Bài Viết (Chưa Xếp Loại)

CUỐI NĂM GÀ “CÚM”, NÓI CHUYỆN ÁI TÌNH TUỔI DẬU

Chu Tất Tiến


  Người ta nói con gà có đủ “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín” thì cũng đúng. Này nhé, “Nhân” là khi con gà mái chịu nuôi thêm một bầy vịt con mà không càm ràm, phân chia chủng tộc. Ở nhà quê, nhà nào mà không nuôi vừa gà vừa vịt, nhưng bản tính vịt mẹ thì lười, đẻ con xong lại không chịu nuôi con, tối ngày đi lang chạ lung tung, nên vịt con phải tháp vào với gà con, ăn chĩa. Gà mẹ thấy vậy, cũng không nỡ đuổi, cứ lẳng lặng đào bới xới lộn cho cả gà con và vịt con ăn chung. “Nghĩa” của gà thì ai chả biết, từ khi mở mắt chào đời mà nhìn thấy ai đứng gần nâng niu là cứ thế bám theo riết, không bao giờ chịu rời xa. Mấy anh chủ gà chỉ việc kêu “chíp chíp” là gà chạy lại liền, đôi khi không cần kêu nữa, cứ nhác thấy bóng chủ đi tới, là gà chạy ra “tóc tóc” quấn quít bên chân. Gà lại biết “Lễ” nữa, gà trẻ nhường gà già, gà mái nhường gà trống, khi chủ tung thóc ra, gà con và gà tơ thường đứng xa mổ hạt vãi, ít dám nhào vô dành ăn với gà cao niên, nếu lỡ ham mà xấn tới, chị gà già chỉ xịt một tiếng, là gà nhỏ vội lùi ra liền. Mấy anh gà trống muốn tán tỉnh gà mái thì phải đi vài vòng làm điệu bộ, múa may mấy đường quyền rồi mới xáp lại. “Trí” của gà thì khỏi nói, gặp mấy chú diều hâu, hay chồn cáo, gà mái thường gom con lại đứng dưới cánh, trông to lớn hẳn ra, làm các chú tham ăn kia hoảng mà bỏ đi. Chú chồn cứ lanh quanh mãi mà không dám xấn tới, vì chị gà mái cứ luôn xoay mình theo hướng đi của chồn mà gầm gừ cho đến khi chủ tới thì chồn chạy. Chữ  “Tín” của gà lại vô địch, cứ đúng giờ là gáy lên, đánh thức mọi người dậy đi làm, không bao giờ trễ nải, khi nào gà bị bệnh thì cũng ráng nằm trong chuồng “ò ó o” vài tiếng mệt mỏi.

  Kể ra nghe vậy thì hách thật, nhưng với con người mà mang tuổi gà thì lại cơ khổ. Phải lận đận, cực khổ đào bới suốt ngày, cứ sáng tinh mơ là chồm dậy đi làm, không “phè cánh nhạn” như tuổi Heo, hay tuổi Rồng. Về tình yêu cũng phải vất vả trăm bề, nghĩa là ái tình đến thật nhanh và ra đi cũng lẹ y như ái tình của gà vậy.

  Thành là một người mang tuổi gà như thế. Năm nay đã đúng sáu bó rồi mà vẫn cực như gà. Nghĩ lại cả đời toàn là chuyện đào bới liên tục tay chân cả tình lẫn tiền.

  Vừa mới sinh ra thì gặp nạn đói. Cả miền Bắc đói triền miên, đói rã rượi, nên mặc dù nhà Thành ở quê thuộc loại khá giả, cũng phải thắt lưng buộc bụng. Ngoài việc nấu cháo cho người đói ăn hàng ngày để làm phước rất tốn gạo, bố mẹ Thành phải lo đối phó với việc người làm bỏ lên tỉnh vì sợ hãi, vì đi kiếm người thân, lại thêm trộm cướp triền miên, nên bỏ bê Thành, ít lo tới. Thành được giao cho chị vú là người có bầu sữa tốt, nhưng lại có lòng riêng tư cho người nhà mình nhiều hơn là lo cho Thành, nên chị hay lén lút bớt cơm của mình, dành lại gửi về nhà nuôi đứa con gái cũng vừa tuổi Thành. Chị ăn ít cơm, bớt thịt, cá, có đồ ăn ngon là dấu diếm đem về cho con mình. Cho nên, dần dần sữa Thành bú có mùi nhạt nhạt làm Thành chán bú luôn. Cậu bé gầy đi thấy rõ. Mẹ Thành không hiểu nguyên nhân, cứ cho thằng bé đi hết ông lang này sang ông thầy thuốc khác. Mãi sau mới khám phá ra việc chị vú ăn kiêng để dành phần ăn cho con mình, mẹ Thành mới cho chị nghỉ việc, thì cũng là lúc Thành biết ăn cơm rồi. Và cũng từ độ ấy, đời Thành long đong luôn, vì cả nhà phải chạy tản cư. Việt Minh tràn vào, đấu tố tư sản. Mẹ thuê một anh người làm gánh Thành và chị kế của Thành trong hai quang gánh, chạy giặc như điên. Vừa chạy Việt Minh, vừa chạy Tây, cả hai lực lượng võ trang này đều nhắm người dân vô tội chạy loạn mà bắn giết không thương tiếc. Cho đến khi vào được Hải Dương, rồi Hải Phòng thì hết chạy, nhưng lại phải di cư vào Nam.

  Ở khu Vườn Lài, mẹ Thành gói bánh nếp đem bán cho các chợ. Thành đi học được ít tháng thì bỏ vì bị kỳ thị kinh người. Mới vào học lớp Nhì, thầy giáo đọc bài toán: “Cô tôi có mười đồng, cho vay năm đồng, hỏi cô còn được mấy đồng?” Thầy đọc giọng Nam kỳ quốc, nên Thành trả lời mà viết theo âm của thầy: “ Cô lấy tiền cho giai năm đồng, nên cô chỉ còn có năm đồng!” Thầy lôi Thành ra đánh cho mấy cái thước bảng. “Thằng này láo! Viết tầm bậy tầm bạ!”

  Làm bài toán thứ hai, Thành cũng bị đánh nữa. Thầy hỏi:

-Người khách mua hai đồng bánh chuối chiên, đưa cho cô bán hàng sáu đồng, hỏi ông khách nhận được mấy đồng tiền thối?

  Thành hỏi:

-Thưa Thầy, ông khách không nhận đồng nào vì cô bán hàng ăn gian, không đưa tiền lành, lại đưa tiền thối! Tiền thối thì không ai lấy!

  Thành lại bị Thầy giáng cho mấy thước bảng vào lưng, đau thấu trời xanh. Mãi sau mới biết “tiền thối” không phải là tiền hư mà là tiền trả lại. Mấy đứa học trò Nam kỳ cười diễu Thành như điên cho đến khi Thành nổi cục lên, đấm một thằng, thế là chúng xúm lại ném Thành xuống cái giếng cạn gần cửa lớp. Thành khóc la um xùm, Thầy ra, kêu chúng thả giây xuống cho Thành rồi kéo lên. Hôm sau, mẹ Thành đến cửa lớp, la ông Thầy chói lói rồi dắt Thành về, không cho học nữa.

  Thành ở nhà không có việc gì làm, đứng ngó cô bé hàng xóm chơi ô quan. Thấy Thành ngó lom lom, cô bé vẫy tay:

-Qua đây chơi, làm chi mà đứng lấp ló!

  Thành lớ quớ bước qua, tập chơi, rồi mê luôn cả trò ô quan và cô hàng xóm có đôi mắt tròn xoe như hai hột nhãn. Tết năm ấy, Thành nhận được tấm thiệp của cô bé, trong có hình vẽ quả dưa hấu và chai ruợu. Bên cạnh có hàng chữ viết nắn nót rất to và rất đẹp:

     Tặng nhau hai đĩa muối gừng

      Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

      Ký tên: Út Ngọc.

  Cầm tấm thiệp mà lòng Thành hoang mang, run rẩy. Mắt Thành như nhòa đi, phải đọc đi đọc lại mãi mới hiểu hết ý. Cậu bé đứng dựa vào hàng rào gỗ mà tưởng như đang lên Tiên.

   Mối tình đầu của Thành bắt đầu từ tuổi ấy. Nhưng ái tình tuổi con gà không thọ. Mẹ Thành dọn về Khánh Hội, Thành run run nhìn đôi mắt tròn như hột nhãn bên kia hàng rào đang dõi theo mẹ con Thành dọn đồ đi ra đầu ngõ. Cho đến nay là năm mươi năm, Thành vẫn nhớ như in con ngõ nhỏ có bụi tre còng quèo, cây “tôma”, cây tầm ruộc, và đôi mắt của Út Ngọc. Nàng bây giờ ở đâu? Con cháu đùm đề rồi, mà có nhớ tên Thành gầy nhom di cư năm 54 không?

  Con gà Thành về Khánh Hội, ở trong một căn nhà có gác lửng, dựng trên những cây cột đầy xình. Nhà Thành ở là nhà sàn gỗ, ở trên con kinh đen thùi. Đường đi là những tấm ván long lanh. Dưới sàn là nước sình thúi kinh khủng khi triều xuống. Mùi thối toả ra từ phân người, nước tiểu, phân heo, rác, chuột cống, đồ ăn dư... đầy rẫy trên bùn. Chuột cống to bằng bắp chân người leo lên sàn nhà ở chung với người rồi lại leo xuống ăn phân. Những cái đuôi chuột dài hơn cái đũa ngó ngoáy trên nắp chạn. Một hôm Thành lấy dao chặt một phát, con chuột đứt đuôi không thèm chạy, cứ đứng đó nhìn máu nhỏ xuống tanh tanh. Thành phát lộn mửa, phải bỏ dao chạy ra ngoài đường, đứng thở mãi mới dám trở vào nhà.

   Ở Khánh Hội chưa được một năm, Thành lại có một mối tình mới. Đi học lớp Nhất, Thành cũng bị Thầy trù, đánh đòn hoài, nhưng Thành nghiến răng chịu vì trong lớp có một đôi mắt tròn xoe khác hay nhìn Thành. Đôi mắt này lại có vẻ Tây lai, vừa trong vừa xanh xanh, là lạ. Mới đầu, Thành còn ngượng vì bị Thầy đánh, nhưng sau lại lì đòn, vì được cô bé an ủi. Ngẫu nhiên,  cô bé lại là con cậu Tám, một ông cậu họ, vào Nam từ xưa, mở tiệm sửa xe Vespa. Hôm đó, mẹ đưa Thành qua ông cậu chơi, thấy cậu gọi “Diệu ơi, Diệu à! Ra ba biểu!” Thành đang phân vân thì Diệu ra, đúng là cô bé có cặp mắt xanh như Tây lai trong lớp. Từ đó, mỗi khi tan học, Thành đứng lăng quăng chờ Diệu ra, đi một quãng mới chia tay. Có hôm Thành đứng lại nhìn mãi theo một góc chiếc áo bà ba trắng bay bay về phía đường cái rồi mới lững thững về nhà.

   Số con gà Thành vất vả nên ái tình chưa kịp lên ngôi đã phải chia tay. Lần này, mẹ dọn về Vườn Xoài. Thành lên học đệ Thất ở trường Lê Bảo Tịnh. Học sinh lớp này phần lớn là con nhà  “di cư Bắc Kỳ ăn cá rô cây” nên con gái lớn xộn, 16, 17 là thường, trong khi Thành còn nhỏ quá, đi học vẫn mặc quần “xoọc” nên chả có mối tình nào bén lửa. Mãi đến năm đệ Tứ, thì tình ái mới bắt đầu nẩy nở. Cô bé tên Mỹ, nhà ở ngay ngã tư Trương Tấn Bửu và Trương Minh Giảng. Nhan sắc không chim sa cá lặn, nhưng đặc biệt có đôi mắt (số Thành khổ vì các cặp mắt) tình tứ không chịu được. Mỹ không nhìn ai thì thôi, hễ nhìn là nhìn chăm chăm. Thành lại được Mỹ nhìn hoài, vì hai đứa ngồi cùng một hàng, Thành ngồi gần cửa ra vào, Mỹ ngồi trong cùng, nên muốn nhìn ra cửa thì phải liếc qua Thành. Một hôm, Thành vô tình nhìn vào phía trong, thấy Mỹ nhìn mình đăm đăm, tự dưng gai lưng Thành nổi lên. Từ lần ấy, Thành hay bỏ nhìn thầy giảng để nhìn về phía Mỹ. Bất ngờ một hôm, thầy phát giác ra hành động ấy, thầy tiến lại, đập vào gáy Thành một cái nhẹ, mắng yêu:

-Thành! Bây giờ hư quá rồi!

  Mỹ nhìn thấy, bưng miệng  cười khúc khích, làm trái tim Thành rộn lên. Một hôm, cơ duyên đến, nhà thờ Vườn Xoài tổ chức đi hành hương Long Xuyên hai ngày hai đêm. Thành và Mỹ cùng ghi tên đi chơi. Tới nơi, hai đứa có rất nhiều cơ hội đi gần với nhau,  nói chuyện linh tinh. Thành muốn hụt hơi, vì mỗi lần nhìn lại Mỹ là thấy cặp mắt Mỹ cứ như tia lửa phóng tới cuốn lấy Thành. Cậu bé chưa đủ 15 tuổi, còn gầy gò, nên thân thể lao đao như đi trên sóng, đầu óc thì bồng bềnh, nên chẳng nhớ đã nói những gì, đã làm những gì, chỉ biết rằng thời gian ấy, Thành mê muội vì hạnh phúc quá sức, đến nỗi đánh rơi hết tiền mẹ cho mà không biết, trước khi về, Thành đói mê man, vì không có tiền mua bánh mì, nhưng Thành vẫn mường tượng rằng cơn đói làm cho người ta yêu nhau hơn.

  Trở về trường, hai đứa chỉ lo nhìn nhau say đắm, nên cả hai đều thi rớt, và cả hai đều phải học “đúp” lại lớp đệ Tứ, nhưng chả đứa nào buồn cả, dù bạn bè bốn năm đã đi qua trường khác hết rồi. Những lá thư nhỏ nhỏ, những bức hình vẽ đơn sơ mà Thành tặng cho Mỹ là những bài học yêu đương thấm sâu hơn những câu mệnh đề Toán, Lý Hóa. Nhưng vì còn quá nhỏ, nên qua hết một năm, cường độ ái tình vẫn dậm chân tại chỗ, chẳng có kỷ niệm gì lớn hơn là vài lần Thành đến nhà Mỹ chơi, nói chuyện linh tinh lang tang, để cuối cùng, con gà Thành lại phải chia tay mối tình này, sau khi thi đỗ Trung Học, lên đệ tam ở trường khác. Đến nay, Thành vẫn không nhớ tại sao hai đứa lại không còn liên lạc với nhau nữa, mãi cho đến khi Thành lấy vợ, bất ngờ gặp Mỹ ở nhà thờ, bốn con mắt nhìn nhau tê tái khoảng mấy phút, Thành mới ấp úng mở lời:

-Mỹ có khỏe không?

   Người thiếu phụ không trả lời chỉ nhìn Thành với những tia lửa năm nào làm Thành run chân muốn khuỵu xuống, dù bên cạnh là bà vợ, cũng với những tia lửa bắn sang Mỹ và những ngón tay bấu vào Thành muốn đứt thịt ra. Vài phút im lặng nặng nề trôi qua, những tia lửa bên kia tắt ngóm, Mỹ cúi đầu nhìn xuống chân, thở dài, nhích miệng cười, rồi quay đi, không một lời từ biệt, để lại cho Thành những cơn đau tim và mấy dấu cấu của vợ cũng đau thấu trời xanh.

  Ái tình của gà lại đeo theo Thành năm đệ Nhị. Thành ngồi cuối lớp, “xóm nhà lá”, với mấy thằng bạn trời đánh thánh đâm. Trên dẫy bàn đầu là Minh, người đẹp như “một quả xoài tượng xanh” theo lời thằng Bằng, còn với Thành, Minh là “cặp mắt Liêu Trai Chí Dị”, lại một cặp mắt đưa hồn Thành bay cao. Thành hồi đó phá như giặc, một hôm đi học bằng guốc, thay vì xăng đan. Tụi bạn phóng guốc của Thành lên chỗ Minh ngồi, Thành chới với tiến lên, xin lại. Minh đưa cho Thành chiếc guốc, miệng cười mím chi. Mấy thằng “xóm nhà lá” gào lên:

-Tây! Hôn chiếc guốc đi!

  Thành được biệt danh là Tây vì mắt Thành hồi đó nâu nâu, da trắng, tóc cũng nâu, mũi cao, giống Tây lai. Thành nghiến răng lại, cầm chiếc guốc trong tay, rồi đưa lên miệng... hôn! Cả lũ quỷ cười ầm vang. Minh cũng cười hích hích. Thế là từ ngày hôm ấy, mỗi lần Thành buớc vào lớp, là tụi nhà lá lại gào lên:

-Minh ơi! Tây vô!

  Khi Minh thon thả bước vào, tụi nó lại la lớn:

-Tây ơi! Minh vô!

  Tuy hò la như vậy, nhưng ái tình không tiến được bước nào. Thành hay quậy, nhưng lại nhát gái vô địch. Không hiểu sao, đến tuổi 17, 18, Thành lại đâm sợ gái một cách kỳ lạ, chỉ biết phá phách tung người. Hôm học Vạn Vật, thầy Hoàng Cầm, một bác sĩ thần kinh, kêu Thành lên trả bài:

-Tây! Lên đây vẽ cho tôi cái rễ cây xem! Ngồi dưới phá quá!

  Tính thầy hay vui, thấy bạn Thành gọi Thành là “Tây”, thầy cũng gọi “Tây” luôn .

  Thành tửng tửng tiến lên trong tiếng hò của mấy thằng  quỷ, rồi vẽ luôn một cái rễ méo như y cái đầu thỏ, hai cái lông hút thì to như tai thỏ, mấy vòng libe, mộc bị Thành biến thành cái mặt người có đủ mắt mũi miệng. Thầy Cầm cười hô hố:

-Tây! Sao cái lông của anh to qúa!

  Thế là cả lớp nổ ra một tràng cười tưởng như vỡ cả kính. Minh thì gục mặt xuống bàn, rung vai lên.

  Thành đi xuống trong sự khoái chí của lũ bạn, mấy thằng sau đó, bắt Thành phải viết thư cho em bằng được. Run rẩy như sắp bị chặt đầu, Thành thảo ra một bức thư đầy những giòng cải lương rồi... nhờ Năng đưa giùm! Thằng này tỉnh bơ, chặn đường Minh (cô bé đi bộ về nhà), một tay đút túi quần, một tay đưa ra cái thư, trong khi Thành thì núp ở một con hẻm gần đó, trái tim đập trên trăm nhịp. Minh nhận thư, cười, rồi nói với Năng:

-Bảo anh Thành cứ gặp Minh ngày mai, sau giờ học.

  Ngày mai, ôi ngày mai dài hơn thế kỷ, Thành đứng đợi Minh ở chỗ để xe đạp, còn Minh chờ cho bạn bè ra hết rồi mới ra cửa. Chiếc áo dài bay bay vẫy gọi ngay cửa lớp. Cặp mắt Minh thì đảo khắp hướng tìm Thành, trong khi Thành đứng chết trân ở chỗ để xe, hai chân muốn quỵ xuống! Minh cứ đứng mãi ở cửa mà không thấy Thành đến, thì buồn bã đi về. Còn Thành cứ riu ríu dắt xe theo một quãng khá xa, miệng ngậm chặt, tay run rẩy, tim đập thất nhịp, cho đến khi bóng chiếc áo dài của Minh biến sau khung cửa nhà! Chỉ mãi cho đến sau khi hết niên học, Thành mới dám bước vào nhà Minh, lúc ấy Thành đã rớt Tú Tài một lần. Hai đứa ngồi nhìn nhau, say đắm, nhưng Thành cứ ấp úng hoài mãi những lời trời mưa, trời gió.

  Rồi thời gian trôi qua, mối tình gà cứ dậm chân ở đó, chưa một lần nói yêu nhau, làm sao mà có nụ hôn nào kỷ niệm! Đến khi Thành đi lính, một hôm dẫn quân về Thủ Đô, bảo vệ an ninh Tết, Thành đóng quân ở trường tiểu học Xóm Củi. Thấy khung cảnh trường nên thơ với nhiều tàng cây cổ thụ, che phủ các lớp học rêu phong, Thành lửng thửng đi dạo một vòng trong hành lang, nhìn vào các mái đầu trẻ thơ đang cắm cúi chép bài. Tới một lớp kia, chợt Thành khựng lại, ngỡ ngàng, tim của chàng sĩ quan trẻ lại đập thất nhịp nữa. Trên một bục giảng là cô giáo Minh, vẫn chiếc áo dài tím nhạt bay bay. Lúc ấy, Minh cũng vừa nhìn thấy Thành, cô giáo đi thật nhanh ra cửa, cặp mắt to tròn xoáy vào tim Thành những luồng sóng vô hình nhưng mạnh cả tấn làm Thành lảo đảo muốn té lùi ra sau. Hai đứa nhìn  nhau một khoảng thời gian không rõ là bao lâu, rồi hỏi thăm vài sau xã giao. Sau chừng một phút im lặng, Minh nói một câu làm Thành phải lùi thật sự, tay vịn vào tường lớp học:

-Giá ngày xưa anh đừng nhát quá, thì làm chi có ngày hôm nay!

  Thành ấp úng:

-Sao vậy?

  Minh nói từng lời chậm rãi:

-Minh ... lấy... chồng... rồi!

  Thành nhắm mắt lại, lắc lắc đầu cho tỉnh cơn mê. Minh lại bồi thêm một câu nữa khiến Thành càng choáng thêm:

-Nhìn phù hiệu của anh, Minh biết là chồng Minh ở cùng đơn vị với anh đó!

  Mãi một lúc sau, Thành mới lắp bắp hỏi tên chồng Minh và sự thật làm Thành càng hốt:  chồng Minh là đàn em của Thành trong cùng đơn vị thật! Tê tái, Thành lê gót giầy bốt ra đi, biết rằng đôi mắt lửa của Minh đứng dõi theo Thành rất lâu.

  Về đơn vị, mới đầu Thành hận đời quá, định gọi chồng Minh lên, tìm cách “đì” cho cu cậu một phen, nhưng khi chồng em tới trình diện, Thành lại bối rối nói:

-Nghe nói anh có con nhỏ, mà lâu chưa thăm nhà, tôi cho anh về thăm vợ con hai ngày nhé!

 Rồi lục bàn lấy ra tờ giấy phép, ký cái cụp. Anh chàng đớ người ra, chẳng hiểu ất giáp gì, chỉ biết rung rung cầm tờ giấy rồi chào, đập gót quay ra. Thành vật người ra ghế, nhắm mắt lại, thở dài.

  Đời Thành sau đó gồm toàn những mối tình gà. Không cuộc ái tình nào để lại dấu ấn vĩ đại cả. Mãi cho tới khi cưới vợ thì tính Nhân Nghĩa của gà, nên tình vợ chồng bền hoài. Mặc dù hai vợ chồng cũng “cục te cục tác” qua lại nhiều lần, và dù anh đã gặp lại những đôi mắt bốc lửa của các mối tình gà năm xưa, nhưng Thành chỉ cười vui, vì đứa nào cũng con, cháu đầy nhà. Sang đến Mỹ, vì chuyện xếch xiếc dễ như ăn phở, nên mấy cô Mễ mập trong sở cứ liếc tình anh hoài, có cô còn chúm miệng hôn gió Thành mỗi buổi sáng vừa bước vô cửa. Thành cứ phải khép cánh “gà” lại, lờ đi cũng như anh đã từng cố gắng lờ những đuôi mắt lá răm sắc như muốn cứa đứt tim anh ra làm đôi của mấy bà, mấy cô mà anh gặp trong các sinh hoạt cộng đồng. Dĩ nhiên cũng khá vất vả, bộ cánh “gà” của anh mới khép kín lại được. 

  Năm nay vừa chẵn lục thập, ngồi trong sở, nhớ đến  Năm Tuổi, Năm “Con Gà Mắc Cúm” Thành mỉm cười, nhấc điện thoại gọi về nhà:

-Em hả! Chiều nay anh về sớm, em muốn đi chợ không? Có một cái Súp-pe mác két mới mở, chắc nhiều hàng “seo” lắm! Tự dưng anh thèm mua một con gà thật bự cho đã thèm. Tính làm tiết canh vịt nữa, nhưng sợ cúm gà, đành thôi. Em có đi mua gà Tây vói anh không?

     

      Chu Tất Tiến.



 


Số Lần Chấm:  
14

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 4,137
Nguồn:
Đăng bởi: Ngô Đồng (1/8/2006)
Người gửi: Chu T Như-Hoa