Bài Viết Du lịch

Đi trong lòng quê hương mới

Vũ Thị Thiên Thư

Ba tôi, người truyền cho tôi dòng máu mê thiên nhiên, lang thang khắp chốn …

Những năm đầu trung học, khi chương trình học của các lớp đệ thất Ban Anh Văn bắt đầu bằng English For Today quyển 1, sau đó là đệ lục quyển 2, tôi nhớ không lầm thì quyển 3 học về bảy kỳ quan thế giới, trong đó có Old faithful Grand canyon,Tamajoh, Luxemburg Garden, Pyramid, Golden gate bridge, Niaraga fall và Mammoth cave.
Mamnoth Cave. Những kỳ quan thế giới, bài học thuở nào, những năm ước mơ vác ba lô theo đoàn, đi cho thấy hết những con đường quê hương yêu dấu.

Tháng chín, những ngày hè sắp qua, mùa Lễ Lao Động, mùa nghỉ lễ cuối cùng cho mùa hè, chờ một năm học mới bắt đầu. Lang thang theo nhau về miền Blue Grass [Kentucky]. Buổi sáng sương đẫm trên ngọn cây, mặt trời còn ngủ nán, chút xôn xao, chất vội hành trang, lần lượt cho vào phía sau chiếc xe. Giờ khởi hành, đóng lại cửa, cột dây an toàn, nhìn lại căn nhà nằm im lìm trong ánh sáng mờ nhạt…
Những ngọn đồi thấp cỏ xanh muợt mà nối tiếp, những con đường thẳng tắp và đoàn xe vội vã tranh nhau, nuốt từng khoảng cách, cuốn từng cơn gió bụi theo sau. Con đường nầy bao nhiêu lần qua đi, những lần tha bầy con dại lang thang theo I-65 xuôi Nam. Khoảng cách ước lượng hơn ba trăm năm mươi dặm dài, mất khoảng sáu tiếng lái xe mới có thể đến nơi.Qua thủ phủ của Indiana, sang thành phố Louisville, nổi tiếng với đội base ball Cardinal từng là vô địch.
Đến Cave City lúc trưa, vào khách sạn giữ phòng, sắp xếp hành trang, đi thăm một vòng, mang thực phẩm ra ăn uống qua loa rồi lại tiếp tục hành trình về phía Mammoth cave, cách đó mười hai dặm. Đọc nhanh và quyết định chọn các chuyến đi có hướng dẫn, chuẩn bị vào thăm.
Thời gian dành ra để hoàn tất chương trình đi thăm thạch động khổâng lồ nầy, gồm có trong hai hôm, chúng tôi chọn ra ba chuyến đi vào trong hang động, và chọn thêm chuyến tàu dọc theo dòng sông Green river, con sông nhỏ bốn mùa, nước sông luôn màu xanh lá biếc, bao quanh vùng đồi chập chùng ngõ ngách thâm sâu. Cho đến bây giờ, vẫn chưa hoàn tất công cuộc đo đạc, cũng như thống kê hết những hang sâu của vùng đất đầy hang động bí hiểm nầy.

1 The Frozen Niagara Fall
2
Từ trạm hướng dẫn, dùng xe bus đến cửa hang. Nằm khuất sau ngọn đồi xanh mượt, hiện ra khung cửa nhỏ, màu sơn xám, thật bình thường. Bên cạnh sườn đồi, tiếng chim hót thanh thanh hoà tiếng ve sầu thê thiết, vạn vậùt đồng trổi khúc nhạc triền miên bất tận, nắng xuyên qua kẻ lá, người hướng dẩn đứng lên tảng đá cao, gọi mọi người trong đoàn quay quần lại, xếp thành hình bán nguyệt trước mặt, một lần nữa anh nhắc nhở mọi người, vì sự an toàn, những tai nạn có thể sảy ra, nhất là phương tiện cấp cứu khó khăn, xin mọi người tự kiểm điểm khả năng cũng như tình trạnh sức khoẻ của mình, không nên cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nếu trong người mang những bệnh khó thở, áp xuất huyết cao, tim đập không đều, chóng mặt khi lên cao, sợ bóng tối… nói chung là nếu cảm thấy bất an thì nên huỷ bỏ chuyến đi trước khi vào sâu trong hang, khi có chuyện sảy ra thì có hối hận cũng muộn rồi.
Khung cửa vừa khép lại, đoàn người nối đuôi nhau đi, ánh sáng của những ngọn đèn mờ mờ chỉ vừa đủ soi con đường gập ghềnh. Người hướng dẩn đi trước, quanh co theo khe đá, qua một đoạn thang, xuống càng sâu càng nở rộng, bên trong vách đá mồ hôi nhơm nhớp, khí lạnh như xuyên qua lần áo khoát, nhiệt độ trong hang sâu quanh năm không thay đổi, lạnh không hơn 60F, dù bên ngoài mùa hạ đang nóng 90F, hay đông lạnh dưới 30F. Khi người hướng dẫn dừng lại, dùng đèn pin chiếu lên chung quanh vách, soi một khoảng không sâu hun hút, những tia mắt theo ánh sáng nhìn quanh, những khuôn mặt ngạc nhiên. bàng hoàng …không thể hình dung …
Căn phòng rộng rãi, trần cao thăm thẳm, khuôn viên rộng hơn nửa mẫu đất, vách đá trơn, dấu tích còn đọng lại của nước soi mòn vào đá vôi là những tảng đá chất chồng lên nhau thành những hình thể kỳ dị, càng về trong phía sâu đường hầm nở rọâng ra, hai bên chập chùng đá tảng.Đoàn người đi âm thầm, chút ánh sáng chỉ làm tăng thêm hình ảnh diệu kỳ của thiên nhiên. Một đoạn, người hướng dẩn viên dừng lại, chờ cho mọi người theo cùng, tập họp lại, giọng chậm rãi, cô kể lại lịch sử trăm năm trước đây, khi những người khai phá đầu tiên vào trong lòng động đá, bằng những dụng cụ thô sơ, ngọn đuốùc nhỏ như đom đóm, như que diêm, cho đến những ngọn đèn dầu khí, và cuối cùng là ngọn đèn pin hiện nay.Liên tục, những khám phá, thống kê, đo đạc, ghi lại chiều dài của Thạch động, hằng năm, tất cả do sức người, không dùng dụng cụ tân tiến, máy móc …, con số có khi chỉ vài dặm, cũng đã khó khăn rồi, và thật sự cho đến bây giờ, vẫn chưa có chuyên viên dùng các dụng cụ hiện đại để đo chiều dài như bất tận của hang sâu.
Cao điểm cho chuyến đi nầy, sau 500 bậc thang lên xuống là bức tranh kỳ diệu thạch nhủ như dòng thác khổng lồ Niagara, đông đặc lại trước mắt, ánh sáng của ngọn đèn soi vào màu đá tảng lạ lùng … Xanh biếc ngọc thạch, vàng cam nắng chiều, nâu hồng của phù sa thân yêu. Từ trên cao, thạch nhủ như dòng nước từ thác ngàn chảy xuống, đông đặc lại tự nghìn năm xưa, màu óng ánh dưới ngọn đèn vàng …
Chúng tôi lặng lẽ nhìn chunh quanh, mắt như dán vào khung cảnh kỳ diệu. Có trèo năm trăm bậc thang lê xuống thì cũng đáng công khó nhọc.

2 Historic tour

Con đường rộng rãi, những nấc thang xuống được đóng bằng gỗ, có thể dùng xe lăn cho người tàn tật. Quanh co một đoạn thì vào một căn phòng to, ánh sáng đèn low voltagne** dọc theo vách đá vừa đủ soi sáng, chập chờn những chiếc bóng. Dừng lại, trước mắt hàng băng gỗ xếp thành hình vòng cung, người hướng dẩn chờ mọi người an vị chung quanh rồi giải thích : đây là Historic Entrance, lối vào hang đã được tái khám phá từ những năm 1790s, khi người di dân Châu Âu mới sang định cư vùng đất đồi xanh mượt. Tình cờ lạc vào hang sâu, khám phá ra saltpeter [ chất lưu huỳnh, diêm tiêu ], dùng để chế thuốc súng. Vào những năm chiến tranh 1812, vì nhu cầu đạn dược lúc bấy giờ, các nhà kinh doanh, các chủ nhân mang nô lệ vào khai thác vùng mỏ thiên nhiên nầy, dọc theo con đường dẩn vào hang, di tích còn lại là những ống gỗ dẩn nước chạy dọc theo đường hầm vào tận trong hang .Con đường chính và căn phòng rộng nửa mẫu nầy nằm 140 feets sâu trong lòng đất.
Chúng tôi theo người hướng dẫn tiến vào trong đôc đạo, càng xuống sâu, bóng tối dần theo, những điểm dừng chân kế tiếp nhau là:
Methodist Chuch trong lòng đất : Bên trong đường hầm chính, là căn phòng rộng, trước mắt một tảng đá cao, trên trần thấp còn dấu màu xám đen, trước đây, hãy hình dung những ngọn nến chập chờn, ngài Mục Sư giảng rao lời Thiên Chúa, chunh quanh là những tín đồ ngoan ngoãn, bên ngoài là không khí ngột ngạt của ngày hè nóng bức … A! Căn phòng có máy điều hoà thiên nhiên dành cho những người con ngoan của Chúa.
Indian Artifact: Rời khỏi nhà thờ, qua Gothic Avenue, đường hầm thoai thoải, vách đá chập chùng, dừng lại, dấu vết của người Indian đã dến nơi đây là những dụng cụ thô sơ, dùng để cạo lấy chất diêm sinh từ trong vách đá, trên tảng đá cao sát trần, những chiếc giày cỏ thô sơ, những túi da chứa phẩm vật, thức ăn, nước uống …
Giant's Coffin: Căn phòng dài kế tiếp, chia ra làm hai ngã, phía bên phải nhìn lên vách, là một tảng đá lớn nằm ngang, dưới chân là những màu sắc hoa văn, đá xám lẫn lộn với vàng cam, giống như tác phẩm của bàn tay người thợ môc khéo láo chạm trổ, nhìn nguyên hình, tảng đá giống như chiếc hòm khổng lồ, tên gọi của cảø căn phòng. Phía bên trái là một đường hầm khác, sâu hun hút, bóng tối như đêm ba mươi, phía bên nầy, thông xuống dưới là con đường nhỏ dẩn vào một lòng hang sâu, chỉ thấy bóng người dần khuất theo ánh đèn sáng chập chờn.
Sidesaddle Pit: sau khi vượt qua Giant'ts coffin, và con dường nhỏ dẩn xuống, chỉ có thể đi từng người một, dừng lại một chút ở Wooden Bowl room đủ cho mọi người nhìn quanh bàng hoàng, trong lòng hang thăm thẳm nầy, nơi quanh năm ánh mặt trời không thăm viếng, tiếng tịch mịch như tiếng đập của trái tim trong lồng ngực của chính mình, tiếng thở của người bạn đồng hành âm thanh như chìm lắng. Người hướng dẩn gọi mọi người quay quần, hãy nắm lấy người thân, vì khi ánh sáng vụt tắt, sẽ không còn nhìn thấy chính bàn tay của mình. Bóng tối, trong một phút giây, như bao phủ, ngộp ngạt cả người. Khi ánh diêm loé sáng, dù chỉ là ngọn lửa mong manh, như ánh dương rực rỡ sau bóng đêm. Nhìn bóng người chunh quanh, những ánh mắt long lanh, như lẽ huyền diệu của tạo hoá, con người bỗng nhỏ nhoi, như hạt cát, như giọt sương …
Bottomless Pit: vách đá vừa đủ một người đi qua, dưới chân là hang sâu không thấy đáy, ánh sáng đèn mập mờ, bóng tối che ần hiện những hình thù đá tảng, dựng lên nhau như thách đố thời gian.
Fat man's Missery: con đường nhỏ từng người qua trước đây trở thành con đường mòn dạo mát, đúng như tên gọi, người mập thật là khốn khổ, có vào con đường nầy mới thấy sức mạnh của dòng sông nước ngầm, cấu tạo của cả vùng hang động chằng chịt như trận đồ, biến hoá kỳ diệu, con đường chỉ có thể nghiêng tấm thân trăm cân anh của người nhỏ con để lách qua. Ngoằn ngheò như ruột gà, quanh quẩn như không lối thoát, tưởng là đã qua, thì lại nhìn vào khung trần thấp, chỉ có cách khom người nửa chui nửa lần để tiếp tục, nếu không muốn vĩnh viễn làm bạn cùng đá tảng.
Great Relief hall: tầng thứ ba trong lòng hang, 280 feet dưới lòng đất, nơi dừng chân sau đoạn đường chiến binh vừa qua, là phần thưởng tuyệt vời, không vượt giao thông hào, không phải bò hoả lực, không thể hình dung được, những ngạc nhiên tiếp nối, sau mỗi đoạn, tưởng đã đến điểm cuối, nhưng không ngờ lại còn những đợi chờ khác trước mặt.
Nghỉ chân cho mọi người lấy lại hơi thở bình thường, người hướng đạo kể về những sinh vật sống trong lòng han. Dơi là loài sống về đêm, có thể sinh sống trong hang bên cạnh những côn trùng khác như cuốn chiếu, châu chấu trắng …vì quanh năm không có ánh mặt trời, những sinh vật bé nhỏ nầy gần như trong suốt, loài cá tôm sống trong lòng hang, theo con sông ngầm, không có mắt, các nhà bảo vệ đang cố gắng thống kê và duy trì chúng lại vì đã gần tuyệt giống.
Thưc vật trong hang cũng hiếm hoi, vì không có ánh mặt trời cho nên ngay cả các thực vật cũng không tồn tại. Nhưng do bàn tay con người, ngọn đèn Néon chiếu vào vách đá, ánh sáng đủ cho rong rêu sinh trưởng, những nơi có ánh đèn, trên mặt đá mọc những chấm mịn như tơ màu xanh lá trộn lẫn màu xanh ngọc trông rất lạ, tuy nhiên để bảo ồn thiên nhiên, trong điều kiện hiện nay, những ngọn Néon đang đựoc thay thế bằng bóng đèn Low wattage Incandessen, các nhóm rêu mọc bám theo vách đá được chùi lau sạch sẽ.

3 Violet city lantern tour

Nắng buổi chiều long lanh, đoàn người tập trung lại dưới hàng cây xanh, anh hướng dẫn trong bộ đồng phục Ranger màu ka ki vàng tuổi trung niên, đứng nhìn quanh một lượt, anh chậm rãi đếm số người, trước mặt anh là mười sáu ngọn đèn bão, anh chậm rãi đọc lời cảnh cáo, một lần nữa nhắc nhở mọi người, vì phương tiện cấp cứu cũng như con đường trắc trở trong hang, yêu cầu mọi người nên lượng sức khoẻ, không nên vì bất cứ lý do nào mà tham dự chuyến đi không cần thiết.. Nhất là không nên vì tự ái và sợ mọi người cười chê vì đã bỏ cuộc. Sau khi đã lượt qua, nhấn mạnh lại, anh hỏi thêm một lần nữa trước khi khởi hành …
Đoàn người rồng rắn theo sau, con dốc nhỏ, hai hàng cây xanh mượt, tiếng lá reo rì rào. Khe nước mùa nầy cạn khô, hai bên bờ mọc đầy cỏ dại. Dừng lại bên bờ xi măng trước cửa hang, tiếng nước chảy từ trên cao hoà cùng tiếng ve cuối mùa thê thiết.Một lần nũa đứng trước miệng hang, anh hướng dẫn gọi lần cuối cùng, khi mọi người xác nhận là sẳn sàng, anh ra hiệu cho người phụ tá, anh nầy lặng lẽ đến chờù mọi người đi qua kiểm điểm nhân số và soát vé. Đoàn người trực chỉ vào độc đạo. Aùnh đèn bão lung linh, Cùng con đường chính từ ngày hôm qua vào theo Historic tour, những ngọn đèn điện nhỏ soi sáng con đường nhân tạo dẩn vào lonøg hang. Khi qua khỏi căn phòng đầu tiên, nơi hầm mỏ cũ, ánh điện không còn soi sáng, từ bây giờ chỉ còn lại ánh sáng của ngọn đèn bão theo bước chân. Bóng đoàn người chập chờn nhảy múa in vào vách đá.
Dừng lại dưới chân tảng đá dùng làm Altar cho Methodist Chuch ngày xưa, anh nhắc lại lịch sữ, dấu chân người đầu tiên đã đặt vào vùng hang động nầy, gồm có ba hang dài là Joppa Ridge, Mammoth caver ridge, và Flint ridge, những đồ vật nhặt được trong hang, các nhà khảo cổ nghiên cứu, xác định tuổi, đoán rằng có ít nhất là 2500 năm trước Thiên Chúa, nơi nầy đã in dấu chân nhân loại. Đến năm 1798 thì tên người chủ đầu tiên ghi trong sổ bộ của quận Bowling Green là Valentine Simons
Nhưng mãi đến 1841, khi người nô lệ Stephen Bishop, chuyên huớng dẫn du khách vào thăm viếng hang tìm ra Snowball Room, năm trước đó thì Bishop đã khám phá ra Echo river và Mammoth dome. Anh được trả tự do năm 1856, và mất một năm sau nữa. Suốt cuộc đời anh gắn liền với Thạch động nầy, cho đến khi qua đời hưởng thọ ba mươi sáu năm
1917 Floyd Collins tìm ra Crytal cave trong Flint Ridge, trớ trêu thay, chính ông lại mất đi vì bị chôn trong hang cát [Sand Cave]. Khi ông vào, hang sụp, mọi cố gắng giải cứu đều thất bại, ông mất sau mười bảy ngày.
Đến 1926 thì president Calvin Coolidge chính thức nhìn nhận diện tích của Mammoth cave Naional park là 20,000 acres đất đai bao bọc. Và cho đến tháng bảy năm 1941 thì trở thành National Park, nhung chưa kịp tổ chức ngày lễ chính thức thì cuộc chiến tranh thế giơiù thứ nhì bùng nổ, phải chờ đến tháng chín năm 1946 thì mới được tổng thống Franklin D. Roosevelt cử hành.
Đến năm 1972, sau khi tìm ra được con dường ăn thông giữ hai động Flint Ridge và Mammoth thì hệ thống hai thạch động trở thành Hang dài nhất thế giới, chiều dài 144,4 dặm Anh đã được đo lai.

Bệnh viện trong lòng hang.
1839 Bác sĩ John Croghan sau khi đi chu du khắp Âu Châu nghiên cứu, trở về nước, Ông đến thăm Mammoth cave, và nảy ra ý định khai thác vùng đất nầy, ông mua lại từ Franlin Gorin với giá 10,000 đô la, ông cho xây cất khách sạn, tổ chức hướng dẫn du khách đến thăm viếng hang. Khách sạn nầy là nơi đón tiếp du khách trên thế giới cho đến 1916, bị hoả hoạn thiêu rụi. John Croghan hành nghề y sĩ từ năm 1814, ông muốn thử nghiệm cách trị bệnh lao phổi, nghĩ đến thời tiết và hơi ẩm trong hang có thể giúp người mang bệnh lao. Oâng cho xây những căn phòng đá gỗ trong lòng hang, và kêu gọi sự tham gia của các bệnh nhân, có đến 15 người tình nguyện vào cuộc thí nghiệm nầy.Nhưng kết quả không như ý ông mong muốn, vì không chịu nổi khí lạnh trong hang, các bệnh nhân chết dần mòn, một số được chôn cất trong khu nghĩa trang Old Guide's Cemetery gần miệng hang.Trớ trêu thay, vị bác sĩ nầy cũng chính là người bị lây và chết về căn bệnh nguy hiểm nầy năm 1849.

Bầu trời đầy ánh sao.
Ngọn đèn bão lung linh, soi từng bước chân theo nhau, bụi cát dưới chân di chuyển nhẹ nhàng, dấu tích của những căn phòng nằm dọc theo đường mòn, nghĩ đến bệnh nhân sắp từ giã cõi đời, nằm yên trong bóng tối, khuôn mặt xanh mướt vì ngày tháng không có ánh mặt trời, đôi hố mắt vô vọng nhìn thẳng vào khoảng không, bầy vi trùng đục phá hai lá phổi rách mướp, rạc rài từng hơi thở, trong nổi đau đớn vô cùng.Người y tá vào thăm, câu hỏi han hàng ngày, bàn tay ấm áp sinh khí chuyền chút sức sống vào cái xác lờ đờ sống dỡ, dù chỉ còn phút giây, nhưng vẫn là ánh sáng, nhìn lên trần cao, những đốm sáng từ chất diêm sinh lập loè, trông như bầu trời của đêm đầy sao, nằm yên lặng trong cái ảo giác được bay cao theo những vì sao xa tắp. Dù sự sống có mòn đi, cái chết bình an sẽ hiển hiện.
Ngước nhìn theo ánh đèn chập chờn, vào khoảng không tối đen, những giọt mồ hôi đá lân tinh lấp lánh, tôi thấy sự bình an nhiệm mầu.
Rời căn phòng chứa bầu trời đầy sao, trước mặt đèo dốc cao quanh co, khi trèo lên trên lưng chừng, nhìn lại phía sau, con đường hoa đăng lấp lánh. Có những đoạn chỉ bước theo chân nhau, vì qua khúc quanh thì không còn ánh đèn để nhìn thấy ổ gà lổm chổm. Người hướng dẩn dừng lại, ảo giác hay chính tai tôi nghe tiếng nước chảy đâu đây, ánh sáng hai ngọn đèn pin chợt bùng lên rực rỡ, soi tia nước từ trên cao chảy dài xuống phản chiếu như lưu ly, những ánh mắt long lanh nhìn lại nhau, ngôn từ bay biến, thật là diệu kỳ, dòng nước như con thác nhỏ, quanh năm suốt tháng bất tận, vì đang là mùa khô nên chỉ giống như sợi dây lụa thả xuống từ trời cao, màu huyền hoặc, lấp lánh như đang say mê vũ khúc của Cung Hằng, sang mùa mưa dòng nước nhỏ hiền hoà hay trở thành cuồng lưu thác lũ tuỳ theo lượng mưa ít nhiều đổ xuống từ trời cao.

Phiến đá tử
Theo tay chỉ của người hướng dẩn, nhìn lên mõm đá đứng chơ vơ, nghêng mình như làm dáng cùng vạn vật bình yên, im lìm, thật ra đây là nơi tìm được một xác người, nhiệt độ, cùng điều kiện khô ráo trong hang như chất ướp xác thiên nhiên và giữ cho xác chết hãy còn nguyên vẹn đến khi tìm được.Người thổ dân xấu số nầy chết dần mòn trong bóng tối, anh còn đủ dụng cụ để cạo lấy chất diêm sinh trong đá, tuổi trạc trung niên, anh mang theo túi da, thực phẩm, nước uống, có lẽ anh vào hang và làm việc một mình, vì khi tảng đá long ra lăn xuống và kẹp chặt anh trên vách, bêân anh anh còn cả ngọn đuốc dầu chai, ánh sáng tắt lịm dần, mang theo sự sống mòn mõi, anh chết âm thầm và nằm nguyên vẹn cho đến khi tìm được. Năm í976 {?}đạo luật cấm chưng bày di thể con người ban hành, xem như xúc phạm đến người chết, thì thi thể anh được dời đi (Có thể trả về cho Bộ lạc hay chôn cât tử tế?)
Căn phòng rộng chừng ba mẫu, nơi dừng chân trước khi đoàn người leo lên con dốc cuối cùng. Từ trên góc đá nhìn lại những khuôn mặt, dưới ánh đèn dầu lung linh, người hướng dẩn nhắc lại, hơn hai trăm năm trước đây, những người khai phá, cùng những du khách đã đi qua con đường hầm nầy, đứng trước vách đá nầy, nhìn quanh, bàng hoàng trước sự hình thành kỳ diệu của thiên nhiên, nghỉ chân, và cuối cùng thì quay lại con đường đã đi qua, trở lên mặt đất, nhìn lại khung trời mây bát ngát, vùng đồi cây lá xanh mượt với những trũng sâu khắp nơi do dòng nước soi mòn, trăm năm sau, những trũng sâu thành hang động, và khám phá không ngừng của con người.
Lời cầu chúc cuối cùng của người hướng dẫn, nhìn lại nơi vừa đi qua, con dốc ba mươi nấc thang không đều dẩn dắt đoàn người về lại trời xanh. Khung cửa nhỏ mở ra, nắng chiều lấp lánh sau cành lá, ba chiếc xe bus đang nằm chờ, đoạn đường ngắn trổ ra sườn đồi là con đường nhân tạo, khai phá thêm sau nầy…Violet city, thành phố tím trong lòng chúng tôi như đoá hoa man mác.

Vũ Thị Thiên Thư



Số Lần Chấm:  
4

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 2,742
Nguồn: www.phunuviet.org
Đăng bởi: Phượng Các (1/29/2005)
Người gửi:
Người sửa: TVMT;