Bài Viết Văn hóa

Thôi Hiệu & Lý Bạch.

Mme Ngô

Trước hết là bài Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu.
Thôi Hiệu người Biện Châu (nay là huyện Khai Phong tỉnh Hà Nam) sống thời Thịnh Đường, năm sanh hổng rõ nhưng năm mất là 754. Thi đậu tiến sĩ thời Khai Nguyên đời Đường Huyền Tông năm 725, làm đến chức Tư Huân viên ngoại lang.
Hoàng Hạc Lâu là bài thơ nổi tiếng nhứt của Thôi Hiệu.
Lầu Hoàng Hạc ở trên ghềnh đá Hoàng Hộc tại Huyện Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc. Theo sách Tề Hài Chí thì tích nhân (tức người xưa) người cỡi hạc đi qua nơi này chính là một vị tiên tên Tử An. Rồi để kỷ niệm, dân chúng trong vùng mới dựng lên cái ‘lâu’ này và đặt tên là lầu Hoàng Hạc.

Thôi Hiệu một bữa đẹp trời, rảnh rang ở không, mới cầm quạt chắp tay sau đít đi chơi lang bang qua Hoàng Hộc, nghe chuyện rồi tức cảnh sanh tình, bèn rút bút ra mần bài thơ rồi dán lên cột trên lầu.
Tui xin phép không chép lại nguyên tác bài thơ, chỉ nhắc với ông Khách rằng bài thơ tui có trong tay hiện giờ câu 3 & 4 đọc là :
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
.
Nghĩa là : Hạc vàng một khi đã đi rồi thì không trở lợi nữa; mây trắng vẫn bay man mác ngàn năm.
Xin đừng nghĩ rằng phải có đối ngữ với chữ khứ ở câu 3 để biến tải thành tái trong câu 4. Sửa như thế là có lỗi với ông Thôi Hiệu muôn phần đó vậy.

Đã có rất nhiều bản dịch nhưng dịch hay nhứt phải là Tản Đà. Tản Đà đã dịch bài thơ thất ngôn bát cú sang thể lục bát, một thể thơ hoàn toàn VN. Cái xuất sắc của Tản Đà là bài thơ đã được giữ nguyên ý mà đọc lên nó chảy xuôi mềm mại và ... nếu không biết, người ta hẳn không ngờ rằng nó là thơ dịch.
Hạc vàng ai cỡi đi đâu
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
.

Những bản dịch khác (của Ngô tất Tố và Trần Trọng San) tuy vẫn giữ đúng nguyên thể nhưng không so được với bản dịch của Tản Đà
Người xưa cỡi hạc bay đi mất
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây
Hạc đã một đi không trở lại
Man mác muôn đời mây trắng bay
Hán Dương sông tạnh cây in thắm
Anh Vũ bờ thơm cỏ biếc đầy
Chiều tối quê nhà đâu chẳng thấy
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.

Trần Trọng San.

Tui ưng nhứt là hai câu cuối :
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Thi tứ nhạc điệu man mác êm đềm, hay và não nuột hết biết, má ơi !

Vì trong Hán văn hổng có vụ viết hoa cho danh từ riêng thế nên đã có tranh cãi chút xíu về câu cuối Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Chuyện như thế này : Gần lầu Hoàng Hạc có một khúc sông tên là Yên Ba. Thành ra rồi nếu Yên Ba là danh từ chung nó có nghĩa là khói sóng. Khói sóng trên sông khiến người buồn bã. Nhưng nếu Yên Ba là danh từ riêng thì ý câu thơ sẽ khác đi. Tranh cãi một hồi người ta mới đồng ý rằng : một thi hào cỡ Thôi Hiệu thì hổng có trò Yên Ba (viết hoa) mà phải là yên ba (viết thường). Rất có thể khúc sông nơi đó khi xưa có tên khác, rồi vì bài thơ của Thôi Hiệu nên người ta mới cải danh cho nó chăng ?

Riêng câu 1 của bài thơ tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, có chỗ chép là tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ, nghĩa là người xưa (thay vì cỡi hạc vàng thì) đã cỡi mây trắng bay đi. Viết thế cũng sai luôn nha. Phải cỡi hạc bay đi thì mới còn lầu không (hổng có hạc) chớ cỡi mây bay đi thì ắt rằng con hạc dzàng còn (và phải) đậu chình ình trên cây tùng cây bách đâu đó cho ông Thôi Hiệu ngắm đỡ buồn !


Sau đây là một giai thoại thơ văn của Hoàng hạc Lâu vào đầu thập niên 80 tại Mỹ. Năm 80 +, một nữ sĩ nổi hứng cũng a lát sô làm màn dịch thơ. Bản dịch của bà như thế này :
Người xưa cỡi hạc vàng đi mất
Để lại riêng lầu gác hạc không
Một tếch hạc vàng không trở lại
Ngàn năm mây bạc trôi mênh mông
Hán Dương cây chiếu lồng lồng nước
Anh Vũ bờ xa ngát ngát hương ....
(hai câu cuối tui quên mất rồi !)

Bài thơ vừa ra thì người ta xúm lại khen thôi là khen. Người ta nói, rằng khác với Tản Đà (dà, so sánh với Tản Đà nha) nữ sĩ đã dùng thể thơ thất ngôn bát cú nguyên bản, rằng hai chữ lồng lồngngát ngát của câu 5 và câu sáu là hai điệp ngữ đối nhau chan chát, tài quá cỡ thợ mộc, rằng bà là người phụ nữ việt đầu tiên đã dịch bài thơ này (mèn, dịch thơ bộ có liên quan tới ‘cái ấy’ nữa sao ta ơi !)

Sau đó ông TR của một tờ nguyệt san, có lẽ hổng phải vì ác ý mà chỉ vì để câu độc giả, đã cho đi một bài viết mắng mỏ kêu bằng ‘góp ý’ . Rằng người xưa trân trọng chữ nghĩa thánh hiền, trước khi đọc thơ họ phải tắm rữa thay áo quần sạch sẽ, chừng như chưa đủ, người ta còn đốt cả trầm hương cho sách vở thêm thơm tho. Tếch là một tiếng lóng có phần du côn Cầu-muối, ngay cả thường nhân trần tục có giáo dục cũng không xử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày, sao lại dám bưng nó vào thơ hả trời ! Vậy mà xúm lại khen là khen làm sao ? Thôi đi, mấy người đừng có ... đội đĩa ! (mèn ơi, tên cúng cơm của nó là cái đĩa đó nha !)


<:D>


Số Lần Chấm:  
16

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 5,929
Nguồn:
Đăng bởi: Tí Lười (9/29/2005)
Người gửi: Mme Ngô
Người sửa: TVMT;