Bài Viết Văn hóa

Krisnamurti

Nguyễn Ðình Toàn

Ðộc giả Việt Nam biết đến Krisnamurti nhiều bắt đầu từ thập niên 60, nhờ một vài bản dịch và các bài viết của một số các nhà nghiên cứu, đăng trên các báo. Trước đó, chỉ những người đọc được ngoại ngữ mới biết đến Krisnamurti.

Cuộc đời ông giống như một huyền thoại, một giấc mơ.

Năm 1875, một phụ nữ Nga bà Helena P. Blavastsky và một vị cựu Ðại Tá người Mỹ tên là Steele Olcott thành lập Hội Thông Thiên Học.

Mục đích của Hội Thông Thiên Học là tổng hợp phần thần bí trong các tôn giáo Ðông Tây, mưu tìm học hỏi minh triết thời cổ, khảo sát những bí nhiệm ẩn mật trong thiên nhiên và năng lực tiềm ẩn của con người.

Tất cả các công việc ấy, chỉ là để sửa soạn cho sự giáng lâm của Bồ Tát Di Lặc, trong vai trò Ðấng Cứu Thế, hóa thân là Ðạo sư Thế giới.

Hội Thông Thiên Học có chi nhánh ở khắp các đại lục, đặt trụ sở quốc tế tại Madras Ấn Ðộ.

Một cách giản dị, theo Hội Thiên Học, trong lịch sử nhân loại, Ðấng Cứu Thế đã hai lần giáng trần, lần thứ nhất là trong Thần Krishna tại Ấn và lần thứ hai là trong Ðức Giêsu tại Do Thái.

Năm 1911, các nhân vật giữ trách vụ bí truyền của Hội Thông Thiên Học khám phá ra cậu bé Krishnamurti, 15 tuổi, là hóa thân của Ðấng Cứu Thế giáng lâm lần thứ ba.

Krishnamurti sinh năm 1895 tại Nam Ấn Ðộ, trong một gia đình khiêm tốn, đẳng cấp Bà la môn. Tiểu sử cho biết thuở nhỏ ông thể chất yếu đuối, lãng đãng việc học, mơ mộng nhưng thông minh và có lòng nhân từ.

Từ khi được định phận sẽ làm Ðấng Cứu Thế đời ông trải qua những chuyển biến dị thường.

Hội Thông Thiên Học huy động hết khả năng để chuẩn bị cho vị Ðạo Sư Thế Giới tương lai này. Bên cạnh việc chăm lo giáo dưỡng ông, Hội còn thành lập một Giáo Hội là Dòng Tu “Ngôi Sao Phương Ðông” năm 1911, tôn ông làm thủ lãnh. Dòng tu có lúc lên tới 40,000 thành viên khắp nơi, có ngân khoản lớn lao và nhiều bất động sản tại Âu, Úc, Ấn...

Năm 1912, Hội công nhận ông đăng vị Hóa Thân.

Ông trở thành niềm hứng khởi và kỳ vọng của hàng trăm ngàn hội viên khắp thế giới, nhất là vào lúc loài người vừa trải qua Thế Chiến Thứ Nhất, kéo theo sự lung lay tận gốc các giá trị của thời đại ánh sáng và duy lý trước đó.

Thế nhưng đến năm 1929, chính Krishnamurti đã giải tán Dòng Tu và từ nhiệm vai trò “giáo chủ” ông đã được tôn vinh. Ông tuyên bố: Chân lý là đất không lối vào và không thể đến với chân lý qua bất cứ hình thức tổ chức nào.

Từ đó, ông đoạn tuyệt với Thông Thiên Hội.

Ông cư trú tại Hoa Kỳ và chia đều thời gian để rao giảng tại châu Âu, Úc, Nam Phi, Ấn, Hoa Kỳ, Nam Mỹ.

Sau sáu mươi năm rao truyền lời giảng, ông được đánh giá như một hiền giả chân chính, minh triết.

Công trình biên tập, nghiên cứu và phiên dịch của Nguyễn Ước gồm 3 cuốn: “Krishnamurti Tinh Yếu”, “Krishnamurti Dòng Sông Thanh Tẩy” và “Krisnahmurti Ðời Không Tâm Ðiểm” có thể coi như một cái nhìn tổng thể về cuộc đời và tư tưởng Krisnahmurti.

Krisnahmurti đề cập tới gần như mọi vấn đề liên quan tới nhân sinh, Thượng đế, tôn giáo, thời gian, nghệ thuật, tình yêu, sự sợ hãi, đời sống, cái chết, v.v... nhưng dù ông có nói về điều gì chăng nữa, lời nói của ông, những điều ông rao giảng, dường như vẫn gắn liền với đời sống hàng ngày của mỗi người. Hay nói cách khác, đọc ông, người ta có cảm tưởng như được cùng ông nhìn lại mọi sự một lần nữa từ đầu và đó là lúc khám phá ra chân lý.

Bản dịch của Nguyễn Ước có nhiều trang, đoạn xuôi chảy, đẹp như những bài thơ:


“Có thể sông ấy có một bắt đầu và một kết thúc. Nhưng cái bắt đầu thì không phải là dòng sông, cái kết thúc cũng không phải là dòng sông. Dòng sông là dòng nước chảy ở giữa. Nó đi qua làng mạc phố thị và người ta ném mọi sự xuống nó. Sông bị ô nhiễm, rác rưởi và nước cống tuôn xuống mình, nhưng chỉ ít dặm sau, sông tự mình thanh tẩy. Trong dòng sông đó mọi sự sinh sống, cá lội bên dưới và con người uống nước bên trên. Dòng sông đó. Ðằng sau nó là áp suất lớn lao của nước, và dòng sông đó chính là diễn tiến tự thanh tẩy. Tâm trí ngây thơ như dòng sông. Không bắt đầu, không chấm dứt, không thời gian.”


Một điều thích thú khác khi đọc Krisnahmurti là người ta có thể đọc bất cứ trang nào, đoạn nào, trong cuốn sách có trên tay, không cần phải theo một hệ thống nhất định, vì mỗi đề tài đều mang tính trọn vẹn của nó.

Xin trích dẫn sau đây một đoạn trong hồi ký của Pupul Javakar, nữ văn sĩ Ấn, từng là Chủ Tịch cơ sở Krisnahmurti tại Ấn, kể lại cuộc gặp gỡ giữa mẹ bà và Krisnahmurti, sau khi cha bà qua đời, với hy vọng mẹ sẽ tìm được ở Krisnahmurti lời khuyên giải nguôi ngoai. Ðó cũng lần đầu tiên Pupul Javakar diện kiến Krisnahmurti khởi đầu cho sự gắn bó của bà với tư tưởng Krisnahmurti suốt hơn 40 năm tại thế của ông sau đó.


“...Chúng tôi chuyện trò đôi chút trước khách cùng vào phòng khách đợi Krisnahmurti.

Krisnahmurti lặng lẽ bước vào phòng và cảm xúc của tôi bừng lên; tôi đột nhiên nhận thấy có sự mãnh liệt mênh mông và tỏa sáng. Căn phòng trở nên tràn ngập hình bóng ông và lập tức tôi thấy mình chới với. Tôi chẳng làm gì hơn ngoài việc chỉ nhìn ông.

Với đôi chút ngại ngần, mẹ tôi bắt đầu nói về cha tôi, về tình yêu bà dành cho ông và về nỗi mất mát lớn lao bà dường như không chịu nổi. Bà hỏi Krishnamurti rằng liệu bà có sẽ gặp cha tôi ở thế giới bên kia không? Lúc ấy, trong tôi đã nhạt dần sức mãnh liệt của sự tiếp nhận cao độ do hình bóng ông tác động lúc ban đầu, tôi ngồi ra sau chờ nghe một câu trả lời an ủi. Tôi hiểu rằng nhiều người u sầu đã đến gặp ông và tôi nghĩ là ông biết dùng lời vỗ về họ.

Bất ngờ ông lên tiếng: “Thưa bà, xin bà thứ lỗi. Bà đến gặp sai người rồi. Tôi không thể đưa ra lời an ủi mà bà tìm kiếm.” Tôi đứng lên ngơ ngác. “Bà muốn tôi nói với bà rằng sau khi qua đời, bà sẽ gặp lại chồng mình, có điều bà muốn gặp người đàn ông nào? Người đàn ông thành hôn với bà, người đàn ông sống chung khi bà còn trẻ, người đàn ông đã từ trần hoặc người đàn ông hiện nay, người đã từng sống?” Ông ngừng lại, im lặng trong giây lát. “Người chồng nào bà muốn gặp lại? Vì chắc chắn người đàn ông đã từ trần ấy không phải cùng một người đàn ông đã thành hôn với bà”.

Tôi cảm thấy trong tâm trí mình bật lên sự chú ý; tôi vừa nghe điều gì đó thách thức lạ thường. Mẹ tôi dường như bối rối. Bà không sẵn lòng chấp nhận là thời gian có thể gây ra sự khác biệt trong người đàn ông bà yêu. Bà nói: “Chồng tôi không bao giờ thay đổi.” Krisnahmurti trả lời: “Tại sao bà muốn gặp ông ấy? Cái bà nhớ không phải là chồng bà mà là ký ức về chồng bà.” Ông lại ngừng, để lời nói lắng sâu.

“Xin bà tha lỗi cho.” Ông khoanh tay và tôi nhận thấy dáng điệu của ông thật hoàn hảo. “Tại sao bà giữ sống động mãi ký ức về ông ấy? Tại sao bà muốn dựng lại ông trong tâm trí mình? Tại sao bà chống chỏi, sống trong sầu thảm và tiếp tục sống với sầu thảm?” Tôi cảm thấy mọi giác quan của mình sôi lên: Việc ông không chịu đóng vai người tử tế bằng cảm giác cam chịu đã làm tôi bị xáo trộn. Tâm trí tôi lao vào bắt gặp sự sáng sủa và chính xác trong lời ông nói. Dù lời ông nói nghe cay nghiệt nhưng mắt ông dịu dàng và từ người ông tuôn trào tính cách cứu chữa.”


Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thấy ở Krisnahmurti một tâm hồn vĩ đại, một kinh nghiệm vĩ đại. Ngài cũng coi Krisnahmurti như một triết gia vĩ đại nhất của thời đại.

Nhà bác học David Bohm cho rằng, tác phẩm của Krisnahmurti thẩm thấu cái cốt tủy của lối tiếp cận khoa học trong hình thức cao nhất và thuần khiết nhất.

Còn nhà văn Aldous Huxley phát biểu: Ðọc Krisnahmurti như thể nghe huấn từ của Ðức Phật - quyền năng như thế, thẩm quyền nội tại như thế.


Nguyễn Ðình Toàn


Số Lần Chấm:  
25

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 2,973
Nguồn: nguoi-viet.com
Đăng bởi: Học Trò (2/28/2006)
Người gửi: