Bài Viết (Chưa Xếp Loại)

Ván tam cúc đầu Xuân

Nguyễn Mạnh Trinh

Ở tuổi tôi, tam cúc đã là một trò cờ bạc xa lạ. Năm nay, tôi gần 60 tuổi, thế mà khi đọc hoặc nghe những câu thơ viết về thú chơi tam cúc, tôi có cảm giác như nghe lại một chuyện cổ tích truyền kỳ nào xa xôi lắm. Ở ngoài Bắc ngày xưa, chơi tam cúc như một thông lệ ngày Tết và với tiết trời lạnh lạnh lập Xuân, cả nhà xúm vào chơi tạo ra một không khí sum họp đầm ấm. Bộ bài gồm những quân tướng sĩ tương xe pháo mã màu đen màu đỏ... đã là những đề tài độc đáo cho thơ văn.

Ðọc những câu thơ, như một hướng vọng về một thời gian nào đã đi qua hàng thế kỷ. Tôi tưởng tượng. Bên ngoài, mưa phai phai những bụi nước. Những cơn gió bấc và bầu trời đầy mây đen, tạo một không gian lạnh lẽo. Nhưng bên trong, bên bếp lửa đỏ rực của nồi bánh chưng tỏa hơi ấm, cả nhà xúm nhau chơi tam cúc, ồn ào trong cái ấm áp bên trong đối nghịch với cái băng giá bên ngoài. Có những mối tình đã bắt đầu từ những ván bài tam cúc. Và có những thi sĩ đã nhắc đến, như một kỷ niệm luôn trân trọng của cả một đời người.

Một người làm thơ thuở ấy, là Hồ Dzếnh, đã nhắc đến ván bài tam cúc mà đến khi mái đầu đã điểm bạc mà vẫn không nguôi nhung nhớ. Cỗ bài tam cúc, của một thời hoa niên, của những ngày đầu năm tràn đầy ước mơ, luôn luôn hướng vọng đến mọi sự tốt lành.


“ngày Tết mải chơi tam cúc

không hay anh tới sau lưng

ghé lại gần anh mách nước

kết luôn xe pháo mã hồng

ô ván bài em đỏ quá

đỏ như đôi má ngày Xuân

em có ăn trầu đâu nhỉ

mà sao người thấy bâng khuâng... ”



Phải rồi, men trầu cau đâu có nồng nàn bằng men tình yêu. Nỗi ngất ngây của hai kẻ yêu nhau chen lẫn với nỗi e thẹn ngượng ngùng như men cay của những ván bài kết đôi xe pháo mã nồng thắm. Tình yêu như dệt bằng mơ ước, của những ngày sắp tới đẹp như trong chuyện thần tiên. Lúc ấy, chúng mình còn rất trẻ.



“Nắng mới rọi vào song cửa

Rung rinh bóng lá cành doi

Năm ấy em mười sáu tuổi

Trăng tròn - anh chẵn đôi mươi

Từ đó mỗi mùa đào nở

Pháo xe lại nối cây bài

Có độ anh về, có độ

Vắng anh, em nhớ mong hoài.”



Chơi bài, chỉ là để nhìn nhau, ngồi bên nhau. Chơi bài, là để chỉ ngửi thấy mùi hương tóc, để những ngón tay đan với nhau. Chơi bài, để mong ván bài kết bằng những đôi hồng điều thắm thiết tươi đẹp. Và, những ván bài ấy, đẹp suốt một đời.



“mấy chục mùa Xuân thấm thoát

nhớ thương hờn giận chen nhau

một bức tình thơ bát ngát

quý thay cái thuở ban đầu

nay tóc đời ta điểm bạc

bể dâu thời thế phôi pha

em ạ, cỗ bài tam cúc

vẫn thơm nguyên vẹn tình ta...”



Không phải chỉ có một mình thi sĩ Hồ Dzếnh làm thơ về ván bài tam cúc đầu Xuân. Một thi sĩ khác, Hoàng Cầm. cũng có một bài thơ được truyền tụng và được coi như là “hạt ngọc thi ca bắt được của giời.” Tên của thi sĩ là một vị thuốc đắng nhưng thơ tình của ông thì rất ngọt ngào. Mà bài thơ “Cây Tam Cúc” là điển hình.



“Cỗ bài tam cúc mép cong cong

Rút trộm rơm nhà đi trải ổ

Chị gọi đôi cây!

Trầu cay má đỏ

Kết xe hồng đưa chị xuống quê em...”



Ván bài như một gợi ý cho tình yêu. Chị gọi đôi cây mà trầu cay má đỏ. Không biết có phải vì rơm ấm, hay vì men tình, để “kết xe hồng đưa chị đến quê em”. Có chút nồng nàn của mối tình ngây thơ của cậu bé yêu người lớn tuổi hơn.



“Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm

Em đừng lớn nữa chị đừng đi

Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa

Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì.

Ðứa được

Chinh chuyền xủng xoẻng
Ðứa thua

Ðáo gỡ ngoài thềm

Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ

Ðổi xe hồng đưa chị đến quê em...”



Em đánh bài không màng thua được mà chỉ là cái cớ để được ngồi cạnh người mình yêu để “nghé cây bài tìm hơi tóc ấm” để ván bài ấy cứ ngưng đọng lại để mãi mãi em vẫn còn bé bỏng. Em chơi bài mà “tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa,” đánh bài mà bất kể thua được. Trong thâm tâm, chỉ muốn được gần chị để hương thơm của ổ rơm vẫn còn náo nức tuổi đương thì. Ván bài có đứa thua kẻ được, trinh tiền xủng xoẻng nhưng em thì vẫn muốn đi đêm để đánh đổi cây bài tướng điều sĩ đỏ cao giá hơn để lấy cây xe hồng với ước nguyện đó là phương tiện để đưa chị về quê em như một ước mơ ấp ủ cả đời.

Nhưng, thực tế, thì buồn lắm. Kết cuộc “Em đứng nhìn theo em gọi đôi.” Bởi vì trời làm binh lửa, chiến tranh:



“Năm sau giặc giã

Quan Ðốc đồng áo đen nẹp đỏ

Thả tịnh vàng cưới chị

Võng mây trôi.”



Bài thơ này Hoàng Cầm viết năm 1960 sau khi ông bị liên quan đến vụ án Nhân Văn Giai Phẩm. Mãi về sau này bài thơ mới được chính thức phổ biến. Khi nó ra đời, chỉ được truyền tụng trong giới những người yêu thơ. Lúc được in lại trong tập “99 Tình Khúc” gồm những bài thơ tình chọn lọc, bài thơ này được xếp vào phần đầu “Thời 1. Chị và Em” với câu thơ kế bên “Em đừng lớn nữa. Chị đừng đi...”

Tôi thấy rõ cái tâm sự muốn mãi mãi thơ ngây và sống cùng kỷ niệm suốt cả đời. Ai mà cứ trẻ thơ hoài, trẻ thơ mãi, nếu không là nhà thơ. Thi sĩ, có trời đất vũ trụ riêng, và trong cái tư riêng ấy có những điều mà người thường không ngộ hiểu được.

Hoàng Cầm hình như sống thật nhiều với kỷ niệm. Cuộc sống lẫn lộn giữa mê và tỉnh, giữa đêm và ngày, giữa mê đắm và tỉnh táo. Bất cứ hình ảnh nào cũng gợi lại bóng hình xưa, khuôn vóc cũ.

Trong bài “Gọi đôi” ông làm những câu thơ thật tha thiết:



“...Áp môi bóng cõi mưa dài

Khát thêm từng trận khát hoài tuổi xưa

Em về chưa? Chị đến chưa?

Bỗng dưng hai đứa khóc mờ đêm trăng

Chị đây có phải em chăng

Em đâu có thật em rằng chị không

Siết tay kết một vô cùng
Lơi tay lại vẫn đôi dòng lửng lơ

Song song có gặp bao giờ

Hai dòng lệ chảy hai bờ sông trôi

Mưa nhung áp má bồi hồi

Nghe khô từng sợi mưa dài lặng im

Em không nổi. Chị không chìm

Chị tung gió tím em tìm sang Xuân

Nằm trong mắt bão tuyệt trần

Mưa nhung tung cánh trắng ngần...

Em bay... ”



Em. Chị. Chị. Em. Những mối tình lạ lùng cứ ám ảnh suốt đời người thơ. Cái cảm giác lúc mười hai tuổi sao cứ kéo dài mãi, để lửng lơ trong tâm hồn những xao động khôn nguôi “dưới kia sông chẳng quay đi. Mười hai tuổi cũ biết gì Chị ơi. Một con bướm lửa đậu môi. Hai nhành hoa lửa chia đôi tay cầm... ” Tha thiết quá một thời yêu ngây thơ, của đứa trẻ sớm dậy thì. Thật lạ lùng, cậu bé ấy cứ muốn muôn năm thời trẻ dại, để yêu mê một hình dáng nữ lớn tuổi chững chạc hơn...

Ngày đầu năm, tự nhiên tôi bị lạc bước vào những thế giới tình yêu của những thi nhân có nhiều nỗi niềm riêng. Nếu mang cái tâm tư của người bình thường, có lẽ khó mà thấu đáo được cái tâm tình sôi nổi của người làm thơ. Một thời kỳ, với tôi có lẽ xa xăm lắm. Thời buổi bây giờ, có ai còn quây quần bên ván tam cúc, để nghe hương của tình cảm thơ ngây đã từ từ nhú mầm yêu thương. Ngồi cạnh nhau trong buổi đầu Xuân, trong ván bài tam cúc có lẽ cũng thú vị. nhưng, với giới trẻ, cái thơ mộng lãng mạn ngày xưa như thế chỉ còn trong kỷ niệm. Bây giờ, có một người làm thơ trẻ hơn, đón Xuân bằng một cách khác. Ấm cúng hơn và cũng đời thực hơn.

Bài “Anh Em mùa Xuân”:


“da thịt em, tuyết mùa Xuân

hồ nghi, dường có gót chân ngại ngùng

lạnh vai, hẹp tấm chăn chung

tay anh, chợt ẩm lạnh cùng hạt mưa

ngón tay em, nhắc ngày xưa

người dưng sao lại nửa khuya gũi gần

siết vào nhau, cõi phân vân

lửa nào đốt giữa châu thân mịt mùng

mùng Một Tết, nắng rưng rưng.

gió ve vuốt chốn chập chùng bâng khuâng

hình như từ sợi lông măng

có mênh mang một vết răng còn hằn

lạnh em, sao hẹp góc chăn

đôi gối lệch vẫn ân cần thấp cao

này anh, vài sợi nắng đào

rơi trong mắt, xuống lũng sâu vô thường.


Kỳ cục, tại sao đang đọc từ bài thơ về ván tam cúc của những nhà thơ nổi danh từ hơn nửa thế kỷ nay lại lạc bước sang bài thơ của một thi sĩ vô danh như thế. Có phải, liên tưởng đến một trời Xuân nồng nàn của quê hương chỉ còn trong quá vãng của kỷ niệm. Dù lãng mạn, dù thực tế, thì hôm nay, đọc vài bài thơ, trong cái xôn xao của đất trời, cũng là một cách thưởng Xuân. Vui Xuân, kẻo hết Xuân đi.


Số Lần Chấm:  
15

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,411
Nguồn: www.nguoi-viet.com
Đăng bởi: Học Trò (1/30/2006)
Người gửi: