Bài Viết Xã hội

Chuyện trò cùng Trương Vũ

Trần Văn Thủy

Trần Văn Thủy (TVT): Anh Trương Vũ, anh chị và gia đình sang đây vào năm nào và ra đi trong hoàn cảnh nào?

Trương Vũ (TV): Tôi rời Việt Nam tháng ba năm 1976. Vượt biển, đúng một tuần lễ trước khi phải trình diện học tập cải tạo. Ðiều kiện khó khăn và an toàn cho một chuyến đi như vậy vào lúc đó không cho phép tôi mang theo bất cứ một người nào khác trong gia đình. Chuyến đi gồm 5 người, do một đứa cháu, con của anh hai tôi, tổ chức, và mỗi người luân phiên nhau lái ghe. Tám ngày sau, chúng tôi đến được Phi Luật Tân. Tôi ở trong một trại tỵ nạn gần Manila được hơn bảy tháng thì được sang định cư ở Hoa Kỳ. Bằng tiền ở Mỹ gởi về, nhà tôi và các cháu sau đó cũng nhiều lần tìm cách vượt biển nhưng đều thất bại, có lúc cả nhà bị bắt và ngồi tù. Có nhiều lúc nhà tôi cho các cháu đi một mình. Cháu Ni (Linh Ðài) lúc 11 tuổi đi vào rừng với một nhóm người dự tính vượt biển, bị động ổ, mọi người chạy tán loạn. Cháu đi lạc trong rừng, một mình. May mắn, gặp một ngôi chùa hẻo lánh, cháu vào xin nước uống, nhưng theo lời dặn trước đó của gia đình cháu không nói là mình đi vượt biển. Nhà sư trụ trì không vặn hỏi, cho cháu cơm nước, để cháu ngủ lại trong chùa, sáng hôm sau dẫn cháu ra tận đường cái và giúp cháu lên xe đò về nhà. Sau đó vài năm, cháu Nô (Anh Tuấn) cũng khoảng 11 tuổi, tìm cách vượt biển, bị bắt, nhốt trên một ngọn núi ở Khánh Hòa chung với những người vượt biển khác. Chị lớn của nó, cháu Na (Thanh Tuyền), lúc đó 16 tuổi hàng tuần mang đồ ăn lên thăm nuôi, có khi ngủ lại đó với em vì thằng bé sợ ma. Khoảng ba tháng sau cháu được thả về. Sau chuyến thất bại đó, gia đình tôi không dám nghĩ đến chuyện vượt biển nữa. Ðến cuối tháng 12 năm 1985, tức gần mười năm từ ngày tôi rời Việt Nam, cả gia đình tôi, gồm má tôi, nhà tôi và năm cháu, sang Mỹ theo chương trình Ðoàn Tụ Gia Ðình. Ba tháng sau đó thì chị tôi và đứa con gái cũng sang. Trước đó khoảng nửa năm, em trai tôi vượt biển thành công và cũng sang định cư ở Mỹ. Tôi, từ một anh độc thân tại chỗ gần mười năm, bỗng có một gia đình đông đảo, gồm 11 người, cùng sống chung trong một căn nhà nhỏ tôi thuê ở quận Montgomery, ngoại ô Washington, DC. Với tôi và cả gia đình, đây là một “happy ending”.

TVT: Trước khi rời Việt Nam, anh làm gì?

TV: Tôi học Toán ở Ðại Học Sài Gòn rồi dạy Toán ở Trung Học và sau đó, ở Ðại Học Duyên Hải Nha Trang, cho tới ngày vượt biển. Tôi có phục vụ hai năm trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, từ 1968 đến 1970. Khi được biệt phái trở lại dạy học, tôi mang cấp bực thiếu úy trừ bị.

TVT: Và khi tới Mỹ, anh bươn chải ra sao để giờ đây anh có một vị trí hiếm hoi là phụ trách một nhóm các chuyên gia trong Trung Tâm Nghiên Cứu Vũ Trụ Mỹ (NASA)?

TV: Khi sang Mỹ, tôi làm công vịệc quét dọn trong một nhà kho ở Philadelphia (bang Pennsylvania) khoảng gần một năm. Sau đó, tôi được nhận vào chương trình cao học Vật Lý Hạt Nhân ở University of Pennsylvania. Sau khi tốt nghiệp Thạc Sĩ Vật Lý Hạt Nhân, tôi vào làm việc cho NASA, từ 1980 cho đến nay. Trong thời gian làm cho NASA, tôi hoàn tất chương trình Thạc Sĩ Toán, học thêm ngành kỹ sư Ðiện, tốt nghiệp Thạc Sĩ rồi Tiến Sĩ Khoa Học về kỹ sư Ðiện ứng dụng trong kỹ thuật không gian, ở George Washington University. Ở NASA, tôi làm trong nhiều lãnh vực khác nhau, lúc đầu làm vật lý gia trong một chương trình nghiên cứu về lớp ozone, và cuối cùng thì làm kỹ sư về phân tích và triển khai các kỹ thuật xác định quỹ đạo của phi thuyền.

TVT: Vậy là phi thuyền Columbia vừa bị nạn là có trách nhiệm của anh đấy. Anh có thể nói đôi điều về cụ bà thân sinh ra anh, tôi thấy bà cao tuổi mà vẫn linh lợi và minh mẫn lắm.

TV: Má tôi là một người đàn bà Việt Nam hoàn toàn, bà cụ chưa học hết lớp ba nhưng rất yêu chuyện học hành của con, chỉ biết hy sinh cho con, sau đó cho cháu và cho chắt. Hai năm trước đây, cả bốn thế hệ sống trong ngôi nhà này. Bây giờ vì công ăn việc làm phải tách ra nhưng cái bóng của má tôi vẫn còn trùm lên, đùm bọc thì đúng hơn, tất cả mọi người kể cả thế hệ thứ tư của gia đình tôi. Anh đã gặp má tôi, chắc anh cảm nhận được điều đó.

TVT: Ở Việt Nam bây giờ “tứ đại đồng đường” cũng là chuyện hiếm, ở Mỹ thì tôi chưa thấy, mà nhà của anh chị rộng đẹp, tiện nghi như thế này thì thuận tiện rồi. Chỉ tội cho chị, tôi thấy chị vất vả vì lũ trẻ quá.

TV: Bà xã tôi là người Bắc, ông cụ người Hà Nội và bà cụ người Nam Ðịnh. Lúc đầu mới sang đây bà xã tôi cũng đi làm ở các cơ quan Mỹ, nhưng khi cháu lớn sinh con thì nhà tôi quyết định ở nhà trông cháu ngoại, cho đến bây giờ. Nhà tôi đang đi theo con đường của má tôi mặc dầu được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn khác. Các con tôi lúc mới sang gặp nhiều khó khăn, như các cháu trai chẳng hạn, bỏ học từ lớp sáu ở Việt Nam, nhưng nhờ chịu khó nên cuối cùng cũng học hành đến nơi mặc dầu rất vất vả. Ða số tốt nghiệp về kỹ sư, làm việc một thời gian, trở lại trường chuyển sang học các ngành về Sức Khỏe (Health Science) như Nha hay Y Khoa. Ðời sống khá ổn định. Ba cháu gái đều đã lập gia đình và đã có con.

TVT: Tôi biết anh là người khiêm nhường. Nhưng khi ở Cali, tôi đã nghe bạn bè của anh ở đó rất khen anh chị và các cháu. Họ bảo rằng gia đình anh ở Nha Trang vất vả là thế mà bây giờ trong nhà, trai gái, dâu rể có tới 6 tiến sỹ và bác sỹ, các cháu đều thành đạt, có cuộc sống đàng hoàng, gia đình hòa thuận. Như vậy nếu tôi đặt câu hỏi: Lý do nào anh quyết định rời bỏ Việt Nam thì có thừa lắm không?

TV: Về câu hỏi của anh “lý do nào đã làm tôi quyết định rời bỏ Việt Nam”, tôi thấy khó có một câu trả lời có thể làm chính tôi hài lòng với nó. Quyết định rời bỏ quê hương mình không bao giờ là một quyết định dễ làm, và cũng không thể có một lý do chung cho tất cả mọi người. Mỗi người phải tự làm lấy quyết định đó cho chính mình, cho riêng mình. Không ai có thể nói quyết định đi hay ở là đúng cho mọi người. Tháng 3 năm 1975, tôi quyết định ở lại Nha Trang, không di tản vào Sài Gòn, mặc dầu có phương tiện và mặc dầu cả gia đình đã chuẩn bị di tản. Cái đêm 2 tháng 4. 1975, khi những chiếc xe tăng T54 của quân đội Giải Phóng tiến vào thành phố, cả thành phố im như một xác chết. Khi bà xã tôi đang nằm ngủ vụt ngồi dậy ôm mặt khóc, tôi nín lặng nhưng bắt đầu tự hỏi về cái đúng, sai của quyết định ở lại. Gần một năm sau ngày “giải phóng”, tôi hoàn toàn tin rằng ra đi là đúng. Thật ra, nó vẫn không hoàn toàn đúng cho chính tôi, vì tôi chỉ có thể đi một mình. Nhà tôi biết được tâm trạng đó, đưa má tôi và cháu út, Bảo Trâm, lúc đó mới bốn tuổi, vào Sài Gòn thăm chị tôi. Hai ngày sau, tôi nhìn thành phố Nha Trang lần cuối cùng cho đến mãi 25 năm sau mới thấy lại. Ðến nay, tôi vẫn tin rằng quyết định ở lại của riêng tôi vào 1975 có phần đúng có phần sai nhưng quyết định ra đi vào 1976 thì hoàn toàn đúng.

TVT: Anh thường nói anh buồn là cuộc chiến Việt Nam đã không thực sự chấm dứt từ 1975, anh có thể cho biết rõ hơn không?

TV: Về chuyện đánh nhau bằng súng đạn thì cuộc chiến đã thực sự chấm dứt vào 30 tháng 4 năm 1975. Vị Tổng Thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, lên cầm quyền do sự chấp thuận của Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa, đã chính thức tuyên bố đầu hàng. Theo nghĩa đó, cuộc chiến đã chấm dứt. Tôi cũng rất mừng là nó đã chấm dứt (mặc dầu đến nay tôi vẫn tin rằng tương lai có thể tốt đẹp hơn cho đất nước Việt Nam nếu Miền Nam thắng trận). Tôi biết có những bà mẹ ở Miền Nam không còn đứa con trai nào sống sót, và tôi cũng biết có rất nhiều bà mẹ như vậy ở Miền Bắc. Mọi người đều phải mừng là không còn cảnh huynh đệ tương tàn như trước 1975 nữa. Thế nhưng, những mâu thuẫn giữa người Việt với nhau, liên hệ đến cuộc chiến hay phát sinh từ cuộc chiến, vẫn còn nặng nề lắm. Cuộc chiến đã chấm dứt 28 năm rồi, mà những mâu thuẫn đó vẫn còn rõ nét, ở trên đất nước Việt Nam, ở trong các Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại, trong từng gia đình, và có thể trong mỗi con người của chúng ta.

TVT: Trước khi sang đây, tôi cứ nghĩ rằng, khi sống trên một đất nước có tự do dân chủ, với một đời sống vật chất cao, con người có thể trở nên khoan dung với nhau hơn. Chạm với thực tế, tôi thấy không hoàn toàn đúng như vậy. Tại sao lại có những hiện tượng một số người ở hải ngoại chống đối rất dữ dằn bất cứ ca sĩ nào ở trong nước ra trình diễn, dù là những ca sĩ rất trẻ sinh ra sau 1975? Tôi cũng rất buồn khi đọc một số báo chí ở hải ngoại viết thiếu chân thực cũng như rất thiếu tình người về những gì không may xảy ra ở Việt Nam. Như vụ hỏa hoạn ở khu Thương xá Tam Ða, người ta hân hoan đưa tin, buộc tội chính quyền trong nước. Nhưng vừa xảy ra một vụ hỏa hoạn khủng khiếp không kém ở The Station Night Club tại tiểu bang Rhode Island, hàng trăm người chết, cháy rụi cả một khu vực, liên quan đến trách nhiệm của nhiều quan chức, có thể phảI bồI thường hàng tỉ Mỹ kim, không thấy báo Việt ngữ nào săn đón tin này để lên án chính phủ Mỹ cả. Tôi thiết nghĩ người ta có thể ghét một chế độ, không ưa một tập thể cầm quyền, nhưng làm sao lại có thể tàn nhẫn với đồng bào mình như vậy?

TV: Tôi có phản ứng giống như anh về những hiện tượng đó. Tôi còn nhớ, gần 20 năm trước đây, vào thời gian cuộc chiến tranh ở Campuchia đang sôi động, một số báo chí hải ngoại vẫn thường loan những cái tin như “20 bộ đội Cộng Sản Việt Nam bị Khờ Me Ðỏ phục kích giết chết” như loan một tin vui vì chứng tỏ đảng Cộng Sản Việt Nam đang sa lầy ở Campuchia, không một chút xúc động nào về cái chết của những thanh niên vô tội này cùng những đau đớn mà cha mẹ, anh em, bà con của họ gánh chịu. Tôi có nói đến phản ứng của tôi trong một bài viết đăng trên Hợp Lưu. Về cái thảm kịch liên quan đến vụ hỏa hoạn tại Sài Gòn trong năm rồi, anh Lê Xuân Khoa có chuyển đến tôi một e-mail nêu bất mãn của một trí thức trẻ gốc Việt về những phản ứng thiếu nhạy cảm của một số người Việt và báo chí ở hải ngoại, chỉ nhằm đổ tội chế độ mà quên đi nỗi đau của người trong cuộc. E-mail này đã được phổ biến rộng rãi. Ðiều đáng mừng là số đông đồng bào ở hải ngoại không có những phản ứng như vậy. Anh cũng không thấy những loại phản ứng đó trên các tạp chí văn học như Văn Học, Văn, Hợp Lưu. Bảy tám năm trước đây, ở vùng Washington DC, thỉnh thoảng có những cuộc biểu tình chống đối đồng bào gởi tiền hay về thăm nhà, cho đó là “thiếu quyết tâm chống Cộng, tiếp tay nuôi dưỡng và tuyên truyền cho chế độ”. Số người biểu tình khoảng 100. Số tiền gởi về là hai tỉ USD. Số đồng bào về thăm quê hương trong năm đó là 200 ngàn, và cứ mỗi năm mỗi tăng. Trong những năm lũ lụt vừa qua, chắc anh có nghe nói đến những tiếp trợ ào ạt của người Việt ở hải ngoại gởi về cho đồng bào mình? Tôi không chắc có bao nhiêu người Việt ở hải ngoại thương yêu chế độ chính trị hiện thời tại Việt Nam, nhưng tôi tin đa số, thường là thầm lặng, thương yêu đồng bào và đất nước họ. Mặt khác, mỗi lần có các ca sĩ trong nước sang trình diễn ở Mỹ, bao giờ cũng có một số đoàn thể chính trị tổ chức biểu tình phản đối ở bên ngoài hội trường, nhưng số tham dự bên trong hội trường thường đông hơn cả chục lần, coi như không có chuyện gì xẩy ra và thường đứng dậy vỗ tay khi phần trình diễn chấm dứt. Một mặt nào đó, tôi thích có sự khác biệt trong những phản ứng, nó đem lại sự đa dạng cho đời sống, miễn là đừng dùng vũ lực hay bất cứ hình thức đe dọa nào để buộc người khác suy nghĩ giống như mình. Dầu sao thì quả thực cũng có một thực tế còn in hằn dấu ấn của những hận thù, những uất ức từ cuộc chiến huynh đệ vừa qua. Theo tôi, những hận thù, mâu thuẫn giữa anh em lẽ ra đã phải được chấm dứt ngay sau khi chiến tranh kết thúc vào 30 tháng 4. 1975. Thế nhưng, thay vào đó lại là những trại tù, mang tên là trại cải tạo. Rồi đổi tiền, rồi “kinh tế mới”, rồi ăn cơm độn trên một đất nước vốn xuất cảng lúa gạo, rồi những đối xử phân biệt, rồi cả triệu người đành phải nhào xuống biển bất kể có phải làm mồi cho cá hay hải tặc. Tôi không thấy có bao nhiêu giọt nước mắt dành cho họ. Tôi chỉ đọc được rất nhiều những trang sách báo kết án “bọn phản quốc”, “bọn từ bỏ tổ quốc”. Sau bất cứ một cuộc chiến nào, người thắng trận dễ chìa bàn tay để hòa giải hơn người bại trận. Người thắng trận, tôi muốn nói người có quyền và thắng trận, đã không làm chuyện đó mà còn làm điều ngược lại.

TVT: Anh về lại Việt Nam vào dịp nào và có những cảm nhận gì sau nhiều năm xa cách?

TV: Cách đây gần hai năm, tôi về thăm quê hương, sau 25 năm xa cách. Một anh Từ Thức về làng. Ðầy xúc động. Tôi về Sài Gòn, ra Nha Trang, ra Hà Nội. Ðời sống thoải mái hơn lúc tôi đi rất nhiều. Tuy nhiên, vẫn còn những cái không thay đổi chút nào. Bạn bè tôi ở Hà Nội rất tự tin. Bạn bè tôi ở trong Nam thì chấp nhận. Cả một loạt bạn bè giáo chức của tôi là những người đã được đào tạo rất kỹ ở trong Nam, nhiều người giỏi hơn tôi, nhưng không một ai được lên đến chức hiệu trưởng một trường trung học, dù là một trường trung học nhỏ, trừ một vài người, tuy không giỏi nhưng có thân nhân tập kết. Lúc tôi trở về, chiến tranh chấm dứt đã 26 năm rồi. Lúc đó, vào dịp kỷ niệm 30 tháng 4, đài truyền hình chiếu nhiều phim về “lính ngụy”, bọn “lính ngụy” trông thật là ác ôn! Tôi, tên “lính ngụy” 25 năm trở về, nhìn hình ảnh “mình” trên truyền hình, cười ra nước mắt. Nhưng nói chung, tôi rất mừng là tôi đã trở về. Tôi có đến cái vùng mà tôi nghĩ là hồi còn nhỏ cháu Linh Ðài đã tìm cách vượt biên để tìm lại ngôi chùa cũ và vị sư đã cứu cháu nhưng tìm không ra. Tôi không tìm được những người đi vượt biên với cháu trong loạt đó. Nhưng, tôi sẽ trở lại. Trong một buổi họp mặt với hơn 100 sinh viên cũ, tôi không ngăn được nước mắt. Học trò tôi đã dành cho tôi những tình cảm tôi không ngờ. Cái thời gian dài 25 năm hình như không có nghĩa lý gì. Gặp gỡ lại các thầy giáo và bạn bè cũ cũng thế. Chúng tôi không nói với nhau nhiều nhưng hiểu nhau và thấy thấm thía những tình nghĩa có được từ những ngày cũ. Những gặp gỡ này làm tôi tin một điều, con người Việt Nam tự thân của nó có những sức sống và cách sống khó tìm được ở đâu khác. Trở về, trong đời sống thật, giữa những con người thật, tôi bắt gặp lại mình.

TVT: Anh có lưu ý tới một điều, đó là việc hòa hợp và hòa giải mà những năm qua cả trong và ngoài nước đã quan tâm không?

TV: Người Việt không phải là loại người thù dai, không có một nền văn hóa hay những tôn giáo khích động sự thù dai. Tuy nhiên, người Việt chưa có truyền thống dân chủ lâu đời nên dễ chịu ảnh hưởng của những chính sách hay chủ trương của người cầm quyền hay các tổ chức chính trị về cách ứng xử với những tập thể con người khác. Chẳng hạn, ngày nay lãnh đạo Việt Nam không còn xem người Ðại Hàn là “bọn lính đánh thuê Phác Chính Hy” nữa mà là bạn tốt thì cách ứng xử với nhau cũng thay đổi theo, và sự thay đổi đó được chính thức công nhận và khuyến khích. Ðối với người Mỹ cũng vậy. Ngược lại, chưa có chủ trương hòa hợp hòa giải giữa người Việt với nhau do lãnh đạo Việt Nam hay các tổ chức chính trị hải ngoại có ảnh hưởng với quần chúng cổ võ. Thực tế là ở hải ngoại không có một tổ chức chính trị nào thực sự có ảnh hưởng tới đông đảo quần chúng nhưng ngoại trừ một vài nhóm như Thông Luận chẳng hạn, hầu hết đều giống nhau là không cổ võ chuyện hòa hợp hòa giải. Còn chống đối mãnh liệt là đằng khác. Lãnh đạo trong nước thì rõ ràng là chưa thực lòng hòa hợp, hòa giải. Nó chỉ nằm trên khẩu hiệu và nghị quyết. Một điều khôi hài là báo chí Việt Nam có thể đăng hình một cựu chiến binh Miền Bắc trong bộ quân phục của Quân Ðội Nhân Dân ôm một anh cựu chiến binh Mỹ trong bộ quân phục của quân đội Mỹ, nhưng không biết bao giờ chúng ta mới thấy một hình ảnh như vậy giữa một anh cựu chiến binh Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam với một anh cựu chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa? Phần còn lại bây giờ chỉ là nỗ lực hàn gắn giữa những người Việt bình thường với nhau. Thiếu hậu thuẫn chính trị, nỗ lực này khó hơn và phức tạp hơn. Tuy nhiên, nó có thể dễ hơn nhờ tình đồng bào giữa người Việt và tánh không thù dai của mình. Nó sẽ dễ hơn nữa nếu được hỗ trợ của văn học nghệ thuật. Nhà văn và nghệ sĩ có trách nhiệm lớn trong vấn đề này. Thất bại, chúng ta lãnh đủ với câu nói “nhân dân nào chính phủ đó”. Ðúng ra, chuyện hòa hợp hòa giải không nên còn là một vấn đề lớn của người Việt. Cứ đến với một con người chỉ vì cá nhân của người đó, anh có thể thương, anh có thể ghét nhưng chỉ vì cá nhân đó thôi, không vì những nhãn hiệu gán lên cho anh ta. Tốt hơn nữa, anh kính trọng sự khác biệt, khác biệt do hoàn cảnh, do giáo dục, do tôn giáo, và đặc biệt, do sự lựa chọn chính trị của cá nhân.

TVT: Trên văn đàn và trong giới cầm bút ở hải ngoại, người ta nhắc nhiều đến anh. Tôi được biết Trương Vũ chỉ là bút danh của anh. Vậy anh có thể cho hay động lực nào, nguồn cảm hứng nào đã lôi cuốn một nhà khoa học như anh sáp vào với văn chương?

TV: Trương Vũ chỉ là bút hiệu, tên thật của tôi là Trương Hồng Sơn. Hồi còn nhỏ tôi rất dốt và sợ các môn học nhân văn, đặc biệt là Việt văn. Vì sợ bị kêu lên trả bài nên thỉnh thoảng tôi chịu khó học thuộc lòng vài bài thơ nhưng sau đó thì quên ngay. Tôi chỉ bắt đầu yêu văn chương sau khi nhập ngũ. Những bài thơ mà tôi đã quên hoàn toàn bỗng nhiên trở về và lúc đó tôi mới thực sự cảm nhận được cái đẹp của thi ca. Sau này, ra hải ngoại, mặc dầu vẫn tiếp tục làm việc trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật, văn chương và hội họa luôn luôn là nơi trú ẩn an toàn và tuyệt vời cho tôi. Tôi tham dự vào các sinh hoạt văn học ở hải ngoại rất sớm. Rất thích các sáng tác văn học, nhưng khi viết tôi lại viết lý luận, có lẽ vẫn còn chịu ảnh hưởng khá nặng của toán học. Có một thời gian, tôi làm chủ bút tạp chí Ðối Thoại, nhằm tạo một diễn đàn cho trí thức Việt Nam cả trong và ngoài nước. Tôi có cộng tác với giáo sư Huỳnh Sanh Thông, làm đồng chủ biên tập san Việt học The Vietnam Review, được ba số thì tôi nghỉ vì xét không đủ khả năng và cũng không có thì giờ để theo kịp với sức làm việc phi thường của giáo sư Thông. Tôi cũng là đồng chủ biên, với Wayne Karlin và Lê Minh Khuê, tuyển tập văn chương chiến tranh The Other Side of Heaven (Phía bên kia thiên đường), do Curbstone Press xuất bản năm 1995. Tôi rất mong một ngày nào đó có thể để hết thì giờ vào chuyện viết và vẽ, sẽ sáng tác nhiều hơn là lý luận. Tôi rất thoải mái khi giao du với những bạn bè đam mê văn học và thực sự vui sướng khi lang thang trong một bảo tàng viện nghệ thuật.

TVT: Anh nghĩ gì về thế hệ trẻ ở hải ngoại? Những vấn đề của họ có giống như của thế hệ cha anh họ hay không?

TV: Thế hệ trẻ ở hải ngoại không ràng buộc với quá khứ như thế hệ cha anh. Ða số được hưởng một nền giáo dục lành mạnh, tiến bộ, với sự khuyến khích và cả sự hy sinh của cha mẹ, và sự giúp đỡ của quốc gia đã thâu nhận họ hay thâu nhận cha mẹ họ. Họ thành công và hội nhập vào xã hội mới một cách dễ dàng. Những ý niệm về tự do và dân chủ đi vào máu của họ một cách tự nhiên. Hầu hết những người trẻ này lễ phép nhưng giữ khoảng cách với các đảng phái chính trị ở hải ngoại. Họ cũng không chia sẻ được với cách sinh hoạt nhiều khi rất phản dân chủ và rất tiêu cực của một số tổ chức chính trị hay báo chí trong cộng đồng. Ðôi khi vì bực mình với những đối xử phân biệt hay những vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo ở trong nước, họ hăng hái tham dự vào các sinh hoạt đấu tranh ở hải ngoại nhưng rồi sau đó họ lại tan vào trong xã hội Mỹ. Nhiều báo chí và tổ chức đấu tranh chỉ trích sự lơ là của lớp trẻ và e ngại sự “thiếu hiểu biết chính trị” của họ dễ khiến họ “bị cộng sản dụ dỗ” nên luôn tìm mọi cách để “bảo vệ” họ. Cách “bảo vệ” này ít nhiều khiến họ càng ngày càng tránh xa cộng đồng. Có một vấn đề quan trọng tôi muốn nói đến ở đây. Ðội ngũ chuyên viên ở hải ngoại mà thành phần chính là giới trẻ rất lớn. Không biết bao giờ cả nước Việt Nam có thể sản xuất được một đội ngũ như vậy, mà đội ngũ này lại càng ngày càng lớn hơn. Nhưng, cái cách chơi chính trị rất thiển cận ở cả trong lẫn ngoài nước đang đẩy lực lượng này xa dần với mình.

TVT: Anh biết, khi tôi gặp Hoàng Khởi Phong, ông ấy có sự so sánh lý thú cộng đồng người Việt với các cộng đồng khác sinh sống trên đất Mỹ. Anh có thể có một góc nhìn khác về sự so sánh này không? Và nhất là quan hệ đến tương lai của lớp trẻ.

TV: Người Do Thái, người Nhật Bản, người Trung Quốc, người Ðại Hàn trên đất Mỹ hiện nay là người Mỹ hoặc sẽ là người Mỹ, nhưng luôn luôn có những ràng buộc tinh thần và vật chất với quốc gia gốc, dù bao nhiêu triều đại hay chế độ khác nhau đã cầm quyền trên quốc gia đó. Cái động lực chính tạo nên sự ràng buộc là cái phần văn hóa gốc của người di dân. Nó được nuôi dưỡng bởi cộng đồng hải ngoại và đặc biệt, bởi chính quốc gia gốc, ngoại trừ người Do Thái trước khi lập quốc, do tôn giáo của họ. Trong nỗ lực này vai trò các cộng đồng hải ngoại quan trọng nhưng không đủ, văn hóa của một quốc gia chỉ phát triển mạnh trên chính quốc gia đó. Người Trung Quốc khôn hơn người Việt Nam. Trung Hoa Lục Ðịa và Ðài Loan tranh nhau tạo ảnh hưởng văn hóa trên các cộng đồng người Hoa, và những nỗ lực tích cực này rất mạnh so với những nỗ lực tiêu cực. Việt Nam, trong nước, tịch thu sách vở và chối bỏ những đóng góp văn hóa của Miền Nam cũ, cố lờ đi những nỗ lực gìn giữ và phát huy văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại, ngăn chận văn hóa phẩm từ hải ngoại đi vào trong nước vì sợ “diễn biến hòa bình”. Cách ứng xử như vậy rất khó hấp dẫn giới trẻ hải ngoại vốn có tinh thần cởi mở và tôn trọng sự công bình. Ðể chống trả lại chính sách văn hóa ở trong nước đối với Miền Nam cũ và hải ngoại, các tổ chức chính trị hải ngoại dồn nhiều nỗ lực để ngăn chận những ảnh hưởng văn hóa từ trong nước, và sự ngăn chận này thường đi quá đà.

TVT: Anh nói cụ thể được không?

TV: Ðại loại như chuyện thằng bé Lam Trường ra hải ngoại hát mấy bài tình ca, cũng chống, vì sợ cộng sản tuyên truyền. Mấy đào kép cải lương đến ca vọng cổ khiến các bà má hải ngoại rớt nước mắt, cũng chống, sợ cộng sản tuyên truyền. Sự ngăn cản quá đà và vô lý thường không hữu hiệu lắm trong một đất nước tôn trọng tự do. Thế nhưng, những trò chơi chính trị tiêu cực và không hợp văn hóa như vậy của cả trong và ngoài càng làm cho giới trẻ trở nên nghi ngờ những giá trị đích thực của truyền thống văn hóa Việt Nam. Những nỗ lực tích cực và bền bỉ của một số cá nhân hay nhóm nhỏ ở hải ngoại chưa đủ sức làm cân bằng những ảnh hưởng tiêu cực này. Vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ trong nước rất quan trọng, nhưng cho tới nay, thành thực mà nói, chưa thấy những nỗ lực đáng kể phát sinh từ trong nước, ngoại trừ việc xuất bản vài cuốn sách như trường hợp tiểu thuyết dã sử Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác (được viết nhưng không được in khi anh còn ở trong nước trước khi vượt biển). Cái văn hóa Việt Nam vốn đã nghèo mà còn loại trừ nhau, không biết sẽ còn bao nhiêu dính lại trong ruột gan những đứa nhỏ Việt Nam hằng ngày không ngừng tiếp thu cái văn hóa Tây Phương từ những quốc gia đang nuôi dưỡng chúng. Những quốc gia vừa lớn, vừa khỏe, vừa giàu có, vừa phóng khoáng và tự tin. Nếu cứ tiếp tục như thế, tôi không tin cộng đồng Việt Nam hải ngoại sẽ còn giữ được cái sắc thái của riêng mình, sẽ được tôn trọng như các cộng đồng Do Thái, Trung Hoa, Nhật Bổn, Ðại Hàn...

TVT: Và như vậy, không chừng ngay từ bây giờ ta có thể nhìn thấy một tương lai xa của cộng đồng?

TV: Với cái xu thế này, tình cảnh này thì không phải là không chừng, mà chắc chắn một ngày nào đó người ta sẽ vẫn thấy những nhà khoa học, những kỹ sư, những bác sĩ, những giáo sư, v.v. mang những cái tên Nguyen, Tran, Ly, v.v. ở nước Mỹ, ở nước Pháp, Úc, Canađa... Nhưng cái gọi là cộng đồng Việt Nam sẽ chỉ còn là cái tên gọi, không có thực chất nào cả. Ðến lúc đó, tôi không tin là những thế hệ gốc Việt sẽ vẫn còn yêu thương đất nước cũ, gắn bó với bà con thân thuộc ở quê nhà đến cái độ chắt chiu tiền bạc gởi về hằng năm, mang tổng số lên hai tỉ USD như bây giờ. Ðến lúc đó, tôi không biết cái “khúc ruột ngàn dậm” của Việt Nam sẽ là cái gì.

TVT: Anh Trương Vũ, anh có muốn thêm ý kiến nào không?

TV: Tôi nghĩ là chúng ta nên giúp nhau làm “người tử tế”.

TVT: Cám ơn anh. Anh đóng góp cho việc xác định quỹ đạo những phi thuyền của NASA thế nào thì tôi không rõ, nhưng con thuyền gia đình “tứ đại đồng đường” của anh vác từ Việt Nam qua Mỹ quả là một kỳ tích. Xin chúc bà và gia đình anh chị sự an bình.

Washington DC, cuối đông 2003

Nguồn: Trần Văn Thủy, Nếu đi hết biển, Thời Văn, California 2004, tr. 133-147


Số Lần Chấm:  
0

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 2,881
Nguồn: talawas
Đăng bởi: Học Trò (4/17/2005)
Người gửi:
Người sửa: Học Trò;