Bài Viết (Chưa Xếp Loại)

Con Chim Tìm Rét

Nguyễn thị Hàm Anh



Sinh ra ở một thành phố miền Nam nơi từ nhỏ tôi quen thuộc con đường từ nhà đến trường thường là đại lộ với hai hàng cây dầu vút cao thẳng tắp. Cứ đến mùa khô, khi một cơn gió thoảng qua, những cánh lá khô lào rào rơi xuống mặt đường. Trái dầu xoay tròn trong không trung, hoa điệp tây trải vàng thảm sân trường vơi tiếng ve kêu râm ran. Sàigòn chỉ hai mùa mưa và khô. Những cơn mưa chợt vỡ òa dồn dập, chợt mỉm cười ráo hoảnh, như chưa từng mưa đó, chưa từng khô đó. Nắng reo vui nồng nàn suốt năm. Giữa mùa mưa, hễ mưa vừa tạnh là nắng nhảy múa trên cành cây. Gió và mặt trời lau khô ngay những con đường ướt át để chỉ trong phút chốc, khô ráo như chưa hề qua cơn mưa tầm tã. Saigon chẳng bao giờ lạnh nói gì đến rét. Chỉ vào dịp tháng Chạp, khi gió mùa Đông Bắc thổi mạnh ở miền Bắc mang đến rét và mưa phùn thì ở miền Nam, gió chướng đôi khi đẩy nhiệt độ xuống khoảng hai mươi hay hăm hai độ. Khi ấy là lạnh lắm rồi, là áo len, áo gió đủ màu bay lượn khắp phố phường.
Nếu Trường Sơn không vươn Hoành Sơn, Bạch Mã... ra tận bờ biển, thì gió mùa Đông từ Siberia đã liếm chiếc lưỡi băng giá xuống tận miền Nam. Nhưng gió bấc đã không qua đèo, vượt núi, vượt cao nguyên nổi, đành chỉ mang cái rét căm căm vẫy vùng nơi miền Bắc. Phương đột ngột nói đi Bắc chơi nha. Sao nổi hứng bất tử vậy? Tin khí tượng trên TV cho biết Hà Nội đang chỉ tám độ kèm mưa phùn. Quân ra Hải Phòng trước hai tuần phone vào kêu lạnh quá, nghe lại càng háo hức: Đâu có biết cái lạnh như thế nào ngoài cái mát mẻ cuối năm của Saigon, lạnh hơn nữa là Đà Lạt. Vả lại, cứ nghe tới rủ rê đi là đã muốn xỏ vào đôi hia bảy dặm, mỗi bước mong được đặt chân tới một vùng xa xôi. Và thế là tôi, từ bé chỉ biết đến bầu trời trong xanh, ánh nắng chan hòa và khí hậu luôn nóng nực, làm con chim bay lên phương Bắc tìm rét.
Mọi người nói trời đã ấm hơn nhiều nhưng dân Saigon vẫn lạnh so vai. Thêm ba chiếc áo thung dày bên trong tấm áo len thường mặc lên Đà Lạt mà xuống phi trường, gió quất từng cơn lạnh run. Buồn cười ghê, hôm qua mới nhận được thư của Mai Dung từ Canada khoe nhiệt độ lên không độ đãthấy ấm áp lắm. Không độ ở đây thành viên đá bỏ vào ly nước mơ, ly chanh muối uống rồi còn gì, ở đó chị lại kêu ấm. Mấy hôm trước cuối năm, nhiệt độ xuống âm bảy độ, trên Mẫu Sơn đổ tuyết làm thiên hạ ùn ùn, cả Việt Nam, cả khách du lịch ngoại quốc rủ nhau lên đó xem tuyết lương vương trên đầu cây, ngọn cỏ, trắng xóa mặt đường. Đà Lạt nhiều khi cũng khá lạnh nhưng Hà Nội lạnh hơn nhiều lắm. Hai tay tôi không đeo găng, thọc sâu vào túi vẫn rét, cái lạnh như kim xuyên qua giầy và tất làm hai bàn chân cóng như nước đá. Đi qua đê, gió sông Hồng quất ào ào, len lỏi thấm sâu vào làm tim tôi rung lên từng chập. Quân gốc Bắc, định cư ở Úc lâu năm, quen với nhiệt độ thấp mà còn kêu sao cái lạnh ở đây kỳ cục, rét cắt da cắt thịt chịu không nổi, về Việt Nam chơi mà chịu thua, suốt ngày đành rúc ở trong nhà.
Qua mấy hôm, dần dần quen với thời tiết, mặc dù má và môi bị khô nẻ nhưng khí lạnh lại làm tôi luôn tỉnh táo, hơn hẳn cái nóng oi bức khiến đầu óc lúc nào cũng dễ dàng lơ mơ mệt mỏi, buồn ngủ. Thế là bắt đầu đi dạo khắp nơi. Đã qua tiết Lập Xuân nhưng cây cối vẫn in hình khẳng khiu trên nền trời xám bạc. Miền Bắc đi đâu cũng thấy rất nhiều cây phượng và bàng. Phượng vĩ đã hoàn toàn trơ trụi, chỉ còn các cành cây tua tủa chĩa ngang. Bàng vàng lá tự mùa thu, giờ chuyển sang đỏ sẫm. Từ dưới ngước lên, những chiếc lá xạm đi vì lạnh vẫn bịn rịn bám lấy cành, không nỡ rời bỏ thân cây một mình chơ vơ trong khô lạnh, rồi gió cũng nhất quyết bứt từng chiếc lá sắt son lìa cành. Thổi lớp bụi đen bám bên trên, mặt lá lộ ra những sắc độ đỏ thẫm tuyệt đẹp được vẽ nên bởi thời tiết đi qua. Không phải màu vàng, màu đỏ rực rỡ chói lọi của Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ cộng tri thu mà là những đốm, những mảng màu huyết dụ khác nhau chìm sẫm một cách thâm trầm. Trận gió thu phong rụng lá hồng. Lá bay tường Bắc lá sang Đông...(1). Mùa Thu qua lâu lắm rồi, mùa đã chuyển mình, đã chín sâu trên từng chiếc lá bàng đỏ tía, bay là là trên hè phố hẹp vào buổi sáng se se, vào những hoàng hôn không có ánh hồi quang vương vấn. Mùa Xuân vẫn chưa xuất hiện trên thảo mộc. Những búi cỏ xanh già nằm khô rạp, xoắn sát, cố bám giữ cho nhau chống trả với khí lạnh bao trùm. Một cơn gió thổi qua, các tàng cây trên hè phố đổ lá vàng rào rào trên mặt đường. Chỉ mãi trên Hòa Bình, tôi mới thấy chút lộc khoe màu xanh tơ nõn trên chót tàng cây nhãn, để rất sớm hơn những loại cây khác, mang dấu hiệu mùa Xuân báo tin đến mọi người.
Trời dịu hơn một chút, buổi trưa tôi có thể bớt áo len để đi dạo trên Hàng Khay, Hàng Bồ, Cầu Gỗ... đi thăm đền Trấn Vũ, chùa Trấn Quốc, vườn bách thảo... và con đường mang một tên quá đẹp đầy thơ mộng như một bài thơ Đường là Cổ Ngư, nằm giữa hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Bầu trời vẫn tuyền màu bạc nhưng sáng hơn một chút, không gian ưng ửng lên chút gì hứa hẹn của sự ấm áp, mà trong đó sẽ bùng lên sức mạnh đẩy lui giá rét khắc nghiệt, nhường chỗ cho mạch sống mới mẻ kỳ diệu tuôn tràn. Những áo ấm trên đường đã nhẹ bớt, du khách phương Tây chỉ khoác áo thung nhẹ và một số phụ nữ ngoại quốc mặc áo hai dây. Các cửa hàng chỉ bán đầy áo mùa Đông: các loại khăn quàng cổ, áo len, áo thung có mũ, cổ lọ... Năm ngoái là kiểu áo bông chần nhưng năm nay chuyển sang áo kết hạt và cổ lông. Quả đi đâu cũng thấy cổ áo viền lông màu vàng, màu đen, màu nâu... Hạt nho nhỏ lóng lánh đính trên tay và gấu áo phụ nữ. Nói chung, áo ấm vẫn hầu hết màu đen. Tôi nhìn đâu cũng tuyền đen, không thấy điểm xuyết những màu sắc khác: xanh, tím, đỏ... chẳng hạn, dù trên y phục của giới trẻ. Dẫu sao, hàng Trung quốc tràn qua biên giới rẻ vô cùng, một áo vest hay đôi giầy tây mới tinh giá chỉ vài chục ngàn nên tất cả mọi người đều có thể ăn mặc rất tươm tất. Những chuyến du lịch của người dân đi Lạng Sơn, Hải Phòng khi trở về, xe cộ chất đầy cứng quần áo, giầy dép, chăn mền, điện thoại, hàng điện tử... mua sắm từ các chợ biên giới.
Hằng ngày tôi đi dạo không biết chán trên những con đường của Hà Nội cổ, phố Hàng Ngang, Hàng Rươi, Gia Ngư... Hồn xưa của ba mươi sáu phố phường muôn đời vẫn trú ẩn nơi đây, tôi lắng nghe thời gian đang chuyển dịch thật nhẹ nhàng, sâu lắng mà cũng thật rõ ràng. Bức tường sau lưng nơi tôi thường ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp để uống chén trà nóng của một hàng chè góc phố Hàng Gai, đã bợt vôi, long vữa, hiện ra từng mảng rêu xanh mỏng, ngậm cái lạnh ủ ê vào tận lòng lớp gạch đỏ già nua.
Thế nhưng trời không ấm dần mà trở lạnh. Cứ theo từng đợt gió mùa mà các đợt rét và ấm xen kẽ nhau. Tháng Ba rét nàng Bân. Nàng Bân đan áo cho chồng lâu quá, mãi ba tháng mới xong thì tiết Đông đã qua, nàng khóc tủi thân khiến Trời tội nghiệp, cho rét lại để người chồng được mặc chiếc áo vợ đan. Tháng Ba ta là tháng Tư dương lịch. Từ giờ đến lúc ấy vẫn lạnh. Còn trải qua tiết Vũ Thủy, Kinh Trập, Xuân Phân. Mưa xuống làm đất mềm, sâu bọ qua giấc ngủ dài, cựa quậy mình đánh thức mùa Xuân bừng mắt, vươn dậy trong tiết Thanh Minh trong sáng... Từ Tây Bắc trở về càng gần Hà Nội, tôi rùng mình luôn vì những cơn gió hun hút thổi qua xe. Bên đường đôi khi là những thửa ruộng, vẫn nhẫn nại vài người nông dân đang ngâm chân trong nước lạnh giá để cấy mạ cho vụ xuân. Bầu trời bàng bạc hơi ngả sang chì. Cả thành phố bỗng chốc úa đi, thu mình trong áo da, áo len, mũ len, khăn quàng. Khách ngoại quốc quen với băng tuyết trời Tây cũng nhanh chóng dấu mình trong áo ấm. Người bán hàng vỉa hè trùm khăn gần kín mặt ngồi co ro sau mẹt hàng nhỏ xíu, thu mình sát tường như tìm chỗ dựa chuyền hơi ấm, người bán hàng rong cũng cắm cúi rảo bước nhanh hơn, xe chạy vội vã, đường phố vắng hẳn, chỉ các nhóm xe ôm ở ngã tư, đầu đường không nhúc nhích, vẫn lặng lẽ ngồi yên trong lạnh ngắt đợi những người khách mang may mắn. Cây cối lại se mình, tái tê trong luồng gió nhè nhẹ nhưng sắc bén.
Đợt gió kỳ này mang rét tới cùng với mưa bụi lây rây. Saigon có mưa lâm râm, lất phất nhưng không có loại mưa này. Đó là nước được lắc qua chiếc rây thật nhuyễn mắt nên mưa không có giọt, có hạt. Mưa chỉ là bụi nước rất nhẹ rắc lơ lửng đầy không gian. Tôi không thấy mưa rơi, không ướt áo nên chẳng cần mặc áo mưa, chẳng cần tìm mái hiên trú ẩn. Chỉ là hạt nước li ti không tan, óng ánh bám trên mặt lông của lớp áo dạ. Giờ tôi mới biết đến thứ mưa đặc biệt này, từng được đọc rất nhiều trong các bài viết mà những nhà văn xa xứ mòn bút tả lại với tất cả tình cảm trìu mến nhất, với những dòng văn chương lãng mạn, mơ mộng nhất. Trong cơn lạnh heo heo đó, tôi qua bao nhiêu con phố rồi không nhớ xuể, những căn nhà tường dầy thường quét vôi màu vàng với cửa kính đóng kín mít mặc những hàng cây ngoài đường im lìm, ủ rũ trong giá lạnh. Hầu hết nhà Hà Nội thường có trần rất cao. Mùa hè thoáng mát nhưng mùa Đông lại làm cái lạnh lẽo trong nhà càng trở nên thênh thang. Không gian chìm trong màn sương huyền diệu, nhà cửa đường xá ẩn hiện vừa hư vừa thực, như Scarlett (2) khi trốn chạy, cuối cùng thấy trước mắt, giấc mơ trong ám ảnh bỗng hiện hình. Tôi đội mũ lên đầu vì hơi lạnh lại ùa vào chân tóc, luồn qua mấy lớp áo để chích vào da thịt, thấm đến xương, nhưng tôi vẫn không thể rời khỏi chỗ đứng nhìn ra hồ Gươm. Đẹp nhất bao giờ cũng là hồ Gươm nơi có thể ngắm bầu trời và mặt hồ rộng rãi, cây cối xa xa quanh hồ đều khuất lấp trong sương trắng, cả tháp Rùa, người và xe cộ... đều mờ ảo đằng sau thứ mưa không phải là mưa ấy. Bầu trời hồng xám, màu của đóa hồng tro ánh lên chất ngân nhũ. Mấy tòa nhà cao tầng bên kia hồ đã nhòa trong sương, chỉ còn nhận biết bởi các bảng hiệu đèn rực đỏ, không còn thấy ranh giới của bờ hồ đâu nữa, chỉ nơi ánh sáng của những ngọn đèn quanh hồ hắt xuống mới thấy mặt nước lăn tăn rất nhẹ và rất nhanh. Lạnh thế nhưng không bao giờ thấy hồ Gươm vắng vẻ. Vẫn luôn có khách nhàn du đi dạo quanh hồ, và trong Thủy Tạ vẫn có người gọi kem ăn.
Mỗi buổi sáng sớm, tôi thường được gọi thức giấc bởi tiếng rao của người bán bánh mì, bánh giò. Tôi lười biếng quấn mình trong chăn bông êm ấm chẳng muốn ngồi dậy, chỉ mở hé cánh cửa kính mờ hơi nước, nhìn xuống khu vườn dưới lầu lãng đãng sương, những cánh sương lướt thướt đọng trên giàn gấc và thiên lý, trên ngọn dâu da xoan. Mấy chiếc lá bàng sót lại của gốc bàng già bên kia đường vẫn lắt lay, trân mình run rẩy trong từng cơn gió se sắt. Người bán hoa mải miết đẩy chiếc xe đạp chất đằng sau đầy hoa hồng, cúc, thược dược, cả những cành bích đào nở muộn cắm mãi không tàn. Và khí buốt ùa vào tràn ngập căn phòng rộng để tôi, con chim phương Nam lại co mình kêu lên sao rét quá./.

17/9/2004


Số Lần Chấm:  
12

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,466
Nguồn:
Đăng bởi: Ngô Đồng (5/19/2007)
Người gửi: tác giả