Bài Viết Văn hóa

Gửi Lòng về với quê hương

Nguyễn Trần Diệu Hương

Bài số 562-1100 VB7120604

Tác giả Nguyễn Trần Diệu Hương vừa từ San Jose gửi bài viết mới này với lời ghi chú “viết để gửi lòng về với quê hương”. Bài viết sau đây của cô có thể làm người đọc nhớ một bài viết đã phổ biến mới đây có tựa đề “Nói Với Việt Kiều”, được viết bởi tác giả Chung Mốc hiện sống trong nước.
*

(Xin phép bắt chước cụ Nguyễn Du trong cách đặt tựa, để người đọc hiểu là bài này được viết với tâm trạng “chữ tâm còn một chút này” và với nguyên tắc “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”).

Bà cô tôi ở Paris, vốn là một nhà giáo rất để ý chữ dùng và cách hành văn, mỗi lần nói chuyện với tôi qua điện thoại đều nhắc nhở:

- Mỗi lần viết lách thì nhớ đừng chêm tiếng Mỹ vào bài viết tiếng Việt, nghe “nửa nạc nửa mỡ” đôi khi làm người đọc khó chịu.

Tôi im lặng nhận khuyết điểm của mình và cố nhủ lòng không chêm tiếng Anh vào tiếng Việt, nhưng rồi “đâu lại vào đấy”, vẫn có bóng dáng tiếng Mỹ trong những bài viết chỉ dành cho độc giả người Việt Nam. Viết thuần tiếng Việt cũng khó, viết thuần tiếng Mỹ cũng khó. Thành thật mà nói, viết bằng tiếng Việt chêm tiếng Mỹ là dễ nhất. Như lời chị Anh Thư, một người bạn vẫn than thở:

- Chết rồi, tụi mình ngày càng hỏng, sau gần hai mươi năm sống ở Mỹ, tiếng Mỹ đến độ bão hòa, không giỏi thêm được chút nào, mà tiếng Việt ngày càng dở.

Về chuyện nói, nhiều khi ngồi tự phân tích, thời gian chúng tôi xử dụng tiếng Mỹ mỗi ngày nhiều hơn thời gian xử dụng tiếng Việt ít nhất là hai lần. Rồi những show tivi Mỹ prim time đầy hấp dẫn cuốn hút chúng tôi, và cách dùng chữ từ academic trong những chương trình bình luận đến những “slang word” trong những show giải trí, tất cả đóng thành từng lớp cao dần, bất di bất dịch trong vốn ngôn ngữ của những người Việt lưu vong, mà thời gian sống ở quê người dài hơn thời gian sống ở quê nhà.

Về chuyện viết, tôi không phải là một người viết chuyên nghiệp nên những bài viết bằng tiếng Việt thường được viết tản mạn đâu đó trong giờ chờ một cuộc họp ở sở với toàn anh ngữ chung quanh, thời gian quá ngắn không đủ để làm xong một công việc nào hết, tôi lôi bài viết dở dang ra viết, vừa thư giãn đầu óc, vừa rút ngắn thời gian hoàn thành một project tinh thần, một thú giải trí rất là “tao nhân mặc khách” của riêng mình. Thời gian cũng không có nhiều, phải ngồi để nhớ ra những từ tiếng Việt chính xác thì chắc là cả năm mới xong được bài viết. Và cảm hứng cũng đã “rong chơi cuối trời phiêu lãng” bài viết không hề có được bóng dáng của chữ “tâm”.

Cho nên những bài viết tiếng Việt không còn thuần chủng về ngôn ngữ như cái đất nước tạp chủng đã nuôi dạy chúng tôi thành người hữu dụng cho cả hai Tổ quốc.

Trong đối thoại hàng ngày với đồng hương ở Mỹ, tỷ lệ giữa tiếng Mỹ và tiếng Việt cao hay thấp còn tùy người đối diện. Nói chuyện với bạn bè cùng lứa thì như cá bơi lội trong sông, hồ, tha hồ bơi lội đủ kiểu, thời gian gặp nhau không nhiều, thời gian hàn huyên càng ít hơn, mà không chêm tiếng Mỹ vào thì cả hai bên đều không cảm thấy thoải mái, và tự dưng bị “cà lăm” một cách không cần thiết, vô tội vạ. Nhưng khi nói chuyện với những người cao tuổi, chúng tôi đều phải “uốn lưỡi bảy lần” để giữ được tiếng Việt hoàn toàn vừa để tỏ lòng kính trọng, vừa để khỏi bị quở trách.

Nguyên tắc này cũng được áp dụng mỗi khi về thăm quê nhà (Thật sự chỉ còn là quê nhà trong ký ức và trong nếp nghĩ) chúng tôi tự dưng ít nói và nói chậm hơn để cố giữ được tiếng Việt hoàn toàn và không có một khoảng cách giữa Việt kiều và đồng bào trong nước. Khoảng cách đó, buồn thay ngày càng lớn dần vì nhiều nguyên nhân chứ không phải chỉ vì mỗi tội “Việt kiều hay chêm ngoại ngữ vào tiếng Việt”.

Chẳng hạn khi bạn bè ở quê nhà hỏi:
- Công việc bên đó bây giờ ra sao?

Bèn trả lời rất vô thưởng, vô phạt, mục đích là để khoảng cách giữa mình và bạn càng nhỏ càng tốt:
- Vẫn thường, vẫn đi làm thuê cho người Mỹ để trả nợ cơm áo. Có điều may mắn là người đi làm thuê ở Mỹ được tôn trọng và có đầy đủ tự do.

Bạn lại hỏi:
- Học hành tới đâu rồi, đã có đủ cử nhân, tiến sĩ chưa?

Lại đáp rất khiêm nhường:
- Chỉ học đủ để khỏi bị ai ăn hiếp, để người bản xứ kính trọng mình và đủ để giải thích tại sao mình phải sống lưu vong. Ước gì được học mãi không ngừng, nhưng còn “nợ áo cơm” phải trả. Đến một tuổi nào, buồn thay “nợ áo cơm” nặng hơn “nợ sách đèn” nhiều!

Khi bạn đưa đi thăm những trại cùi, hay những viện mồ côi theo yêu cầu, chúng tôi vẫn cố giữ mình chìm vào dòng sông của quê nhà, từ cái áo trắng đã cũ để chống lại cái nóng của miền nhiệt đới ngày càng tăng cao với môi trường đầy ô nhiễm, đến cái nón lá rộng vành vừa để bảo vệ làn da đã quen với trời lại từ lâu, vừa để nhớ lại thời trung học có nón lá lủng lẳng trên tay cầm của xe đạp, lại vừa để che dấu những giọt nước mắt rơi ra khi so sánh quê nhà với quê hương thứ hai của mình. Hoàn toàn không có chuyện phô trương áo quần, bởi vì bài học của anh chàng khoe đồng hồ với người bạn mù của mình từ “tâm hồn cao thượng” với bản dịch của nhà văn Hà Mai Anh vẫn còn trong tâm tưởng. Vả chăng, ngày xưa còn ở trong nước, chúng tôi cũng đã từng nhận quà của Việt Kiều nên hiểu mặc cảm của những người phải nhận ân huệ. Hạnh phúc của người cho luôn luôn lớn hơn hạnh phúc của người nhận.

Đi ngoài đường, vẫn giữ thói quen ở Mỹ, lúc nào cũng có chai nước uống nửa lít cận kề từ trên xe, trong văn phòng làm việc, trong một cuộc họp, ở thư viện, trong lúc đi mua sắm, hay ngay cả trong phòng ngủ, chai nước rất quen thuộc được mang theo khi di chuyển ở Việt Nam. Không ngờ, đó là một cách để người trong nước nhận ra là Việt Kiều. Để hòa vào đám đông, chắc là lần tới nếu có về thăm quê nhà không dám mang chai nước theo mình khi đi đường.

Nếu ai đó đã trách Việt kiều nói chung bằng hình ảnh của những anh chàng “áo gấm về làng” hưởng thụ và “trả thù dân tộc” (chic) trên thân xác của những cô gái Việt Nam mà xã hội đã đẩy họ vào cảnh “lầu xanh” (may quá những nhân vật “áo gấm về làng” không đại diện và là một tỷ lệ nhỏ trong gần hai triệu Việt kiều ở Mỹ) thì cũng xin đừng quên cả tỉ đôla Việt Kiều ở khắp nơi trên thế giới nhất là Việt kiều từ Mỹ đã gởi về để giúp đỡ quê hương, nhất là mỗi khi quê nhà chìm trong thiên tai, khốn khổ.

Mong đồng bào ở trong nước biết rằng ở Mỹ, những người có lòng, có tâm vẫn tằn tiện từng một phần tư dollar trên coupon mỗi lần đi chợ, phải tự hãm bớt lòng ham muốn của mình trước những shopping đầy ngập hàng hóa, trước những kiểu xe đời mới đầy tiện nghi hay những chuyến Âu du đầy hấp dẫn để dành tiền gởi về “bên nhà” giúp người không may. Hay có những kỷ sư Việt Nam mỗi tuần đều để ra một thời gian nhất định để tạo ra những website thiện nguyện, kêu gọi lòng hảo tâm của đồng hương và của cả người bản xứ gởi tiền và gởi cả lòng về với quê hương.

Ở đâu quen đó, ông bà ngày xưa có câu “Quen việc nhà má, lạ việc nhà chồng” để chỉ những cô dâu mới về nhà chồng còn lóng cóng chuyện bếp núc, nội trợ. Năm tháng trôi qua, lâu lâu về thăm nhà cha mẹ ruột, người con gái ngày xưa lại bỡ ngỡ với nếp nhà thời son trẻ của mình vì bà chị dâu đã sắp đặt theo một trình tự khác. Việt kiều như cô gái của câu tục ngữ kể trên, ở càng lâu ở quê hương thứ hai càng bám rễ, nhiều cử chỉ, lời nói mặc dù cố giữ ý tứ vẫn làm đồng bào bên nhà không hài lòng. Nhưng không ai trách ai, bởi vì ai cũng hiểu là cùng là cá, nhưng cá biển và cá sông khác nhau rất nhiều.

Người Mỹ gốc Việt như người Mỹ bản xứ không có thói quen hôn lên má khi gặp nhau như người Pháp gốc Việt. Có lần một người bạn phái nam cùng trường tiểu học ngày xưa từ Pháp đến thăm, hiểu tập quán của người Pháp khi thấy xe bạn đậu ở drive way tôi chạy ra chào bạn, một tay đưa ra bắt tay bạn, tay kia đưa ra như là một lá chắn bảo vệ mình và cười nửa đùa nửa thật:
- Welcome to America. Còn nhớ “tui đây” không? “tui đây” chứ không phải “tây đui”.

Thấy bạn xưa ngẩn mặt chưa hiểu ra, sợ bạn phật lòng bèn tiếp luôn:
- “Khoan khoan ngồi đó chớ ra, chàng là nam tử, ta là nữ nhi” (xin cụ Nguyễn Đình Chiểu tha thứ cho kẻ hậu sinh) còn nhớ “Lục Vân Tiên” mình học hồi nhỏ không?

Vậy đó, không phải chỉ có đồng bào trong nước không thoải mái về phong cách của người Pháp ngay cả người Mỹ cũng thấy hình như mình đang bị “sexual harrassement” khi được chào hỏi theo cách của người Pháp. “Nhà má” và “nhà chồng” hồi xưa, nhiều khi chỉ cách nhau một lũy tre làng mà đã khác xa, thì phong tục của Mỹ Châu, Âu Châu và Á Châu ngăn trở bằng cả một đại dương, lại càng “nghìn trùng xa cách”. Xin hiểu điều đó và xin hiểu nhau để không ai trách ai, không ai làm ai buồn lòng.

Đời sống vốn ngắn ngủi, đời sống ở những nước kỹ nghệ như Mỹ lại càng ngắn ngủi hơn, vậy mà người Mỹ gốc Việt vẫn dành thì giờ eo hẹp của mình để dạy thế hệ thứ hai hay như đồng bào trong nước vẫn gọi là “Việt kiều con” hiểu là đất nước cội nguồn của mình vẫn còn lạc hậu, đồng bào mình vẫn còn vất vả, khốn khó lắm các em phải biết cần kiệm. Cho nên, có những em học sinh Mỹ gốc Việt trong giờ ăn trưa ở trường em vét sạch thức ăn, cái đĩa giấy nhẵn bóng đứa bạn Mỹ bên cạnh tỏ lòng quan tâm:
- Mày còn đói hả? Có muốn ăn thêm không? Tao còn potato chip trong cặp.

Em cười ngây thơ, trả lời rất đúng bài bản ba mẹ dạy ở nhà:
- Không tao no rồi, nhưng ba mẹ tao dặn là trên thế giới ở đâu đó, ngoài nước Mỹ nhiều người còn đói lắm mình phải biết tiết kiệm thức ăn và cũng để tỏ lòng thông cảm với những người trồng làm ra thực phẩm.

Nếu may mắn người bạn bản xứ cũng tôn trọng và quý em nhỏ Việt Nam, bắt chước làm theo em, từ đó em học sinh Mỹ không hiểu có biết được nỗi vất vả “một nắng hai sương” của nhà nông không, nhưng cũng vét sạch đĩa thức ăn mỗi lần dùng bữa.

Còn hơn thế nữa, có những em bé Việt Nam sinh ra ở Mỹ, chỉ được nhìn thoáng quê hương trong hai tuần vacation ngắn ngủi của bố mẹ, vậy mà khi sang Mỹ trong một bài luận ở trường với đề tài lớn nên em sẽ chọn nghề gì? Em đã bày tỏ lòng mình với quê cha đất tổ rất dễ thương, rất mộc mạc. “Em muốn học để trở thành một kiến trúc sư để vẽ và xây nhà cho dân quê ở Việt Nam, họ không có nhà tắm có toilet đàng hoàng tiện nghi như ở Mỹ. Em thương họ và muốn giúp họ khi em lớn lên”.

Còn nhớ năm 1975 những người Hà Nội vào thăm miền Nam, tiếng Hà Nội của họ đã khác xa với tiếng Hà Nội của những người dân thủ đô ngàn năm văn vật di cư vào Nam năm 1954. và mãi cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn còn phân biệt được tiếng Hà Nội của năm 1975, và tiếng Hà Nội của năm 1954. Chỉ hai mươi mốt năm sau, tiếng nói của những người dân sinh ra và lớn lên ở cùng một thành phố vẫn ở trong cùng một đất nước, có những âm hưởng khác nhau, thì không ai có thể mong đợi tiếng nói của những người Mỹ gốc Việt đã xa quê hương gần ba mươi năm còn nguyên âm hưởng Việt Nam không pha trộn ngoại ngữ. Xin đừng đánh giá ngôn ngữ Việt Nam lưu vong với cái nhìn của một bà mẹ chồng nghiệt ngã.

Điều quan trọng nhất là mỗi tấm lòng Mỹ gốc Việt vẫn quặên thắt, mỗi trái tim Việt Nam lưu vong vẫn nhói lên với từng bất hạnh đến từ mọi phía của quê nhà.

Xin được phép mượn lời của nhà thơ Phan Văn Trị trong bài họa với Tôn Thọ Trường ngày xưa “Ai về nhắn với Chu Công Cẩn/ Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng” để trả lời với những ai vẫn còn trách cứ, những ai vẫn còn buồân lòng vì “nó sống ở ngoại quốc một thời gian bây giờ thay đổi nhiều quá”.

Và xin ai đó vẫn lưu tâm đến một ngày mai tươi sáng hơn của đất nước, chất xám Việt Nam gặp đúng môi trường đã đang và sẽ cho rất nhiều hoa thơm quá ngọt, mặc dù chưa thể quay về phục vụ cố quốc, vẫn đã gởi nhiều hương hoa về cho quê cha đất tổ.

Nguyễn Trần Diệu Hương
để “gởi lòng về với quê hương”.


Số Lần Chấm:  
24

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,010
Nguồn: Việt Báo
Đăng bởi: Nhật Huy (6/19/2004)
Người gửi: Lê Nguyễn Hiệp
Người sửa: TVMT;