởng nhớ về Mẹ, chia xẻ với Me, đã chịu biết bao gian nan, buồn khổ một đời, cho đến khi chiến tranh chấm dứt, đứa con thương yêu của Mẹ, vì sự an toàn cho bản thân, cho vợ con, đã bỏ nước chạy về một nơi nào đó, tìm chút không khí tự do, làm lại cuộc đời từ con số không. Nhìn chiếc đèn cầy cháy lung linh, nhìn khói hương mờ tỏa, tôi cầu mong Mẹ siêu thoát vào Miền Không Hận Thù, Miền Cực Lạc. Xin Mẹ phò hộ cho con cháu Me can đảm đứng lên, tiếp tục bước đến trước mặt, tìm được nơi an bình, để từ đó tìm lại cố hương còn quằn quại trong khổ đau, trong bất công, trong kìm kẹp, thiếu thốn mọi bề, nhất là khát vọng một cuộc sống xứng đáng của một con người bình thường, có cơm ăn, áo mặc, trong tự do, dân chủ và đầy đủ quyền làm người lương thiện.
Làn khói hương bay tỏa lên trần nhà, nơi trước đây bị nứt, khi tôi nhận được tin Mẹ mất. Làn khói vầng quanh và quyện lại trần nhà, nay đã sửa chữa, tô quét lại phẳng phiu. Tôi tin rằng Mẹ đã siêu thoát, đã bước ra khỏi trần gian khổ ải, tìm được nơi An Bình. Tôi rót chén trà nóng cúng về Me, lạy mấy lạy cuối, rồi tắt nến, uống cạn chén trà vừa cúng Mẹ.
Vợ tôi và mấy đứa con chạy lại, đứng sau lưng tôi, bưng những món hoa quả vừa cúng, đem xuống bàn ăn, như thừa hưởng hương hoa Mẹ để lại cho con cháu. Một chút thừa hưởng từ Tình Thương Yêu vô bờ của Mẹ .



Số Lần Chấm:  
29

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 4,295
Nguồn: Xuân Đỗ
Đăng bởi: Pham Anh Dũng (8/10/2007)
Người gửi: Hương Kiều Loan